419. Lăng và đền thờ Thuỷ tổ Kinh Dương Vương

Lăng và đền thờ Thủy tổ Kinh Dương Vương

“Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba”… Câu nói truyền miệng ấy từ ngàn xưa, luôn nhắc nhở người đời sống thủy chung sau trước, phải biết cây có gốc, nước có nguồn, đạo lý ấy trở thành lẽ sống sâu đậm trong mỗi người, vì thế ròng rã suốt ba tháng xuân, từ khắp nẻo đường Tổ quốc, người người lần lượt hành hương về đất tổ Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ), thăm viếng các vua Hùng có công dựng nước. Đáng tiếc, có lẽ chưa rõ địa danh lăng Kinh Dương Vương nên rất ít người về thăm viếng, thắp nén hương trầm tưởng nhớ vị thủy tổ người Việt.

Từ thành phố Bắc Ninh ( trước là thị xã Bắc Ninh) xuôi đường 38 đến Cầu  Hồ (trước là phà Hồ) khoảng 12km, đến ngã tư Song Hồ khoảng 500m, rẽ phải dọc theo đê sông Đuống chừng 5km đến thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành nơi có lăng mộ Kinh Dương Vương và đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân – Âu Cơ được xây dựng từ lâu đời và được tu bổ lập bia năm Minh Mệnh thứ 21(1840).

Khu lăng Kinh Dương Vương nằm ở ngoài đê, cách dòng Đuống ngày nay khoảng 500m. Lăng xưa, rợp bóng đại thụ, tạo cảnh quan tĩnh mịch, uy nghiêm. Thời thuộc Pháp khu lăng bị tàn phá trơ trụi, mãi đến năm 1971, nhân dân thôn Á Lữ mới có điều kiện quy hoạch và tôn tạo khang trang, thoáng mát mà vẫn đậm đặc dấu ấn của kiến trúc cổ.

Lăng có 8 mái “hai tầng mái”, trước cửa lăng mộ có 3 bệ thờ, trên đường vào về phía tay phải khu lăng mộ có ngôi nhà để du khách sắp lễ… toàn bộ diện tích khu lăng mộ khoảng 4200 m2. Nghi trượng khu lăng mộ gồm: Tấm bia đá xanh cao 1,05m, rộng 0,45m, mang dòng chữ “Kinh Dương Vương lăng” bia khắc năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) tháng 11, ngày 16 dựng xong lăng; trước lăng có đại tự “Nam bang thủy tổ” và câu đối “Việt nam sơ đầu xuất – Hồng bàng vạn đại xương” và “Lập thạnh kỷ công nam thánh tổ, Phong thần tổ tích bắc thần tôn”, cùng một số bát hương sành, sứ cỡ lớn hoa văn cổ kính…

Kinh Dương Vương được nhân dân Á Lữ tôn thờ ở đình làng (đình bị Pháp phá năm 1949), đền trong thờ Lạc Long Quân, đền ngoài thờ Âu Cơ (hai đền đều bị Pháp phá năm 1949). Năm 1959 nhân dân Á Lữ rước ba vị về thờ ở khu văn chỉ (nơi thờ hiện nay). Đền hiện nay gồm ba gian xây cất kiểu chữ công, nhà ngoài (tiền tế) gồm 5 gian, đủ để lập các ban thờ và tiếp đón du khách thăm viếng, có tường gạch bao quanh để bảo vệ, diện tích khu đền khoảng 2347 m2.

Ba gian trong – gian giữa có long ngai sơn son thếp vàng đặt trên bệ thờ Kinh Dương Vương, gian bên trái có ngai đặt trên bệ thờ Âu Cơ, gian bên phải có ngai đặt bệ thờ Lạc Long Quân, cùng với hệ thống nghi trượng bằng đồng, gỗ, sứ khá phong phú như: mâm đồng, đỉnh, lư hương, ống hoa, thau rước nước, chiêng…       Các bức đại tự đặt ở vị trí trang trọng: “Nam tổ miếu”“Nam bang thủy tổ” và câu đối “Việt Nam hoàng đồ vạn lý giang sơn đề tạo thủy – Hồng Bàng đế trụ thiên thu hà lạc tú linh thanh”“Phụ đạo thiên niên quốc – Âu Cơ bách noãn bào”… cùng 15 đạo sắc của các vua triều Nguyễn ban cấp hiện còn lưu giữ, đạo sắc có niên hiệu sớm nhất: “… Gia Long cửu niên (1810) tháng 8 ngày 11 Sắc chỉ. Siêu Loại huyện, Á Lữ xã, viên sắc xã trưởng toàn xã đẳng hệ luôn xã tòng tiền phụng sự Kinh Dương Vương nhất vị hữu linh triều gia tôn mỹ tự chuẩn hứa y cựu phụng sự chỉ thần kính ý cố sắc”… Đạo sắc có niên hiệu muộn nhất… Khải Định cửu niên (1924) tháng 7 ngày 25 sắc chỉ, Bắc Ninh tỉnh, Thuận An phủ, Siêu loại huyện, Á Lữ xã, toàn tiền phụng sự Kinh Dương Vương hộ quốc tý dân hiển hữu công đức tiết mông ban cấp, sắc chỉ chuẩn hứa phụng sự tứ kinh chính trực…

Ngoài lăng mộ, đình, đền và những sưu tập hiện vật được bảo trọng tại Á Lữ Đại Đồng Thành, Thuận Thành, nói về thủy tổ người Việt, rành rành sử sách còn ghi:

“… Vua Kinh Dương Vương tự là Lộc Tục, thú Động Đình quân nữ, sinh ra Lạc Long Quân – tự là Sùng Lãm, ngài thú đức Âu Cơ sinh trăm con trai, sau 50 người theo mẹ lên núi, 50 người theo cha xuống vùng biển khai phá, gìn giữ mở mang bờ cõi, ngài truyền cho con cả nối ngôi – vua Hùng Vương thứ nhất …”

“Kể từ khi Kinh Dương Vương, họ Hồng Bàng nối dòng dõi Thần Nông, lấy con gái vua Động Đình, sáng rõ đạo vợ chồng, theo đúng nguồn phong hóa, vua thì lấy đức mà cảm hóa dân, rũ áo khoanh tay, dân thì cày ruộng, đào giếng, ra ngoài thì làm lụng, trở về thì nghỉ ngơi, chẳng phải là phong tục thái cổ của Viêm đế ư ? Lạc Long Quân nối đời Hồng Bàng lấy con gái họ Âu Lạc mà có điềm lành sinh trăm con trai, tổ của người Bách Việt thực bắt đầu từ đấy, hưởng nước trải nhiều năm, rất là lâu dài, đã giàu thọ lại nhiều con trai từ xưa tới nay chưa từng có, Hùng Vương nối nghiệp Lạc Long, chăm ban tước huệ để vỗ yên dân…”

“Kỷ Hồng Bàng thị – Kinh Dương Vương tên húy là Lộc Tục, con cháu họ thần Nông…”

Phù hợp với những chứng tích tại các di tích Khảo cổ học, khu vực lăng mộ và đình miếu ghi nhận về Lộc Tục, tức Kinh Dương Vương tại thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành đã đặt niên mốc 2873 TCN vào trang đầu lịch sử dựng nước. Tiếp đó là sự có mặt của Lạc Long Quân con trai và người kết tục sự nghiệp Kinh Dương Vương trên vùng đất này…

Tôn trọng sự thật lịch sử, ngày 2/2/1993. Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định số 74/VH-QĐ công nhận “Di tích lịch sử lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành”.

Dù cho chiến tranh tàn phá, bão lũ hủy hoại, nhân dân Á Lữ luôn bảo trọng, tôn tạo khu di tích lịch sử lăng và đền thờ Kinh Dương Vương để nhân dân trong làng và du khách thập phương quanh năm hương khói và tụ hội ( từ 15 đến 18 tháng giêng âm lịch hàng năm) dâng hương bái lạy tiên tổ biểu thị truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”.

Di tích lịch sử lăng và đền thờ Kinh Dương Vương khẳng định Bắc Ninh là vùng đất người Việt cổ sớm tụ cư – cái nôi chốn tổ của đất Việt. Và làm phong phú thêm kho tàng lịch sử xứ Bắc cổ kính và văn hiến; sáng rõ thêm cội nguồn dân tộc Việt Nam.


Lễ hội Kinh Dương Vương – Nét đẹp truyền thống của người Việt

Ngày 12-2 (tức ngày 16 tháng Giêng), lễ hội Kinh Dương Vương (Đại Đồng Thành, Thuận Thành) chính thức khai hội nhằm kỷ niệm 4.896 năm Đức Thủy tổ Kinh Dương (bacninh.gov.vn) Vương khai sơn, sáng thủy. Lễ hội được tổ chức từ ngày 16 đến 18 tháng Giêng ngoài việc cầu mong Quốc thái, dân an, mưa thuận gió hòa, đất nước yên vui, thịnh vượng còn thể hiện lòng tự tôn dân tộc, gìn giữ đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, hướng về nguồn cội của con Lạc, cháu Hồng khắp cả nước.

Trong tâm thức người Việt, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ được coi như những vị Thủy tổ mở nước, nguồn cội của dân tộc nên hàng năm cứ mỗi độ Tết đến, Xuân về con dân đất Việt trong cả nước lại hành hương về khu di tích lăng và đền Kinh Dương Vương để bái yết, tưởng nhớ và tri ân công lao to lớn của những bậc thủy tổ có công khai sơn sáng thủy lập nên nước Xích Quỷ, nhà nước có chủ quyền đầu tiên của nước Việt.

Đền và lăng Kinh Dương Vương tại thôn Á Lữ từ lâu được các triều đại phong kiến coi là chốn linh thiêng bậc nhất, xếp vào loại miếu thờ Đế vương. Vào dịp tế lễ Vua, quan các triều đại đều trực tiếp về đây để thắp hương bái tổ. Hiện trong Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương còn bảo lưu được nhiều cổ vật quý như ngai thờ Kinh Dương Vương, 15 sắc phong, thần phả, văn tế, hoành phi, câu đối ca ngợi về người được thờ như: “Nam bang thuỷ tổ” (Thuỷ tổ nước Nam), “Nam tổ miếu” (Miếu thờ ông Tổ nước Nam”, “Bách Việt Tổ” (Vua Tổ nước Nam)…

Hàng năm, nhân dân và chính quyền địa phương đều long trọng tổ chức lễ hội Kinh Dương Vương nhằm bày tỏ lòng thành kính, tri ân Đức vua Thủy tổ, đồng thời giáo dục truyền thống tốt đẹp cho con cháu nhớ về nguồn cội. Lễ hội được bắt đầu bằng hàng loạt nghi lễ truyền thống như rước nước về thờ tại đền và lăng, rước bài vị của các vị thành hoàng làng ở một số thôn lên đền và lăng Kinh Dương Vương. Trong đoàn rước luôn có các hoạt động văn hóa đặc sắc như: Múa lân, múa rồng…

Sau phần lễ trang nghiêm, phần hội cũng diễn ra nhiều hoạt động văn hóa phong phú, như hát Quan họ trên thuyền, hát Chèo, Tuồng, Ca trù, múa rối nước…. đặc biệt là hát Trống quân, một loại hình nghệ thuật đặc sắc có từ lâu đời của người dân huyện Thuận Thành. Bên cạnh đó nhiều trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống cũng được đưa vào phục vụ nhân dân và du khách như kéo co, đập niêu, đu tiên, tổ tôm điếm, cờ tướng, bóng chuyền, vật, dưỡng sinh… Ban tổ chức lễ hội còn trưng bày giới thiệu những sản phẩm nghề truyền thống của địa phương như gốm Luy Lâu, tranh Đông Hồ, tương Đình Tổ, nem Bùi Xá, thi Gà Hồ… Các nghi thức truyền thống và hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao của lễ hội Kinh Dương Vương được diễn ra đến hết ngày 18 tháng Giêng (tức ngày 14- 2).

Theo Ban tổ chức, do năm nay trùng với dịp kỷ niệm 185 năm thành lập tỉnh và 20 năm tái lập tỉnh Bắc Ninh nên lượng du khác thập phương về bái tổ, dâng hương dự tính sẽ đông hơn mọi năm, vì thế các phương án phòng, chống cháy nổ, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh y tế… đều được huyện xây dựng và triển khai ngay từ những ngày đầu của năm 2017. Trong thời gian diễn ra lễ hội, đội kiểm tra liên ngành 814 của huyện thường xuyên phối hợp với xã Đại Đồng Thành rà soát các điểm kinh doanh và dịch vụ văn hóa, bảo đảm ngăn chặn và xử lý nghiêm các hoạt động tôn giáo trái phép, các hoạt động mê tín dị đoan, lưu hành văn hóa phẩm không lành mạnh, góp phần làm cho lễ hội ngày một văn minh.

Nguồn: VUOF 1, 2

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.