560. ☀ Hồng Bàng thị có phải ‘truyền thống được kiến tạo’ hay không?

Các tác giả được nhiều người biết tới về lịch sử, văn hóa Việt Nam, như Trần Trọng Dương với bài viết Kinh Dương Vương – ông là ai? [1] được đăng lên Tia Sáng vào năm 2013, hay Liam Kelley cũng vào năm 2013 đã viết bài Hồng Bàng thị truyện như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại [2], để xét lại và phủ nhận về giá trị của truyền thuyết họ Hồng Bàng, cho rằng triều Hùng Vương không có thật, truyện họ Hồng Bàng là một truyền thống được kiến tạo của người Việt trong thời trung đại, các bài viết này còn cho rằng câu truyện này có nguồn gốc từ sự vay mượn Liễu Nghị truyện hay Hoa Dương quốc chí của Trung Quốc.

Nhìn chung, qua các bài viết được đăng tải vào năm 2013, các tác giả này đã nỗ lực lập luận và xây dựng tư liệu, nhưng các lập luận tựu chung chỉ xoay quanh những giả thuyết và sự kết nối không rõ ràng để cho rằng truyện họ Hồng Bàng là sự sáng tạo của thời trung đại, với hệ tư tưởng cho rằng truyện họ Hồng Bàng hay tất cả những đặc trưng văn hóa của người Việt đều phải có nguồn gốc từ bên ngoài. Đây là những nhận thức phổ biến về nguồn gốc dân tộc Việt, xuất phát từ sự thiếu rõ ràng và tính phức tạp trong lịch sử của người Việt, nên không ít tác giả đã dựa vào đây để đưa ra những giả thuyết không chính xác về nguồn gốc người Việt.

Truyền thuyết họ Hồng Bàng có lẽ gây tranh cãi nhiều nhất bởi thời điểm xuất hiện thành văn của nó khá muộn, trong truyện lại có những chi tiết ma quái, phi lý, loạn luân, phần đa người Việt luôn tự hào rằng mình là con Rồng cháu Tiên trong tâm thức tự nhiên của mình, nhưng không ít người tiếp cận phiên bản thành văn sớm nhất của truyện họ Hồng Bàng trong sách Lĩnh Nam chích quái, đã có cái nhìn không thiện cảm, thậm chí phủ nhận truyền thuyết và nguồn gốc này của người Việt. Kết quả là những bài viết như trên đã được tin tưởng và lan truyền rộng rãi trong cả tầng lớp trí thức lẫn bình dân.

Nhưng câu chuyện không hề đơn giản như những gì mà các tác giả Liam Kelley hay Trần Trọng Dương đã xác định, nguồn gốc người Việt khác với những điều đã được các tác giả này đề nghị trong các bài viết. Phải xác định chính xác được nguồn gốc của dân tộc Việt dựa trên các nghiên cứu di truyền, khảo cổ, từ đó, chúng ta mới có thể hiểu được giá trị của truyện họ Hồng Bàng được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái. Bên cạnh việc xác định nguồn gốc dân tộc, còn cần khảo cứu thêm về những ghi chép lịch sử, những di tích thờ tự, những đặc trưng văn hóa, các tài liệu khảo cổ cũng sẽ góp phần cho chúng ta thấy được nguồn gốc thực sự của họ Hồng Bàng.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ từng bước phân tích các yếu tố liên quan về truyện họ Hồng Bàng, trong đó quan trọng nhất là xác định về nguồn gốc của người Việt, làm cơ sở so sánh truyền thuyết họ Hồng Bàng với các nghiên cứu di truyền, lịch sử, khảo cổ, để có thể thấy được cơ sở thực tế của truyện, tìm hiểu về những yếu tố chứng minh sự tồn tại của thời Hùng Vương và thời kỳ Hồng Bàng. Truyện họ Hồng Bàng chính là “thánh kinh” của dân tộc Việt, được người Việt lưu truyền trong dòng văn hóa dân gian, giữ gìn nó vượt qua thử thách khắc nghiệt trong thời Bắc thuộc, song hành cùng với các đền đài thờ tự các nhân vật thời Hồng Bàng và Hùng Vương, giữ gìn trọn vẹn những ký ức về thời kỳ cội nguồn của dân tộc Việt.

I. Xác định cơ sở tiếp cận truyện họ Hồng Bàng dựa trên nguồn gốc của người Việt:

1. Nguồn gốc người Việt và cộng đồng tộc Việt:

Để có thể biết được truyện họ Hồng Bàng liệu có phải là một câu chuyện vay mượn, là một sáng tạo của thời trung đại hay không, thì việc đầu tiên cần làm, đó là xác định chính xác nguồn gốc dựa trên các nghiên cứu khoa học. Các nghiên cứu di truyền, khảo cổ, ngôn ngữ mà chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu trong một bài viết khác [3], đã cho thấy nguồn gốc cơ bản của người Việt. Nguồn gốc của người Việt có thể tóm tắt như bản đồ sau.

Bản đồ minh họa nguồn gốc và tiến trình phát triển của các văn hóa cổ Đông Á của người cổ Đông Nam Á, người tiền Việt và tộc Việt. Bản đồ thể hiện vị trí và phân bố tương đối của các văn hóa lớn thời Đá mới tại vùng bắc Đông Á và nam Đông Á. (Dựa theo Liu Li và Chen Xingcan (2012) trong The Archaeology of China: From the Late Paleolithic to the Early Bronze Age.)

Người Việt có nguồn gốc xa xưa là từ người cổ châu Phi, di cư sang Đông Nam Á chia thành hai đợt vào khoảng 60.000-30.000 năm trước [4][5], họ sinh sống trong vùng Đông Nam Á, phát triển văn hóa Hòa Bình. Vào 12.000 năm trước, đã diễn ra đợt biển tiến, khiến vùng đất sinh sống của cư dân cổ Đông Nam Á biến mất, thúc đẩy họ phải di cư lên phía Bắc để tìm vùng đất mới sinh sống. Các nghiên cứu di truyền đã cho thấy dòng di cư này lên phía Bắc. [6][7][8][9]

Bản đồ thiên di của những người cha cho thấy dòng di cư lên phía Bắc vào thời điểm hơn 10.000 năm trước ngày nay của người cổ Đông Nam Á. [10]

Khi di cư lên phía Bắc, họ định cư chủ yếu trong vùng Dương Tử, có nhóm đã đi lên vùng phía Bắc sông Dương Tử. Họ gặp và hòa huyết với cư dân Bắc Á đã xuống vùng này từ trước đó với dấu tích tại hang Devil’s Gate, vùng Siberia. Cư dân hai vùng Dương Tử và Hoàng Hà đã có sự hòa huyết với nhau, hình thành văn hóa Đông Á cổ với các văn hóa Cao Miếu, Hà Mẫu Độ, Lăng Gia Than và Mã Gia Banh trong vùng Dương Tử, và các văn hóa Ngưỡng Thiều, Hồng Sơn, và Đại Vấn Khẩu trong vùng đồng bằng sông Hoàng Hà và sông Liêu.

Khoảng 5500 năm trước, đã diễn ra cuộc di cư về vùng Dương Tử của người Nam Đảo và Tai-Kadai (hai hệ ngữ anh em) [11][12], hợp nhất người Nam Á bản địa sông Dương Tử để hình thành văn hóa Lương Chử. Tại văn hóa Lương Chử, là nơi hình thành nhà nước của tộc Việt, cũng là nơi hình thành nên ý thức Việt.

Trên một chiếc bình gốm của văn hóa Lương Chử, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy 4 ký hiệu khắc trên thân của chiếc bình, tạo thành một câu hoàn chỉnh, thể hiện rõ ý thức về nguồn gốc và tổ chức quốc gia của cộng đồng tộc Việt. Nhà nghiên cứu Trung Quốc, Đổng Sở Bình đã giải mã ý nghĩa các chữ này dựa trên sự so sánh về văn tự, tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, nguồn gốc dân tộc của văn hóa Lương Chử, so sánh với các cách giải mã đã có trước đó của các học giả, ông đã giải mã các chữ này là “方钺会矢” – “Phương Việt hội thi”, có thể hiểu là “Liên minh quốc gia Việt” [13], các chữ này được viết và đọc theo thứ tự từ trái qua phải, theo như cách viết truyền thống của người Việt. Tên Việt được hình thành từ hình chiếc rìu, sau đó dần dần phát triển thành thủ lĩnh cầm rìu, về mặt ý nghĩa, tên Việt có nguồn gốc đại diện cho tộc người sử dụng rìu lễ khí, và nghĩa bóng là vượt qua như nghĩa mà chúng ta ngày nay vẫn sử dụng.

4 biểu tượng trên nồi gốm văn hóa Lương Chử được giải mã cho thấy ý thức Việt đã xuất hiện từ thời văn hóa Lương Chử. [13]

Hình ảnh thực tế chiếc bình gốm có khắc chữ của văn hóa Lương Chử. [Nguồn: CSSToday, dẫn]

Tên gọi Việt bắt nguồn từ hình ảnh chiếc rìu của văn hóa Lương Chử, tới thời kỳ văn hóa Thạch Gia Hà tại vùng trung lưu Dương Tử, đã phát triển lên thành hình ảnh thủ lĩnh đội mũ lông chim cầm rìu, đây là đại diện cho ý thức Việt trong văn hóa Thạch Gia Hà.

Hình ảnh thủ lĩnh cầm rìu trên chum gốm văn hóa Thạch Gia Hà. [14]

Hình ảnh thủ lĩnh cầm rìu biểu trưng cho tên gọi Việt trong văn hóa Thạch Gia Hà tiếp tục được người Việt kế thừa trong văn hóa Đông Sơn, với hình ảnh thủ lĩnh cầm rìu xuất hiện rất phổ biến trên các trống đồng Đông Sơn.

Hình ảnh thủ lĩnh cầm rìu và đội mũ lông chim tương tự như văn hóa Thạch Gia Hà xuất hiện rất phổ biến trên các trống đồng Đông Sơn. Hoa văn trên là ở trống đồng Ngọc Lũ. [15]

Các văn hóa lớn trong vùng Dương Tử của cộng đồng tộc Việt là Lương Chử và Thạch Gia Hà, đều có tổ chức nhà nước phát triển và sớm nhất trong vùng Đông Á. Văn hóa Lương Chử đã được các nhà khảo cổ chứng minh có tổ chức nhà nước sớm nhất trong vùng Đông Á [16][17], với niên đại khoảng 5300 năm trước, tại văn hóa Thạch Gia Hà, thì văn hóa Thạch Gia Hà có thể được coi như một nhà nước cổ đại với tổ chức xã hội tương đối tiên tiến của nó [18][19][20]. Các học giả Trung Quốc cho rằng các văn hóa trong vùng Dương Tử như Thạch Gia Hà hay trước đó là Lương Chử phức tạp hơn về mặt xã hội và phát triển hơn so với các văn hóa cùng thời ở vùng bắc Đông Á. [18]

Sau đó tới 4000 năm trước, thì người Việt đã phải di cư về vùng Đông Nam Á [21][22], do nạn hạn hán diễn ra trong vùng Dương Tử [23], khiến nền văn minh tại đây sụp đổ, trong đó người Nam Á di cư về Đông Nam Á lục địa, người Nam Đảo di cư về Đông Nam Á hải đảo. Người Việt, nhóm người còn giữ truyền thuyết họ Hồng Bàng, đã di cư về Việt Nam hình thành nên văn hóa Phùng Nguyên.

Các tuyến di cư chính giữa Nam Đông Á và Đông Nam Á thời cổ đại. [23

2. Đối chiếu với các chi tiết trong truyện họ Hồng Bàng:

Với các nghiên cứu trên, chúng ta đã có hình dung cơ bản nhất về vấn đề nguồn gốc tộc Việt, cũng như nguồn gốc của dân tộc Việt, vì người Việt có nguồn gốc trong vùng Dương Tử, nên để tìm hiểu về truyện họ Hồng Bàng, chúng ta cần tìm hiểu, đối chiếu và so sánh với các tài liệu trong vùng Dương Tử.

Truyện họ Hồng Bàng chép: “Cháu ba đời Viêm Đế họ Thần Nông tên là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi nam tuần đến Ngũ Lĩnh, gặp được nàng con gái Vụ Tiên đem lòng yêu mến mới cưới đem về, sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan chính, thông minh túc thành; Đế Minh lấy làm lạ, cho nối ngôi vua; Lộc Tục cố nhường cho anh. Đế Minh lập Đế Nghi làm tự quân cai trị phương Bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương cai trị phương Nam, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ Quốc.” [24]

Các tài liệu khảo cổ đã cho chúng ta thấy được sự hình thành của một tổ chức nhà nước sớm nhất Đông Á là văn hóa Lương Chử [16][17], có niên đại vào khoảng 5300 năm trước, đây là văn hóa hình thành nên ý thức tộc Việt. Đây không phải là văn hóa duy nhất có nhà nước trong vùng Đông Á, mà kế thừa nó, là văn hóa Thạch Gia Hà, cũng đã được chứng minh là có một tổ chức nhà nước [18][19][20]. Như vậy không chỉ một, mà có tới hai văn hóa có nhà nước trong vùng Dương Tử, tương ứng với quốc gia Xích Quỷ trong truyện họ Hồng Bàng.

Truyện họ Hồng Bàng chép tiếp: “Long Quân bảo: – Ta là loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống tiên, người ở trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp lại mà có con nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu.” [24]

Không gian của truyện họ Hồng Bàng là “hồ Động Đình” như truyện đã chép, trong các văn hóa trong vùng Động Đình, là Khuất Gia Lĩnh và Thạch Gia Hà cũng đã tìm thấy các hiện vật chứng minh cho các yếu tố trong truyện họ Hồng Bàng: “loài Rồng – giống Tiên”, “âm dương”.

Ngọc chim Tiên (Phượng Hoàng) và Rồng thời văn hóa Thạch Gia Hà. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, dẫn]

1-2: Hình âm dương trên dọi se chỉ văn hóa Khuất Gia Lĩnh. 3: Hình âm dương trên dọi se chỉ Thạch Gia Hà. [25][26][27]

Truyện Hồng Bàng chép: “Long Quân bảo: – Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi trai về Thủy phủ phân trị các xứ, năm mươi trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau.” [24]

Cuộc chia ly này cũng thể hiện trên các tài liệu nghiên cứu di truyền [21][22], mốc di cư của cộng đồng tộc Việt cũng là khoảng 4000 năm trước, thời điểm này, thì sự phân tán mới ở cư dân các hệ ngữ Nam Á và Nam Đảo, trong đó người Nam Á di cư xuống vùng Đông Nam Á lục địa, người Nam Đảo di cư sang Đài Loan và xuống Đông Nam Á hải đảo, người Tai-Kadai di cư xuống vùng Lĩnh Nam và Đông Nam Á trong cuộc di cư sau vào khoảng 700 năm trước và vào thời kỳ đồ sắt.

Bản đồ phân tán các hệ ngữ Nam Á, Nam Đảo, Tai-Kadai và Hán-Tạng theo nghiên cứu di truyền. [28]

Như vậy, truyện họ Hồng Bàng đã thể hiện sự chính xác với các nghiên cứu di truyền, khảo cổ về nguồn gốc của người Việt. Các nghiên cứu di truyền, khảo cổ đều trùng khớp với những chi tiết được kể tới trong truyện họ Hồng Bàng trong sách Lĩnh Nam chích quái. Đây là cơ sở chứng minh rằng truyện họ Hồng Bàng thực sự là “‘thánh kinh” của người Việt, chép lại lịch sử cổ của dân tộc Việt dưới dạng truyền thuyết, được lưu truyền trong văn hóa dân gian. Sau khi di cư về Việt Nam, thì người Việt đã hình thành văn hóa Phùng Nguyên, văn hóa này cũng cho chúng ta thấy được những cơ sở cho thấy đã tồn tại một nhà nước, tương ứng với triều Hùng Vương.

3. Văn hóa Phùng Nguyên và thời kỳ Hùng Vương:

Văn hóa Phùng Nguyên chính là văn hóa của tộc Việt khi di cư về vùng miền Bắc Việt Nam, quyền lực nhà nước trong vùng miền Bắc Việt Nam được thể hiện rõ trong những chiếc nha chương bằng ngọc của văn hóa này. Theo Chu Lễ, thì: “牙璋以起軍旅,以治兵守。” – “Nha chương dùng để điều động quân đội, chỉ huy quân đồn trú”. Như vậy, Nha chương chính là biểu trưng cho quyền lực của nhà nước. Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng chức năng chính của Nha chương là đại diện cho quyền lực nhà nước. [29][30]

Nha chương văn hóa Phùng Nguyên. [Nguồn: Bảo tàng Hùng Vương, dẫn]

Xét về niên đại của văn hóa Phùng Nguyên, nó cũng tương ứng với sự sụp đổ của văn minh Dương Tử, tương ứng với chi tiết chia ly trong truyện họ Hồng Bàng, người Việt khi ấy đã di cư về Việt Nam, dừng chân và lập nước ở vùng Phong Châu như truyện họ Hồng Bàng chép, vùng Phú Thọ cũng chính là nơi khởi nguồn và là trung tâm của văn hóa Phùng Nguyên.

Vì vậy, có thể nói văn hóa Phùng Nguyên chính là khởi nguồn của thời kỳ Hùng Vương, thời kỳ Hùng Vương chỉ bắt đầu khi người Việt di cư về Việt Nam, nằm trong nhóm 50 người con theo Mẹ Âu Cư về Phong Châu, cử người con cả lên làm vua, xưng Hùng Vương, dựng nước Văn Lang. Thời điểm hình thành của thời Hùng Vương có thể xác định là từ 4000 năm trước, tồn tại trong khoảng hơn 1700 năm trước khi sụp đổ vào khoảng năm 258 TCN.

4. Người Việt và hậu duệ của văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Đông Sơn:

Chúng tôi đã thực hiện tìm hiểu trong bài khảo cứu khác, cho thấy văn hóa Đông Sơn là hậu duệ trực tiếp là văn hóa Phùng Nguyên, sự kế thừa được thể hiện trên nhiều loại hình cổ vật và các hoa văn [31], có thể nói, Phùng Nguyên chính là nền tảng để tạo nên văn hóa Đông Sơn.

Về ngôn ngữ, văn hóa, khảo cổ [32][33], thì người Việt trong tiến trình lịch sử vẫn kế thừa từ văn hóa Đông Sơn. Về di truyền, người Việt ngày nay là hậu duệ trực tiếp của văn hóa Đông Sơn, với sự khác biệt chỉ khoảng 10-15% so với thời văn hóa Đông Sơn. [34]

Nghiên cứu di truyền cho thấy người Việt kế thừa gen từ văn hóa Đông Sơn. [34]

Vùng đồng bằng sông Hồng không có sự ghi nhận về thay đổi dân cư đáng kể sau thời văn hóa Đông Sơn. Văn hóa Đông Sơn cũng người Nam Á, vùng đồng bằng sông Hồng ngày nay vẫn là nơi sinh sống chủ yếu của người Nam Á. Hầu như không có bằng chứng nào cho thấy sự xuất hiện của người Tai-Kadai trong vùng đồng bằng sông Hồng trong thời Hùng Vương [33], ngoại trừ thời điểm An Dương Vương di cư về Việt Nam lập nước Âu Lạc, trong cuộc di cư đó thì lượng cư dân di cư về là rất nhỏ so với người Việt Nam Á bản địa, hầu như hòa tan vào người Việt bản địa. Cư dân Tai-Kadai bắt đầu di cư nhiều vào Việt Nam vào thời kỳ đồ sắt, và phân bố chủ yếu trong các vùng cao ở Đông Bắc và Tây Bắc, sau đó dần dần di cư xuống phía Nam.

Vì vậy, người Việt là hậu duệ trực tiếp của các văn hóa từ Phùng Nguyên tới Đông Sơn, trong hai giai đoạn phát triển này, trung tâm của người Việt là vùng miền Bắc Việt Nam, các văn hóa này đều có nguồn gốc từ vùng Dương Tử, trải qua sự di cư, hòa huyết trong quá trình phát triển giữa hai nền văn hóa này để hình thành bộ gen thống nhất giữa cộng đồng tộc Việt. [3]

II. Thời kỳ Hùng Vương trong các ghi chép lịch sử Việt Nam và Trung Quốc:

Trong bài viết của mình, Liam Kelley kết luận rằng: “Tuy nhiên, tôi cho sự thảo luận về Hồng Bàng thị truyện trong bài tiểu luận này đã chứng minh rằng các vua Hùng không có thật” [2]. Bằng chứng mà ông đưa ra chỉ là những suy diễn và lập luận rất chủ quan, ông cũng đã bỏ qua những ghi chép và công nhận của cả Việt Nam và Trung Quốc trong suốt lịch sử từ thời Bắc thuộc, tới thời Lý Trần và cuối cùng là nhà Nguyễn. Chúng tôi sẽ dẫn ra những ghi chép của cả Việt Nam và Trung Quốc để cho thấy thời kỳ Hùng Vương thực sự tồn tại trong cả các ghi chép lịch sử.

1. Ghi chép về thời Hùng Vương trong lịch sử Trung Quốc:

Thời Hùng Vương hoàn toàn không phải được sáng tạo bởi tác giả sách Lĩnh Nam chích quái, thực tế, trong cả truyền thuyết của người Việt, lịch sử, ghi chép văn bia, hay trong lịch sử Trung Hoa, đều cho thấy sự tồn tại của thời kỳ Hùng Vương. Trong số các tài liệu lịch sử Trung Quốc, có 4 sách đã chép cụ thể về về thời kỳ Hùng Vương, dưới hai cái tên Hùng Vương và Lạc Vương, chúng tôi đã chứng minh thực tế phải là Hùng Vương mới chính xác, Lạc Vương là một sự nhầm lẫn của Thủy Kinh chú. [35]

Thủy kinh chúquyển 37, Diệp Du hà (Bắc Ngụy – Lịch Đạo Nguyên soạn) dẫn Giao châu ngoại vực kí chép: “交州外域記》曰:交趾昔未有郡縣之時,土地有雒田,其田從潮水上下,民墾食其田,因名為雒民,設雒王、雒侯,主諸郡縣。縣多為雒將,雒將銅印青綬。” – “Đất Giao Chỉ ngày xưa khi chưa đặt thành quận huyện, đất đai có ruộng Lạc, dân làm ăn ở ruộng ấy theo nước thủy triều lên xuống, nhân đó có tên là dân Lạc, đặt ra Lạc Vương – Lạc Hầu để làm chủ các quận huyện, huyện phần nhiều có chức Lạc tướng, Lạc tướng đeo ấn đồng thao xanh.” [36]

Sử kí, quyển 113, Nam Việt liệt truyện, 53, Sách ẩn (Đường – Tư Mã Trinh soạn) dẫn Quảng châu kí chép: “《史記》卷百一十三南越列傳第五十三索隱引《廣州記》云:交趾有駱田,仰潮水上下,人食其田,名為駱人。有駱王、駱侯。諸縣自名為駱將,銅印青綬,即今之令長也。後蜀王子將兵討駱侯,自稱為安陽王,治封溪縣。後南越王尉他攻破安陽王,令二使典主交阯、九真二郡人。” – “Quận Giao Chỉ có ruộng Lạc, dân trông nước thủy triều lên xuống mà làm ăn ở ruộng ấy nên đặt tên là người Lạc. Có các chức Lạc Vương – Lạc hầu, các huyện tự đặt chức Lạc tướng đeo ấn đồng dải xanh, tức là chức Lệnh-Trưởng ngày nay vậy. Sau đó con vua Thục đem quân đánh Lạc Hầu, tự xưng là An Dương Vương, trị ở huyện Phong Khê. Sau nữa vua Nam Việt là Úy Tha đánh phá An Dương Vương, sai hai sứ giả điển chủ người hai quận Giao Chỉ-Cửu Chân.” [36]

Cựu Đường thư, (Hậu Tấn – Lưu Hú soạn, 945 SCN), quyển 41, Chí 21, Địa lí 4, dẫn Nam Việt chí (Lưu Tống 420 – 479) chép: “交趾之地,最為膏腴。舊有君長曰雄王,其佐曰雄侯。後蜀王將兵三萬討雄王,滅之。蜀以其子為安陽王,治交趾。其國地,在今平道縣東。其城九重,周九里,士庶蕃阜。尉佗在番禺,遣兵攻之。王有神弩,一發殺越軍萬人,趙佗乃與之和,仍以其子始為質。安陽王以媚珠妻之,子始得弩毀之。越兵至,乃殺安陽王,兼其地。” – “Đất quận Giao Chỉ rất là màu mỡ, ngày xưa có quân trưởng gọi là Hùng Vương, phụ tá là Hùng Hầu. Sau có vua Thục đem ba vạn lính đánh diệt Hùng Vương đi. Vua Thục nhân đó cho con mình làm An Dương Vương, trị đất Giao Chỉ. Đất nước ấy ở phía đông huyện Bình Đạo ngày nay. Thành nước ấy có chín vòng, chu vi chín dặm, dân chúng đông đúc. Úy Đà đóng đô ở thành Phiên Ngu phát binh sang đánh.Vương có nỏ thần bắn một phát giết một vạn quân Việt. Triệu Đà bèn hòa với vương, rồi sai con mình tên là Thủy làm con tin. An Dương Vương đem con gái tên là Mị Châu gả cho Thủy, Thủy thấy được nỏ thần bèn hủy đi. Kịp khi quân Việt đến liền giết An Dương Vương, chiếm cả nước ấy.” [36]

Sách Thái Bình quảng ký, thời Tống, dẫn Nam Việt chí (Lưu Tống, 420 – 479) khoảng thế kỷ V cũng có chép về các vị vua Hùng: ““交趾之地,頗為膏腴,從民居之,始知播植。厥土惟黑壤。厥氣惟雄。故今稱其田為雄田,其民為雄民。有君長,亦曰雄王;有輔佐焉,亦曰雄侯。分其地以為雄將。” – “Đất Giao Chỉ vốn màu mỡ, di dân tới sống ở đó, (dân) mới bắt đầu biết gieo trồng, đất vùng ấy đen xốp, khí đất hùng mạnh, cho nên gọi ruộng ấy là Hùng Điền, dân vùng ấy gọi là Hùng Dân. Quân trưởng gọi là Hùng Vương. Có phụ tá là Hùng Hầu, chia đất cho các Hùng Tướng.”

2. Các ghi chép về thời Hùng Vương trong lịch sử Việt Nam:

Trong lịch sử Việt Nam, có rất nhiều sách và tài liệu lịch sử ghi chép và công nhận sự tồn tại của họ Hồng Bàng và thời kỳ Hùng Vương, xem đó là cội nguồn của dân tộc Việt.

Đại Việt sử ký toàn thư được viết vào thời nhà Lê chép: “Hùng Vương: Con Lạc Long Quân (không rõ tên húy), đóng đô ở Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc). Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đều là đất thần thuộc của Hùng Vương; còn bộ gọi là Văn Lang là nơi vua đóng đô. Đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (chữ Lạc Tướng, sau chép sai là Hùng Tướng). Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương. Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha truyền con nối, gọi là phụ đạo. Vua các đời đều gọi là Hùng Vương.” [37]

Dư địa chí của Nguyễn Trãi được viết vào thời nhà Lê chép: “Hùng Vương tiếp nối ngôi vua, dựng nước gọi là Văn Lang; chia trong nước làm 15 bộ: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức.”, “Hùng Vương là con Lạc Long, cháu Kinh Dương. Nơi đóng đô gọi là Văn Lang. Truyền 18 đời đều gọi là Hùng Vương.” [38]

Khâm định Việt sử thông cương giám mục viết vào thời nhà Nguyễn chép: “Hùng Vương. Dựng nước gọi là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu.”. sách chép tiếp: “Bắt đầu đặt quan chức: tướng văn gọi là Lạc Hầu; tướng võ gọi là Lạc tướng; hữu tư gọi là Bồ chính; con trai của vua gọi là Quan Lang, con gái của vua gọi là Mị Nương. Cứ đời nọ đến đời kia, cha truyền con nối, gọi là phụ đạo.” [39]

Việt sử tiêu án thời Trịnh – Nguyễn chép: “Hùng Vương là con vua Lạc Long, dựng nước đặt tên là Văn Lang, đóng kinh đô ở Phong Châu (Phong Châu theo sử cũ: đông đến bể, tây đến Ba Thục, bắc đến Động Đình, nam tiếp giáp Hồ Tôn) chia nước làm 15 bộ; chỗ vua ở gọi là Văn Lang, con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua gọi là Mỵ nương, tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng. Quan Hữu tư coi việc gọi là Bồ chính, thế tập truyền đời giữ chức gọi là Phụ đạo, 18 đời đều hiệu gọi là Hùng Vương (15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Toàn, Lục Hải, Vũ Dinh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức)”. [40]

Vào thời nhà Trần, thì hầu hết các tư liệu lịch sử của người Việt đã bị nhà Minh phá hủy, tuy nhiên tư liệu văn bia sẽ cung cấp cho chúng ta thông tin rằng nhà Trần cũng công nhận về sự tồn tại của thời kỳ Hùng Vương như cội nguồn của dân tộc Việt.

Văn bia được tìm thấy tại xã Lại Yên, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, được khắc vào thời Trần, do Hàn lâm học sĩ Trương Hán Siêu soạn năm 1312 và được khắc lại vào đợt trùng tu năm 1816. Văn bia chép như sau: “Bia đá được lập nên, là để ghi chép lại sự tích cũ, là để nêu gương công đức lên vậy. Trộm nghĩ xưa, đền thờ Thiên Thần vương, từ đời Hùng Vương thứ sáu, do Lạc tướng ở bộ Chu Diên phụng mệnh xây dựng đài Kính Thiên theo hướng Tây bắc – Đông nam. Hàng năm đầu xuân, kính cẩn tiến hành đại lễ tế trời. Nếu như có thiên tai biến họa lũ lụt hạn hán, dân gian cầu đảo, thì rất linh ứng. Đến đời triều (Lý) trước, năm Thuận Thiên thứ 7 (1016), nhà vua đến thăm viếng cảnh núi sông, phong thần là Đương cảnh Thành hoàng Chí Minh đại vương. Về sau, các vua đều cho tu tạo đền, có sắc phong thần. Lớn lao thay, lồng lộng thay ngôi cao uy linh đệ nhất”. [41]

Ghi chép này cho thấy nhiều khả năng triều Lý đã biết tới tích này, hiểu rõ nguồn gốc của di tích này là từ thời Hùng Vương, nên đã bảo vệ và thực hiện tu tạo qua các đời vua, sau đó nhà Trần tiếp tục kế thừa, giữ gìn và chép trong văn bia để ghi nhớ nguồn gốc.

Từ đó có thể thấy không chỉ triều Lê trong sách Đại Việt sử ký toàn thư công nhận thời Hùng Vương, mà các triều đại Trần, Lê, Nguyễn đều công nhận về sự tồn tại của thời kỳ Hùng Vương như cội nguồn của người Việt, trong các ghi chép lịch sử và trong các tư liệu văn bia.

3. Kết luận:

Như vậy về ghi chép lịch sử, thì cả lịch sử Việt Nam và lịch sử Trung Quốc đều công nhận về sự tồn tại của thời kỳ Hùng Vương, những tài liệu trước nhà Trần đã bị đốt phá, nên chúng ta không biết chính xác các triều Lý, Đinh có công nhận về thời kỳ Hùng Vương hay không, nhưng ít nhất từ thời nhà Trần, thì triều Hùng Vương được ghi chép lại trong văn bia, công nhận về sự tồn tại của triều đại này, sự công nhận được kéo dài tới triều đại phong kiến cuối cùng là nhà Nguyễn.

III. Truyền thuyết thời Hùng Vương và những dấu tích quan trọng trong văn hóa Việt:

Trong bài viết của mình, Liam Kelley đã phủ nhận quan điểm cho rằng các truyền thuyết thời Hùng Vương được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái được truyền trong văn hóa dân gian, sau đó mới được chép thành văn vào thời nhà Trần, cho rằng truyện họ Hồng Bàng và truyền thuyết thời Hùng Vương là một sự cóp nhặt và là “một truyền thống được kiến tạo”. Nhưng có những điều mà Liam Kelley vô tình hoặc cố ý bỏ qua những bằng chứng không thể chối cãi giữa văn hóa được chép trong truyền thuyết thời Hùng Vương, các bằng chứng khảo cổ học thời Hùng Vương, và trong cả sự kế thừa ở văn hóa Việt ngày nay. Liam Kelley đơn thuần sử dụng câu chữ nhằm định hướng những người đọc bài viết của ông theo hướng ông ta muốn. Chúng tôi sẽ dẫn ra những bằng chứng để phản bác lại lập luận của Liam Kelley, cho thấy được sự thực tế của những câu chuyện thời Hùng Vương.

1. Sự kế thừa và những bằng chứng khảo cổ ở câu chuyện trong Lĩnh Nam chích quái:

Phần lớn các câu chuyện trong sách Lĩnh Nam chích quái đều chép về thời Hùng Vương, các tác giả Trần Trọng Dương hay Liam Kelley lại chỉ tập trung vào truyện họ Hồng Bàng, mà bỏ qua những truyện khác, cứ cho rằng truyện họ Hồng Bàng được Trần Thế Pháp sáng tạo, thì ông cũng không thể nào sáng tạo cả một thời đại, cả một hệ thống câu chuyện về thời Hùng Vương, giải thích trọn vẹn và đầy đủ về nguồn gốc của người Việt như vậy, đúng hoàn toàn với những di sản mà người Việt ngày nay vẫn giữ. Chúng tôi sẽ từng bước phân tích các chi tiết cho thấy cơ sở thực tế của các truyền thuyết thời Hùng Vương.

Về nhân vật Thánh Gióng được chép lại trong sách Lĩnh Nam chích quái, thì theo ghi chép từ Việt Điện u linh của Lý Tế Xuyên, người Việt từ thời Lý đã xây dựng đền thờ Thánh Gióng, được sắc phong làm Xung Thiên Thần vương. [42] Ngày nay Thánh Gióng là một trong Tứ Bất Tử, một biểu tượng văn hóa quan trọng của người Việt, hằng năm, người Việt đều tổ chức hội Gióng ở đền Sóc Sơn tại núi Sóc huyện Sóc Sơn vào ngày mồng 6 tháng 1 âm lịch và hội đền Phù Đổng, xã Phù Đổng huyện Gia Lâm vào ngày mồng 9 tháng 4 âm lịch. Lễ hội này đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại vào năm 2010. [43] Nếu như đây là một truyền thống được kiến tạo (vào thời nhà Trần, nếu dựa trên thời điểm xuất hiện Lĩnh Nam chích quái), thì tại sao người Việt lại lập đền thờ một nhân vật trong hệ thống truyền thuyết thời Hùng Vương từ thời nhà Lý? Liam Kelley định sẽ giải thích thế nào về vấn đề này?

Trong truyện trầu cau, thì chúng ta cũng thấy rằng người Việt từ thời Hùng Vương đã có tục dùng trầu cau, điều này đúng với cả tài liệu khảo cổ, với những quả cau được tìm thấy trong các mộ thời Đông Sơn, hay với những ghi chép lịch sử trong sách Thủy Kinh chú: “‘Hoàn vũ ký’ nói, theo phong tục Giao Châu, người đi hỏi vợ, trước tiên phải đưa hai mâm cau, khi nào nhà gái ăn hết mới thành thân.”  [44]

Về truyện bánh Chưng (bánh Dày), thì khảo cổ cũng tìm thấy những dấu tích chứng minh về sự tồn tại của bánh Chưng [45]. Người Việt ngày nay vẫn tiếp tục làm bánh Chưng trong những ngày tết, không chỉ trong ngày tết, mà các dịp quan trọng, hay trong đời sống thường ngày, thì bánh Chưng bánh Dày cũng thường xuyên hiện diện trên mâm cúng, trong những bữa ăn của người Việt, thể hiện vai trò quan trọng của nó đối với văn hóa của người Việt.

Truyện Bạch Trĩ nhắc tới tục nhuộm răng, xăm mình, tục nhuộm răng được người Việt duy trì tới tận thời hiện đại, ngày nay vẫn còn thấy những bà cụ với hàm răng đen nhánh đang còn nguyên vẹn. Trong khảo cổ học, thì trong văn hóa Đồng Đậu cũng đã tìm thấy bộ hài cốt có tục nhuộm răng đen. [46]. Người Việt ít nhất tới thời nhà Trần vẫn tiếp tục duy trì tục xăm mình, sau vào thời Trần Anh Tông mới bỏ, bị gắn với hình ảnh những tội nhân, làm người Việt ác cảm với phong tục này.

Như vậy, những chi tiết về phong tục tập quán trong các truyền thuyết thời Hùng Vương được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái đều cho chúng ta thấy những cơ sở thực tế từ khảo cổ học, từ phong tục tập quán của người Việt ngày nay, vừa cho thấy sự chính xác của các câu chuyện trong Lĩnh Nam chích quái, chứng minh nó không phải sáng tạo của Trần Thế Pháp, vừa cho thấy người Việt kế thừa rất trọn vẹn những phong tục tập quán quan trọng nhất của dân tộc trong thời kỳ Hùng Vương, với một sức sống rất lâu bền.

2. Các di tích thờ tự các nhân vật thời kỳ Hùng Vương và Hồng Bàng:

Các tác giả Liam Kelley và Trần Trọng Dương dường như cũng “vô tình” quên mất rằng người Việt có tới hàng nghìn di tích thờ tự các nhân vật thời Hùng Vương, một ngôi đền, thì có thể cho rằng đó là sự ngụy tạo, nhưng hàng nghìn di tích, đó lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Không ai có thể ngụy tạo được hàng nghìn di tích, và có những ghi chép rõ ràng về tên tuổi, nguồn gốc của từng vị được ghi chép trong các thần phả.

Bên cạnh đó, người Việt còn rất đầy đủ các đền thờ các nhân vật trong truyện họ Hồng Bàng, cũng không ai có thể bắt ép người Việt phải tôn thờ những nhân vật không có thực, xem đó là Tổ của mình, mà lại rất đầy đủ các nhân vật như vậy. Các đền thờ không ngẫu nhiên mà xuất hiện, các phong tục cổ được lưu truyền liên quan tới các nhân vật thời Hùng Vương và thời Hồng Bàng cũng không thể được “kiến tạo”, tâm thức dân gian luôn lưu truyền những giá trị cốt lõi văn hóa quan trọng nhất của dân tộc mình, những phong tục, lễ hội được người dân lưu truyền như một truyền thống quan trọng nhất của mình, những phong tục có khi vẫn nguyên vẹn về hình thức, ý nghĩa như thời kỳ cổ đại.

Trong các di tích đền thờ tại vùng miền Bắc Việt Nam, thì tại đây có đầy đủ các di tích thờ tự các vị Tổ của người Việt trong truyện họ Hồng Bàng:

– Thần Nông: tại vùng Bắc Giang có nhiều nơi vẫn giữ được tục thờ Thần Nông và các tín ngưỡng cổ xưa liên quan tới Thần Nông: tục thờ thần Tri Nông, thờ Tứ Pháp, xã Lương Phong, tục cướp bò vua, xã Hoàng An, tục rước bông dò trong lễ hội Y Sơn, xã Hòa Sơn ở Hiệp Hòa; tục thờ Thần Nông trong lễ hội Tòng Lệnh, xã Trường Giang (Lục Nam). [47]

– Kinh Dương Vương: đền thờ Thủy Tổ Kinh Dương Vương được đặt tại thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. [48]

Vua Động Đình: hay Vua Cha Bát Hải Động Đình, là Cha của Mẫu Thần Long cũng được người Việt thờ tự tại đền Đồng Bằng tại xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, Tỉnh Thái Bình. [49]

– Thần Long: Mẫu Thần Long là người sinh ra Cha Lạc Long Quân, bà nội của các vị vua Hùng được thờ tự tại phường Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. [50]

– Lạc Long Quân: Cha Lạc Long Quân được thờ tự tại nhiều địa điểm, tại phố Xích Đằng, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên [51], làng Bình Đà, xã Bình Minh, Thanh Oai, Hà Nội [52].

– Âu Cơ: Mẹ Âu Cơ được thờ tự tại Đền thờ Mẫu Âu Cơ, nay ở xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. [53]

Hùng Vương: Đền thờ Hùng Vương hiện nay vẫn còn trên núi Nghĩa Lĩnh, đất Phong Châu, ngày nay là xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đền được bắt đầu xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng, khi dân tộc Việt giành lại được độc lập, sau đó tới thời Hậu Lê được xây dựng tới quy mô hoàn chỉnh như ngày nay. Bên cạnh đó, theo thống kê, thì trên cả nước có 1.417 di tích thờ các nhân vật thời Hùng Vương, riêng tỉnh Phú Thọ, là nơi đóng đô của triều Hùng Vương, có 345 di tích thờ Hùng Vương và các nhân vật thời Hùng Vương. [54]

Từ đây chúng ta thấy được người Việt vẫn luôn ý thức đây là những vị Tổ của dân tộc mình, cùng với sự lưu truyền của truyện họ Hồng Bàng, thì truyền thuyết và các di tích thờ tự đã được người Việt duy trì song hành, giúp người Việt ý thức về nguồn gốc của mình. Việc thờ tự cũng được người Việt xem trọng, giữ gìn trong suốt hàng nghìn năm lịch sử ở thời kỳ độc lập của dân tộc mình. Những bằng chứng này chứng minh tính thực tế của truyện họ Hồng Bàng, hoàn toàn không ngẫu nhiên mà người Việt lại thờ tự đầy đủ các nhân vật thời Hồng Bàng và thời Hùng Vương đã được chép trong truyện Lĩnh Nam chích quái như vậy.

IV. Truyện họ Hồng Bàng trong dân gian và các dân tộc anh em của người Việt:

Liam Kelley đã phủ nhận quan điểm cho rằng truyện họ Hồng Bàng được truyền trong văn hóa dân gian, đây là điểm quan trọng mà tác giả này tập trung vào để phủ nhận giá trị những ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái, nhưng, trong thực tế, truyện họ Hồng Bàng thực sự là một câu chuyện được truyền trong dòng văn hóa dân gian, chúng tôi đã tìm thấy một phiên bản khác dân dã hơn được truyền trong dân gian, có sự tương đồng và khác biệt so với truyện họ Hồng Bàng được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái.

1. Phiên bản truyện họ Hồng Bàng trong dân gian:

Nhà nghiên cứu Vũ Kim Biên đã thực hiện tổng hợp, thu thập các truyền thuyết của người Việt trong vùng đất Tổ Phú Thọ [55], trong số các câu chuyện ông thu thập được, có cả câu chuyện về họ Hồng Bàng. Đây là tư liệu vô cùng quan trọng, chứng minh rằng truyện họ Hồng Bàng thực sự được truyền trong văn hóa dân gian, tiếp tục được người Việt vùng Phú Thọ giữ gìn cho tới tận ngày nay. Sau đây chúng tôi sẽ dẫn nguyên bản truyện họ Hồng Bàng được truyền trong dân gian, sau đó sẽ thực hiện phân tích và so sánh giữa hai bản truyện dân gian và trong sách Lĩnh Nam chích quái.

HỌ HỒNG BÀNG [55]

Tục truyền rằng vua đầu nước ta hiệu Kinh Dương Vương và vua đầu Bắc quốc hiệu Đế Nghi là hai anh em, con ngài Đế Minh, cháu 3 đời Viêm Đế Thần Nông. Viêm Đế Thần Nông là vị thần coi về trồng trọt ngũ cốc cho loài người.

Một hôm Ngọc Hoàng thượng đế trông xuống cõi trời Nam, thấy trên mặt đất phần lớn là hoa quả, ít ngũ cốc, mới bảo Thần Nông rằng:

Ta sắc chỉ sai nhà ngươi xuống trần gian giúp cho giống người da vàng trồng lúa làm lương ăn.

Thần Nông bèn hội họp con cháu kể lại sắc chỉ của Ngọc Hoàng. Đế Minh là cháu ba đời nói rằng: – Công việc mùa màng ở hạ giới rất vất vả. Vậy cháu xin đi thay.

Thần Nông khen Đế Minh là hiếu thảo, đưa cho hai hạt thóc, một để ăn, một để làm giống đem đi.

Đế Minh và vợ đáp mây lành xuống ở núi Nghĩa Lĩnh. Hàng ngày hai vợ chồng cập một hạt thóc lấy bột gạo ăn, còn chiếc vỏ trấu để lại, sau dân thờ làm trấu thần.

Lại nói việc dạy dân trồng lúa vùng cao thì ông bà con dậy họ phát nương đốt trà, chọc lỗ tra hạt (đao canh), vùng thấp thì đợi nước sông rút cạn, ruộng bãi đã thối ngấu cây cỏ, lấy trang cao mà đấy cho sục bùn, đều phẳng, rồi gieo giống thuỷ nậu). Lại dạy dân bỏ gạo vào ống tre đốt làm cơm mà ăn, bắt tôm cá làm mắm, dùng gừng giềng làm gia vị, chưng cất gạo lấy rượu uống; bắc gỗ làm nhà sàn để tránh hổ sói; cưới xin thì lấy gói đất làm đầu, giết trâu dê làm đồ lễ, nấu cơm nếp nhập phòng cùng ăn, sau đó mới thành thân. Đẻ có ra lấy lá chuối lót cho nằm. Khi có người chết thì giã cối làm hiệu để bản làng đến cứu giúp.

Đế Minh sinh được hai con trai, anh là Lộc Tục em là Lộc Linh. Một hôm có sứ của Ngọc Hoàng xuống triệu Đế Minh về trời. Ông gọi hai con đến bảo:

Ngọc Hoàng sai ta xuống hạ giới có kỳ hạn, nay đã làm xong việc. Trước khi về Trời ta phong cho Lộc Tục cai quản Phương Bắc. Lộc Linh cai quản phương Nam.

Lộc Tục nhường em Phương Bắc, còn mình ở Phương Nam. Đế Minh nghĩ “Lộc Tục thông minh hơn cho đất rộng hơn, chẳng ngờ lại từ tạ”, bất đắc dĩ cũng bằng lòng.

Lộc Linh nhận Phương Bắc xưng là Đế Nghi.

Lộc Tục nhận Phương Nam xưng là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương có tài đi lại dưới nước, gặp Thần Long Nữ con gái vua Động Đình Hồ nhan sắc đẹp tươi, bèn lấy làm vợ. Thần Long Nữ sinh ra một người con trai mình đầy vẩy rồng, đặt tên là Sùng Lãm

Sùng Lãm nối ngôi cha xưng hiệu là Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân đi tuần thú tới động Lăng Xương gặp tiên nữ Âu Cơ hái dâu bên bờ sông Đà bèn lấy làm vợ đưa về ở núi Nghĩa Lĩnh. Âu Cơ có mang ba năm ba tháng mười ngày, đến giờ Ngọ ngày 25 tháng chạp năm Giáp tý chuyển dạ sinh ra một bọc trăm trứng. Hôm ấy trời xanh nắng ấm, mây lành ấp núi, hương thơm ngan ngát đầy phòng.

Long Quân cho triệu triều thần đến lập đàn tế cáo trời đất. Các loài sơn cầm thuỷ tộc đều đến châu mừng. Ngày 15 tháng giêng năm Ất sửu trăm quả trứng nở thành trăm con trai. Những người con này không bú mớm, chỉ ăn hoa quả, không nói năng, mỗi ngày cười 3 lần. Bỗng một hôm tất cả đều hô vang “Trời sinh vua trị nước, thiên hạ thái bình”. Vợ chồng Âu Cơ rất mừng rỡ, nhưng không biết làm thế nào để phân biệt được đàn con đông đúc ấy, bèn đem lễ vật mời ông Tiên ngồi câu cá ở bến Việt Trì lên đặt tên cho từng người. Tiên ông đặt tên cho người con cả là Lân Lang, chín mươi chín người em cũng đều gọi là Lang như Xích Lang, Quynh Lang, Mật Lang…

Long Quân bảo Âu Cơ rằng:

“Ta là giống Rồng đứng đầu thuỷ tộc. Nàng là giống Tiên Sống ở trên núi. Tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thuỷ hoả tương khắc khó ở lâu với nhau được, nay phải chia ly, ta đem 50 người con về miền bể chia trị các xứ, cho 50 con theo nàng lên núi, chia nước mà trị. Lên núi xuống bể hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên”. Trước khi đi, Long Quân phong cho người con trưởng làm vua và bảo các con rằng: “Giống sơn nam và giống thuỷ tộc thường ghét nhau. Hãy lấy mực xăm mình cho giống giao long thì lội xuống nước mới không bị hại”. Lại dặn khi nào có nguy cấp thì gọi to: “Bố ơi về cứu con. Ta sẽ đến ngay”

Lân Lang bèn xưng là Hùng Quốc Vương, đóng đô Việt Trì, đặt tên nước là Văn Lang, chia làm 15 bộ sai các em đi trấn giữ. Kể từ đây các đời vua nối đều lấy hiệu là Hùng Vương, truyền được 18 đời.

2. Sự tương đồng và khác biệt của hai bản truyện họ Hồng Bàng:

Từ phiên bản truyện truyền trong dân gian này, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh giữa hai bản truyện, để có thể thấy được cốt lõi sự thật của câu truyện họ Hồng Bàng được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái, về cơ bản, cả hai bản truyện đều có cốt lõi tương đồng với nhau, hầu như không có sự khác biệt trong nội dung chính của truyện. Sự khác biệt chỉ tới từ những chi tiết ngoài những chi tiết cốt lõi.

So sánh nội dung chính các bản truyện:

Truyện họ Hồng Bàng trong văn hóa dân gian: Đế Minh là cháu ba đời của Thần Nông, Đế Minh sinh ra Lộc Tục và Lộc Linh, ban cho Lộc Linh làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam, Lộc Tục lên ngôi lấy hiệu là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương tới vùng hồ Động Đình, cưới bà Thần Long Nữ là con gái của vua Động Đình Hồ, sinh ra Sùng Lãm, Sùng Lãm thay cha làm vua, lấy hiệu Lạc Long Quân. Lạc Long Quân cưới Âu Cơ, sinh ra bọc trăm trứng, tuy nhiên, sau đó Lạc Long Quân và Âu Cơ phải chia ly do thủy hỏa không tương hợp, Âu Cơ đưa 50 người con về vùng miền Bắc Việt Nam, lập nên quốc gia Văn Lang, con trưởng của Mẹ Âu Cơ lên ngôi lấy hiệu là Hùng Vương, lập nước Văn Lang, sai các em trấn giữ các vùng. [55]

Truyện họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái: Đế Minh là cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông, ông sinh ra Đế Nghi, đi tuần tới Ngũ Lĩnh gặp và kết duyên với nàng Vụ Tiên, sinh ra Lộc Tục. Đế Minh có ý nhường ngôi cho Lộc tục, nhưng Lộc Tục cố nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh lập Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục lên ngôi lấy hiệu Kinh Dương Vương, đặt hiệu là Xích Quỷ Quốc. Kinh Dương Vương cưới con gái vua Động Đình là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm, Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Sùng Lãm, lấy hiệu Lạc Long Quân. Lạc Long Quân kết duyên với Âu Cơ. Lạc Long Quân và Âu Cơ kết duyên sinh ra bọc trăm trứng, là thủy tổ của Bách Việt. Lạc Long Quân và Âu Cơ, một dương, một âm, thủy hỏa tương khắc, nên đã phải biệt ly, 50 con trai theo cha về Thủy phủ, 50 con theo mẹ về Việt Nam, suy tôn con trưởng lên làm Hùng Vương, lấy quốc hiệu Văn Lang, sai các em phân trị các vùng. [24]

Những điểm khác biệt giữa hai câu chuyện:

Chúng ta đã thấy được sự tương đồng trong tất cả những chi tiết cốt lõi của truyện, ở những chi tiết phụ, từ những phân tích của chúng tôi sẽ thấy được sự khác biệt giữa hai bản truyện.

Trong chi tiết về cuộc hôn nhân giữa Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ, thì sự khác biệt giữa hai câu chuyện là rất lớn, trong truyện truyền trong dân gian, sự kết đôi giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ là rất giản dị, nhưng trong sách Lĩnh Nam chích quái, lại là một câu chuyện đầy tính điện ảnh, với cả những chi tiết ma quái, loạn luân.

Truyện họ Hồng Bàng trong dân gian chép: “Lạc Long Quân đi tuần thú tới động Lăng Xương gặp tiên nữ Âu Cơ hái dâu bên bờ sông Đà bèn lấy làm vợ đưa về ở núi Nghĩa Lĩnh. Âu Cơ có mang ba năm ba tháng mười ngày, đến giờ Ngọ ngày 25 tháng chạp năm Giáp tý chuyển dạ sinh ra một bọc trăm trứng. Hôm ấy trời xanh nắng ấm, mây lành ấp núi, hương thơm ngan ngát đầy phòng.” [55]

Truyện họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái chép: “Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc; nhân khi thiên hạ vô sự, sực nhớ đến chuyện ông nội là Đế Minh nam tuần gặp được tiên nữ, Đế Lai bèn khiến Xi Vưu tác chủ quốc sự mà nam tuần qua nước Xích Quỷ, thấy Long Quân đã về Thủy phủ, trong nước không vua, mới lưu ái thê là Âu Cơ cùng với bộ chúng thị thiếp ở lại hành tại. Đế Lai chu lưu khắp thiên hạ, trải xem tất cả hình thể, trông thấy kỳ hoa dị thảo, trân cầm dị thú, tê tượng, đồi mồi, kim ngân, châu ngọc, hồ tiêu, nhũ hương, trầm đàn, các loại sơn hào hải vị không thứ nào là không có; khí hậu bốn mùa lại không nóng không lạnh, Đế Lai ái mộ quá, quên cả ngày về. Nhân dân nước Nam khổ về sự phiền nhiễu, không yên ổn như xưa, đêm ngày mong đợi Long Quân về nên mới đem nhau kêu rằng: – Bố ở phương nào, nên mau về cứu nhân dân.

Lạc Long Quân bỗng nhiên lại về, thấy nàng Âu Cơ ở một mình, dung mạo đẹp lạ lùng, yêu quá, mới hóa ra một chàng nhi lang phong tư mỹ lệ, tả hữu thị tùng đông đảo, tiếng đàn ca vang đến hành tại. Âu Cơ trông thấy mà lòng cũng ưng theo; Long Quân bèn rước nàng về núi Long Trang. Đế Lai về không thấy Âu Cơ bèn sai quần thần tìm khắp thiên hạ. Long Quân có thần thuật, biến hiện trăm cách, nào là yêu tinh quỷ mị, nào là long xà hổ tượng, kẻ đi tìm úy cụ, không dám lục đảo tận cùng. Đế Lai trở về Bắc, lại truyền ngôi cho Đế Đu, cùng với Hoàng Đế đánh nhau ở Bản Tuyền không hơn nên tử trận; họ Thần Nông bèn mất. Âu Cơ ở với Lạc Long Quân giáp một năm, sinh ra một bọc trứng, cho là điềm không hay nên đem bỏ ra ngoài đồng nội; hơn bảy ngày, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai, nàng đem về nuôi nấng, không phải cho ăn, cho bú mà tự nhiên trường đại, trí dũng song toàn, ai cũng úy phục, bảo nhau đó là những anh em phi thường. Long Quân ở lâu dưới Thủy phủ; mẹ con ở một mình, nhớ về Bắc quốc liền đi lên biên cảnh; Hoàng Đế nghe tin lấy làm sợ mới phân binh trấn ngự quan tái; mẹ con không về Bắc được, đêm ngày gọi Long Quân: – Bố ở phương nào làm cho mẹ con ta thương nhớ.” [24]

Sự khác biệt gần như là hoàn toàn. Trong phiên bản chuyện dân gian, thì cuộc hôn nhân của Cha Rồng và Mẹ Tiên chỉ đơn giản là sự gặp gỡ và kết duyên, rồi sinh bọc trứng và hình thành người Việt, nhưng trong sách Lĩnh Nam chích quái, thì là một câu chuyện đầy tính điện ảnh và ma quái, khi Đế Lai tuần xuống phía Nam, đem theo Âu Cơ là ái thê của mình, Đế Lai lưu Âu Cơ tại hành tại, Lạc Long Quân gặp Âu Cơ, yêu nàng rồi cưới nàng về làm vợ, Đế Lai không thấy Âu Cơ nên đi tìm, Lạc Long Quân sử dụng những phép thuật ma quái để ngăn cản Đế Lai, sau Đế Lai chịu thua phải đi về phương Bắc. Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, truyện lại cho đây là một điềm không hay. Đây là những chi tiết cơ bản trong truyện, chúng ta cảm giác khó mà chấp nhận được nguồn gốc dân tộc mình lại từ một hoàn cảnh như vậy. Trong phiên bản dân gian, thì chi tiết về bọc trăm trứng lại là điềm lành, cho thấy sự khác biệt lớn giữa hai phiên bản truyện.

Từ đó chúng ta thấy được, truyện họ Hồng Bàng trong sách Lĩnh Nam chích quái đã thu lượm từ dân gian, sau đó có những chỉnh sửa nội dung truyện, thêm thắt những chi tiết liên quan tới mối quan hệ giữa Lạc Long Quân, Âu Cơ, cho rằng hai người có họ hàng, câu chuyện hôn nhân cũng bị biến thành một tình huống cướp vợ, anh em tương tàn và cả sự loạn luân, trong chuỗi câu chuyện, cũng xảy ra những chi tiết đầy ma quái, khó tin. Chắc chắn người Việt không ai muốn nguồn gốc của dân tộc mình lại là từ những nhân vật ma quái, hình thành từ một hoàn cảnh trái với luân thường đạo lý như vậy.

Chúng tôi cho rằng việc thêm thắt câu chuyện trong sách Lĩnh Nam chích quái bắt nguồn từ việc tác giả cuốn sách chủ định viết một cuốn sách chép về truyện lạ của vùng Lĩnh Nam, cái tên “Lĩnh Nam chích quái” cho thấy điều đó, từ cách tiếp cận này, có thể thấy nó giống như thể loại với sách Liêu Trai chí dị của Trung Quốc. Thể loại truyền kỳ vốn có motif kỳ quái, hoang đường được lồng ghép các chi tiết thực tế, nhiều khả năng, tác giả Trần Thế Pháp đã thêm thắt câu chuyện gốc, nhằm mục đích đưa nó trở nên hấp dẫn hơn, có tính truyền kỳ hơn, nhưng vô tình đã làm sai lệch nguồn gốc người Việt.

Kết luận:

Thông qua bản truyện truyền trong dân gian, chúng ta đã thấy được rằng sách Lĩnh Nam chích quái đã được chỉnh sửa theo xu hướng truyền kỳ, thay đổi một số chi tiết trong truyện, nhưng những chi tiết cốt lõi của truyện họ Hồng Bàng trong sách Lĩnh Nam chích quái vẫn giữ nguyên nội dung gốc, không có sự thay đổi đáng kể. Vậy nên, chúng ta có thể kết luận rằng truyện họ Hồng Bàng trong sách Lĩnh Nam chích quái về cơ bản là có cốt lõi sự thật, tương đồng với các nghiên cứu di truyền, khảo cổ.

3. Truyền thuyết họ Hồng Bàng trong dân gian và trong tâm thức người Mường – Thái:

Không chỉ người Việt, mà người Mường và người Thái cũng có những truyền thuyết có sự tương đồng với truyền thuyết họ Hồng Bàng của người Việt, cũng với ý thức về Tiên – Rồng hay hai nhân vật đối lập làm nên nguồn gốc của dân tộc họ.

Trong truyền thuyết của người Mường, thì người Mường vốn là hậu duệ của nàng công chúa Hươu sao: Ngu Cơ, với chàng hoàng tử Cá chép: Lương Vương con vua Yịt (Việt). Cuộc hôn phối huyền thoại của mẹ Hươu và bố Cá, giống ở cạn/núi và giống ở thấp/nước, có kết quả là 100 người con. Huyền thoại Mường ghi nhận, bất hòa đã nổ ra, nàng Hươu sao và chàng Cá thường xuyên cãi vã, cuối cùng, đường ai nấy đi. Nàng Hươu sao dẫn 50 con lên miền núi đồi khai sinh dòng vua áo đen, còn chàng Cá đem 50 con về miền cửa sông khai sinh dòng vua áo vàng. [56][57]

Về truyền thuyết của người Thái, thì họ cho rằng dân tộc mình là sự kết hợp của chim én – loài chim biểu tượng của linh hồn đẳm pú (đàn ông, phía cha) và thuồng luồng, loài rắn lớn sống dưới nước và có thể lên cạn, biểu tượng của đẳm nái (đàn bà, phía mẹ). Cầm Trọng nhấn mạnh, đây là motif hoàn toàn thống nhất với truyện họ Hồng Bàng, vì cơ bản, nguyên lý của nó là biểu tượng của hai thị tộc lưỡng hợp. Khi đã lưỡng hợp thì trai bên rắn lấy gái bên tiên (như Việt), và có thể diễn ra tiến trình ngược lại (như Thái). [56][58]

Về nguồn gốc dân tộc, thì người Thái có nguồn gốc từ cộng đồng tộc Việt, người Mường tách ra khỏi người Việt muộn trong lịch sử [3]. Những dẫn chứng về truyền thuyết khởi nguyên các dân tộc này đã cho thấy rằng ý thức Tiên – Rồng về sự hình thành dân tộc không chỉ có ở người Việt, mà còn có ở các dân tộc có nguồn gốc tộc Việt khác, cho thấy được đây thực sự là câu chuyện khởi nguồn của cộng đồng tộc Việt, và nó cũng trực tiếp chứng minh tính thực tế đây là những câu chuyện được lưu truyền trong văn hóa dân gian, sau mới được truyện Lĩnh Nam chích quái chép thành văn, không phải một sự kiến tạo của các nhà nho thời trung đại.

V. Đánh giá các giả thuyết về nguồn gốc truyện họ Hồng Bàng:

1. Truyện họ Hồng Bàng có phải là một truyền thống được kiến tạo không?

Câu trả lời rõ ràng là không, truyện họ Hồng Bàng là một câu chuyện được truyền trong văn hóa gian, sau đó mới được chép thành văn vào thời nhà Trần. Khi ghi chép, nội dung của truyện đã bị thay đổi ở một số chi tiết, nên có phần khác với phiên bản gốc, nhưng so với truyện truyền trong dân gian, thì cả hai bản đều có nội dung cốt lõi giống hệt nhau, hầu như không có sự khác biệt nào, sự khác biệt là ở những chi tiết phụ.

Từ những ghi chép trong dân gian, thì Ngô Sĩ Liên, người soạn cuốn Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi về lịch sử họ Hồng Bàng lại vào trong cuốn sách của mình, chắc chắn ông không phải tham khảo từ cuốn Lĩnh Nam chích quái, bởi cuốn Lĩnh Nam chích quái còn có sự sai lệch so với phiên bản gốc được truyền trong dân gian. Không chỉ Ngô Sĩ Liên, mà còn nhiều tác giả, tác phẩm khác của người Việt qua các triều đại đều công nhận về sự tồn tại của thời Hồng Bàng và thời Hùng Vương, xem đó như khởi nguyên của dân tộc Việt.

2. Có tồn tại hay không thời kỳ Hùng Vương?

Câu trả lời chắc chắn là có, thời kỳ Hùng Vương hiện hữu trên cả khảo cổ, lịch sử, trong cả những di tích đền đài thờ tự các vua Hùng và các nhân vật thời Hùng Vương. Liam Kelley đã dựa trên sự suy diễn chủ quan để cho rằng thời Hùng Vương không tồn tại, nhưng ông cũng đã cố tình bỏ qua những chi tiết quan trọng như chúng tôi đã đề cập ở trên. Tất cả những bằng chứng đều chứng minh thời Hùng Vương tồn tại.

Thời Hùng Vương khởi nguyên từ miền Bắc Việt Nam với văn hóa Phùng Nguyên, có nguồn gốc từ các văn hóa trong vùng Dương Tử, những ghi chép đã cho thấy rằng người Việt của văn hóa Phùng Nguyên là thành phần cốt lõi của các nhà nước trong vùng Dương Tử, là hậu duệ trực tiếp của họ Hồng Bàng, chính là tầng lớp tinh hoa của tộc Việt, sự quan trọng của nhóm tinh hoa này được thể hiện rất rõ trong những chiếc Nha chương của văn hóa Phùng Nguyên, đây cũng là biểu trưng cho thấy, trong văn hóa Phùng Nguyên, người Việt nhiều khả năng đã có một nhà nước, với sự kế thừa trực tiếp từ tổ chức các nhà nước vùng Dương Tử. Sự phát triển liên tục từ thời kỳ Phùng Nguyên tới Đông Sơn và cho tới hiện tại, cho thấy người Việt là hậu duệ trực tiếp của các vị vua Hùng và họ Hồng Bàng.

3. Truyện họ Hồng Bàng có phải có nguồn gốc từ truyện Liễu Nghị không?

Từ các nghiên cứu trên, chúng ta cũng có thể trả lời một cách dứt khoát là: KHÔNG! Truyện họ Hồng Bàng không phải có nguồn gốc từ truyện Liễu Nghị, nó được người Việt sáng tác từ rất sớm, nếu chiếu theo niên đại mà câu chuyện dừng lại, thì ít nhất đã có từ 4000 năm trước tương ứng với văn hóa Phùng Nguyên, truyện Liễu Nghị mới chỉ sáng tác vào thời nhà Đường. Bên cạnh đó, thì người dân trong vùng Động Đình vẫn tiếp tục lưu truyền những truyền thuyết liên quan tới hồ Động Đình, về vua của Động Đình, bởi luôn luôn có vết tích kế thừa, khi những cư dân ở lại, bị đồng hóa vẫn tiếp tục lưu truyền những truyền thuyết từ thời cổ đại. Vậy nên, câu chuyện Liễu Nghị được sáng tạo trên nền tảng mà người Việt đã phát triển trong thời gian sinh sống ở đây, nên đã có sự tương đồng, nên không có chuyện truyện này ảnh hưởng tới người Việt, mà ngược lại, truyện Liễu Nghị chịu ảnh hưởng từ truyền thuyết của người Việt trong vùng Động Đình. Hiện tại người Việt vẫn kế thừa ý thức về vua của hồ Động Đình, khi Vua Cha Bát Hải Động Đình được người Việt thờ tự tại tỉnh Thái Bình. [49]

Việc cho rằng truyện họ Hồng Bàng có nguồn gốc từ truyện Liễu Nghị là biểu hiện của hệ tư tưởng độc hại, khi có quan điểm cho rằng tất cả mọi di sản của người Việt ngày nay đều có nguồn gốc từ Trung Quốc, họ cho rằng người Việt có nguồn gốc từ Trung Quốc, sinh sau đẻ muộn, là một phiên nhánh của Trung Quốc, từ văn hóa, kiến trúc, trang phục, ngôn ngữ, lịch sử, tất cả đều có nguồn gốc từ Trung Quốc. Trần Trọng Dương và Liam Kelley cũng bỏ qua những thực tế rất quan trọng về mốc niên đại các truyện, về nguồn gốc dân tộc, về những di tích thờ tự tại Việt Nam, về những ghi chép trong lịch sử, về những truyền thuyết trong dân gian, tập trung vào một số điểm tương đồng với những lập luận có phần mờ ảo, không rõ ràng để chứng minh cho quan điểm của mình.

Thực tế như chúng ta đã thấy, truyện họ Hồng Bàng thực sự là câu chuyện ghi lại trọn vẹn nguồn gốc của dân tộc Việt, không phải là một truyền thuyết có nguồn gốc ngoại lai hay là một truyền thống được kiến tạo như quan điểm của tác giả Trần Trọng Dương và Liam Kelley.

4. Truyện họ Hồng Bàng có phải có nguồn gốc từ Hoa Dương quốc chí không?

Câu trả lời tất nhiên cũng là không. Liam Kelley chỉ dựa vào sự tương đồng trong cách dẫn để suy diễn cho rằng người Việt đang cố kết nối với một nhân vật của người Hoa Hạ, nhưng Liam Kelley đã bỏ qua chi tiết rằng Hoàng Đế mới thực sự là tổ tiên của người Hoa Hạ, Hoàng Đế đánh bại Viêm Đế, đó mới là khởi đầu cho sự hình thành của người Hoa Hạ. Vì vậy, Viêm Đế chắc chắn không phải tổ của họ, họ chỉ nhận Viêm Đế nhằm mục đích thống nhất và hòa hợp với cư dân trong đất của Viêm Đế mà họ đang cai trị mà thôi. Người Ba Thục về nguồn gốc rõ ràng cũng cho thấy là họ có nguồn gốc gần với người Hoa Hạ [59], nên không thể xem đây là một ví dụ cân xứng để so sánh với truyền thuyết của người Việt.

Nên có thể kết luận lại, hoàn toàn không đủ cơ sở để khẳng định truyện họ Hồng Bàng có nguồn gốc từ Hoa Dương quốc chí. Viêm Đế Thần Nông là Tổ trực tiếp của người Việt, ngày nay, người Việt vẫn tiếp tục thờ tự ngài, cho thấy được ý thức lưu truyền về việc Thần Nông là Tổ xa nhất của dân tộc Việt.

VI. Kết luận:

Thông qua những khảo cứu kỹ lưỡng và toàn diện của chúng tôi, có thể thấy rằng truyện họ Hồng Bàng là “thánh kinh” của người Việt, ghi chép lại lịch sử khởi nguyên của dân tộc Việt, được lưu truyền theo hình thức truyền miệng, trong bối cảnh người Việt đang phải sống dưới ách đô hộ của người Hoa Hạ, chắc chắn không bất cứ tài liệu thành văn nào có thể tồn tại được, từ sự truyền miệng trong dân gian, tác giả Lĩnh Nam chích quái đã chép thành văn vào cuốn sách này cùng với các truyền thuyết thời Hùng Vương, với sự thêm thắt, sửa đổi nhưng vẫn giữ nguyên cốt lõi truyện. Các chi tiết cốt lõi trong truyện đã cho thấy sự chính xác với các nghiên cứu di truyền, khảo cổ về nguồn gốc của người Việt. Không chỉ vậy, nó cũng chính xác với cả các ghi chép lịch sử, với thời kỳ Hùng Vương được hầu hết các bằng chứng về khảo cổ, lịch sử, di tích chứng minh sự tồn tại.

Vì vậy, những kết luận của các tác giả Trần Trọng Dương và Liam Kelley hoàn toàn không có giá trị, không chính xác với thực tế lịch sử. Truyện họ Hồng Bàng chính là khởi nguyên của dân tộc Việt, hay rộng hơn là tộc Việt, nó được người Việt sáng tạo ra nhằm lưu giữ nguồn gốc của dân tộc mình, không phải là “một truyền thống được kiến tạo” hay sự vay mượn từ bên ngoài như các đề xuất của Liam Kelley và Trần Trọng Dương. Khởi nguyên nhận thức về thời Hùng Vương hay thời Hồng Bàng đã có từ trước thời nhà Lê và nhà Trần. Những ghi chép của người Việt sau thời nhà Lê cũng đã góp phần chứng minh ý thức về thời kỳ Hùng Vương. Tựu chung lại, thời kỳ Hùng Vương là có thật, truyện họ Hồng Bàng là do người Việt sáng tạo nên, nó cũng được chứng minh có cơ sở thực tế. Vậy nên, các bài viết của các tác giả Liam Kelley và Trần Trọng Dương là hoàn toàn không chính xác.

Lang Linh
Minh họa: dự án Thần Tích.


Tài liệu tham khảo:

[1] Trần Trọng Dương (2013), Kinh Dương Vương – ông là ai?
https://tiasang.com.vn/-van-hoa/Kinh-Duong-Vuong–ong-la-ai-6723

[2] Liam C. Kelley (2013), Hoa Quốc Văn (dịch), “Hồng Bàng thị truyện” như một truyền thống được kiến tạo của người Việt Nam thời trung đại https://leminhkhaiviet.wordpress.com/2013/06/07/hong-bang-thi-truyen-nhu-mot-truyen-thong-duoc-kien-tao-cua-nguoi-viet-nam-thoi-trung-dai-full/

[3] Lang Linh (2021), Bức tranh di truyền về nguồn gốc của người Việt https://luocsutocviet.com/2021/08/19/550-buc-tranh-di-truyen-ve-nguon-goc-cua-nguoi-viet/

[4] Wells S (2007), Deep Ancestry: Inside the Genographic Project, National Geographic Society

[5] DeSalle R, Tattersall I (2008), Human Origins: What Bones and Genomes Tell Us About Ourselves, Texas A & M University Press, p152

[6] Chu JY, et al (1998), Genetic relationship of populations in China, Proceedings of National Academy of Sciences USA, 95(20): 11763-11768

[7] The HUGO Pan-Asian SNP Consortium (2009), Mapping human genetic diversity in Asia, Science, 326(5959): 1541-1545

[8] Hua Zhong, Hong Shi, Xue-Bin Qi, et al. (2010). Extended Y chromosome investigation suggests postglacial migrations of modern humans into East Asia via the northern route. Molecular biology and evolution;28(1):717-27.

[9] Chuan‐Chao WANG Shi YAN Zhen‐Dong QIN Yan LU Qi‐Liang DING Lan‐Hai WEI Shi‐Lin LI Ya‐Jun YANG Li JIN Hui LI, et al. (2013). Late Neolithic expansion of ancient Chinese revealed by Y chromosome haplogroup O3a1c‐002611.

[10] Gary Stix (2008). Traces of a distant past. Scientific American;299(1):56-63

[11] Sun, Jin & Li, Yingxiang & Ma, Pengcheng & Yan, Shi & Cheng, Hui-Zhen & Fan, Zhi-Quan & Deng, Xiao-Hua & Ru, Kai & Wang, Chuan-Chao & Chen, Gang & Wei, Ryan. (2021). Shared paternal ancestry of Han, Tai-Kadai-speaking, and Austronesian-speaking populations as revealed by the high resolution phylogeny of O1a-M119 and distribution of its sub-lineages within China. American journal of physical anthropology. 174. 10.1002/ajpa.24240.
https://www.researchgate.net/publication/349144829_Shared_paternal_ancestry_of_Han_Tai-Kadai-speaking_and_Austronesian-speaking_populations_as_revealed_by_the_high_resolution_phylogeny_of_O1a-M119_and_distribution_of_its_sub-lineages_within_China

[12] Ko AM, Chen CY, Fu Q, et al. Early Austronesians: into and out of Taiwan. Am J Hum Genet. 2014;94(3):426-436. doi:10.1016/j.ajhg.2014.02.003

[13] Đổng Sở Bình 董楚平; “Phương Việt hội thi” “方钺会矢” – Một trong những diễn giải về các nhân vật Lương Chử 良渚文字释读之一[J];东南文化;2001年03期.

[14] Đội khảo cổ Thạch Gia Hà 石家河考古队 (1999). Tiêu Gia Ốc Tích 肖家屋脊: Nhà xuất bản Văn Vật 文物出版社.

[15] Nguyễn Văn Huyên, Vinh Hoàng (1975). Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam. Hà Nội.

[16] Colin Renfrew, Bin Liu (2018). The emergence of complex society in China: the case of Liangzhu. Antiquity;92(364):975-90.
https://www.cambridge.org/core/journals/antiquity/article/abs/emergence-of-complex-society-in-china-the-case-of-liangzhu/0D4FD61E9460755CED69047FAD7FA2AD

[17] Tống Kiến 宋建 (2017). Liangzhu – một quốc gia cổ đại phức tạp bị chi phối bởi thần quyền 良渚——神权主导的复合型古国. 东南文化;(1):6-15.

[18] Zhang, Chi; Hung, Hsiao-chun (2008), “The Neolithic of Southern China-Origin, Development, and Dispersal”, Asian Perspectives, 47 (2): 299–329, doi:10.1353/asi.0.0004

[19] Li Liu, Xingcan Chen (2012). The archaeology of China: from the late Paleolithic to the early Bronze Age: Cambridge University Press.

[20] Chi Hung 洪曉純 Zhang, Hsiao-Chun (2009). The Neolithic of Southern China–Origin, Development, and Dispersal. Asian Perspectives;47.

[21] Lipson M, Cheronet O, Mallick S, Rohland N, Oxenham M, Pietrusewsky M, Pryce TO, Willis A, Matsumura H, Buckley H, Domett K, Nguyen GH, Trinh HH, Kyaw AA, Win TT, Pradier B, Broomandkhoshbacht N, Candilio F, Changmai P, Fernandes D, Ferry M, Gamarra B, Harney E, Kampuansai J, Kutanan W, Michel M, Novak M, Oppenheimer J, Sirak K, Stewardson K, Zhang Z, Flegontov P, Pinhasi R, Reich D. Ancient genomes document multiple waves of migration in Southeast Asian prehistory. Science. 2018 Jul 6;361(6397):92-95. doi: 10.1126/science.aat3188. Epub 2018 May 17. PMID: 29773666; PMCID: PMC6476732.
https://science.sciencemag.org/content/361/6397/92

[22] McColl H, Racimo F, Vinner L, Demeter F, Gakuhari T, Moreno-Mayar JV, Van Driem G, Wilken UG, Seguin-Orlando A, De la Fuente Castro C, Wasef S (2018). The prehistoric peopling of Southeast Asia. Science. 361(6397):88-92.
https://science.sciencemag.org/content/361/6397/88

[23] Bing Li, Cheng Zhu, Li Wu, Feng Li, Wei Sun, Xiaocui Wang, Hui Liu, Huaping Meng, Di Wu (2013). Relationship between environmental change and human activities in the period of the Shijiahe culture, Tanjialing site, Jianghan Plain, China
https://www.researchgate.net/publication/260850162_Relationship_between_environmental_change_and_human_activities_in_the_period_of_the_Shijiahe_culture_Tanjialing_site_Jianghan_Plain_China

[24] Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái 嶺南摭怪, bản dịch Lê Hữu Mục, nhà sách Khai Trí (1960).

[25] Jean M Green (1993). Unraveling the Enigma of the bi: The Spindle Whorl as the Model of the Ritual Disk. Asian Perspectives:105-24

[26] Chu Điềm 关喜艳、周恬 Quang Hỉ Diễn. Tiến bộ mới trong khu khảo cổ thứ tư của khu vực Khuất Gia Lĩnh ở Kinh Môn, tỉnh Hồ Bắc. Một số di tích quan trọng đã được phát hiện. 湖北荆门屈家岭遗址第四次考古取得新进展 一批重要遗物被发掘: Nhân dân hàng ngày (Trung Quốc); 2004.

[27] Trương Bằng Xuyên 张朋川 (2005). Đồ gốm vẽ Trung Quốc 中国彩陶图谱: NXB Di sản văn hóa 文物出版社.

[28] David Reich. Who we are and how we got here: Ancient DNA and the new science of the human past. 2018: Oxford University Press.

[29] Wang Yongbo 王永波. Nghiên cứu về Ruigui ở Trung Quốc cổ đại 中国上古瑞圭研究 [J] Học thuật Tử Cấm Thành, 1992 (Tập 10, Số 2) 故宫学术季刊, 1992. (第十卷 第二期):55-102..

[30] Qin Xiaoli 秦小丽. Nha chương và tầm quan trọng của nó trong việc hình thành nhà nước sơ khai của Trung Quốc 中国初期国家形成过程中的牙璋及意义[J]. Nghiên cứu văn hóa trung nguyên 中原文化研究,2017,5(04):85-94. . [J].

[31] Lang Linh (2021), Nguồn gốc của trống đồng và văn hóa Đông Sơn
https://luocsutocviet.com/2021/07/01/541-nguon-goc-cua-trong-dong-va-van-hoa-dong-son/

[32] Lang Linh (2021), Người Việt và sự kế thừa văn hóa tộc Việt
https://luocsutocviet.com/2021/05/06/531-nguoi-viet-va-su-ke-thua-van-hoa-toc-viet/

[33] Lang Linh (2020), Khảo cứu về nền văn hóa Đông Sơn
https://luocsutocviet.com/2020/10/11/502-khao-cuu-ve-nen-van-hoa-dong-son/

[34] Liu D, Duong NT, Ton ND, Van Phong N, Pakendorf B, Van Hai N, Stoneking M (2020). Extensive ethnolinguistic diversity in Vietnam reflects multiple sources of genetic diversity. Molecular Biology and Evolution.
https://doi.org/10.1093/molbev/msaa099

[35] Lang Linh (2021), Hùng Vương và Lạc Vương: từ các ghi chép lịch sử.
https://luocsutocviet.com/2021/10/13/558-hung-vuong-va-lac-vuong-tu-cac-ghi-chep-lich-su/

[36] Tích Dã, Thời đại Văn Lang – Âu Lạc trong lịch sử Việt Nam: Từ truyện ký đến tín sử
https://nghiencuulichsu.com/2019/05/10/thoi-da%cc%a3i-van-lang-au-la%cc%a3c-trong-li%cc%a3ch-su%cc%89-vie%cc%a3t-nam-tu-truye%cc%a3n-ky-den-tin-su%cc%89/

[37] Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển I – Kỷ Hồng Bàng thị, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1993.

[38] Viện sử học, Nguyễn Trãi toàn tập. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội. 1976.

[39] Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Tiền Biên, Quyển I. Nhà xuất bản Giáo Dục xuất bản. Hà Nội, 1995.

[40] Ngô Thì Sỹ, Việt Sử Tiêu Án, Họ Hồng Bàng. Văn Sử xuất bản. 1991.

[41] Thích Minh Tín (2014). Giới thiệu văn bia đời Trần xã Lại Yên, Hoài đức, Hà Nội Tạp chí Hán Nôm, số 5 (120); tr. 71-76.
http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=2294&Catid=723

[42] Lý Tế Xuyên, Việt Điện u linh tập, bản dịch Lê Hữu Mục, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1961.

[43] Chinhphu.vn, Đón Bằng công nhận Hội Gióng là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại baochinhphu.vn/Van-hoa/Don-Bang-cong-nhan-Hoi-Giong-la-di-san-van-hoa-phi-vat-the-nhan-loai/61437.vgp

[44] Lịch Đạo Nguyên, Thủy Kinh Chú Sớ, Quyển XXXVII, trang 425, Nguyễn Bá Mão dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2005.

[45] Nguyễn Việt, Từ một phát hiện mới về lá bánh trưng thời Lang Liêu.
http://www.drnguyenviet.com/?id=6&cat=1&cid=102

[46] Nguyễn Thị Đoan Trang, Tục nhuộm răng đen của người Việt, Tạp chí VHNT số 380, tháng 2-2016.
https://luocsutocviet.wordpress.com/2019/08/13/408-tim-hieu-ve-tuc-nhuom-rang-cua-nguoi-viet-xua/

[47] Đồng Ngọc Dưỡng, Tục thờ Thần Nông.
baobacgiang.com.vn/bg/dulichbg/tu-lieu-bac-giang/272988/tuc-tho-than-nong.html

[48] Lăng và đền thờ Thủy tổ Kinh Dương Vương
vufo.org.vn/Lang-va-den-tho-Thuy-to-Kinh-Duong-Vuong-35-2797.html?lang=vn

[49] Dương Tươi, Ngôi đền thiêng 4000 năm tuổi thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình
https://baophapluat.vn/ngoi-den-thieng-4000-nam-tuoi-tho-duc-vua-cha-bat-hai-dong-dinh-post333040.html

[50] Ngọc Hà, Đền Tiên – Ngôi đền Thủy Tổ Quốc Mẫu
http://www.viettri.gov.vn/tin-tuc/van-hoa-xa-hoi/den-tien-ngoi-den-thuy-to-quoc-mau-2606-37.html

[51] Hồng Thái, Đền thờ Quốc tổ Lạc Long Quân: Cội nguồn dân tộc trên đất Phố Hiến – Hưng Yên
thanhphohungyen.gov.vn/den-tho-quoc-to-lac-long-quan-coi-nguon-dan-toc-tren-dat-pho-hien-hung-yen-c214979.html

[52] Ngọc Linh, Lễ hội Bình Đà 2021: Nơi con cháu Lạc Hồng hướng về Quốc tổ Lạc Long Quân
https://vov.vn/van-hoa/di-san/le-hoi-binh-da-2021-noi-con-chau-lac-hong-huong-ve-quoc-to-lac-long-quan-851490.vov

[53] Trung An, Di tích đền Mẫu Âu Cơ: Ấm áp huyền thoại miền đất Tổ
http://www.phuthodfa.gov.vn/di-san-danh-thang-tinh-phu-tho/5318/di-tich-den-mau-au-co–am-ap-huyen-thoai-mien-dat-to.html

[54] Thu Hà, Di tích thờ cúng Hùng Vương và các vị tướng lĩnh vùng Đất Tổ.
http://baophutho.vn/den-hung/tin-nguong-hung-vuong/202104/di-tich-tho-cung-hung-vuong-va-cac-vi-tuong-linh-vung-dat-to-176361

[55] Vũ Kim Biên biên soạn (2008), Truyền thuyết Hùng Vương – Thần thoại vùng đất Tổ, Sở văn hóa thông tin Phú Thọ xuất bản.

[56] Nguyễn Mạnh Tiến, Con Rồng cháu Tiên: huyền thoại Mường – Việt – Thái. Tạp chí Sông Hương, 376/06-2020.
http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p0/c7/n29307/Con-rong-chau-tien-huyen-thoai-Viet-Muong-Thai.html

[57] Cuisinier, Jeanne (1946), Les Muong: Geographie Humaine et Sociologie. Institut d’Ethnologie, Paris.

[58] Cầm Trọng (1987), Mấy vấn đề cơ bản về lịch sử kinh tế xã hội cổ đại người Thái Tây Bắc Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

[59] Lang Linh (2021), Văn hóa Ba Thục với văn hóa tộc Việt
https://luocsutocviet.com/2021/04/09/523-van-hoa-ba-thuc-voi-van-hoa-toc-viet/

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.