531. ☀ Người Việt và sự kế thừa văn hóa tộc Việt

Văn hóa Việt là một trong các hậu duệ của nền văn hóa tộc Việt, với nền văn hoá độc lập gần nhất là văn hoá Đông Sơn, người Việt còn giữ gìn được rất nhiều đặc trưng của văn hóa tộc Việt kể cả trong dòng văn hóa dân gian lẫn văn hóa cung đình, bên cạnh đó là sự kế thừa những di sản Đông Sơn trong thời Bắc thuộc và đầu thời tự chủ. Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu và nhận diện sự kế thừa văn hóa tộc Việt và văn hóa Đông Sơn trong đời sống của người Việt thời Bắc thuộc, thời tự chủ và trong cuộc sống của người Việt ngày nay.

I. Nguồn gốc người Việt và sự kế thừa về ngôn ngữ:

1. Nguồn gốc người Việt:

Người Việt có nguồn gốc chính từ vùng Dương Tử di cư về Việt Nam khoảng 4000 năm trước theo các nghiên cứu di truyền [1][2], cư dân Dương Tử có nguồn gốc chính từ cư dân Đông Nam Á di cư lên trong thời điểm 12000 năm trước. [3][4][5][6]. Vấn đề này bạn đọc có thể tìm hiểu thêm qua bài khảo cứu chi tiết của chúng tôi về nguồn gốc của người Việt. [7]

Bản đồ minh họa nguồn gốc và tiến trình phát triển của các văn hóa cổ Đông Á của người cổ Đông Nam Á, người tiền Việt và tộc Việt. Bản đồ thể hiện vị trí và phân bố tương đối của các văn hóa lớn thời Đá mới tại vùng bắc Đông Á và nam Đông Á. (Dựa theo Liu Li và Chen Xingcan (2012) trong The Archaeology of China: From the Late Paleolithic to the Early Bronze Age.)

Người Việt có nguồn gốc từ vùng Dương Tử, tồn tại và sinh hoạt trong cộng đồng tộc Việt, họ là một phần rất quan trọng của cộng đồng này, là dân tộc duy nhất còn giữ tên Việt và còn là một quốc gia độc lập, một dân tộc độc lập, chính vì vậy người Việt vẫn còn giữ nhiều nét văn hóa của cộng đồng tộc Việt. Người Việt cũng là hậu duệ và kế thừa trực tiếp từ văn hóa Đông Sơn. Gen của người Việt khác biệt chỉ khoảng 5-10% so với gen thời Đông Sơn, các bằng chứng khảo cổ cũng cho chúng ta thấy sự kế thừa của văn hóa thời Đông Sơn được thể hiện trên cổ vật.

Công trình nghiên cứu di truyền của Viện nghiên cứu hệ gen Việt Nam, Viện Nhân chủng và tiến hóa Max Planck (Đức), Phòng thí nghiệm động lực học ngôn ngữ của Đại học Lion (Pháp) năm 2019, đã cho thấy người Việt có tỉ lệ khác biệt gen so với thời kỳ Đông Sơn chỉ là 5-10%, tức là ảnh hưởng của các nguồn khác chiếm tỉ lệ nhỏ so với nguồn gen gốc. [1]

Admixture công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu hệ gen Việt Nam, Viện Nhân chủng và tiến hóa Max Planck (Đức), Phòng thí nghiệm động lực học ngôn ngữ của Đại học Lion (Pháp) năm 2019 thể hiện gen người Việt khác biệt không đáng kể với mẫu của văn hóa Đông Sơn (Núi Nấp). [1]

Người Việt là hậu duệ của văn hóa Đông Sơn và cũng là hậu duệ của nền văn hóa tộc Việt, vì vậy các đặc trưng văn hóa của họ thể hiện những di sản của các nền văn hóa này, vấn đề này sẽ được chúng tôi khảo sát kỹ hơn ở phần sau.

2. Sự kế thừa qua ngôn ngữ:

Tộc Việt bao gồm hai hệ ngữ chính là Nam Á và Tai-Kadai, trong đó người Việt Nam Á sinh sống ở vùng đồng bằng, cư dân tộc Việt hệ ngữ Tai-Kadai sinh sống ở vùng cao, chính vì vậy người Việt Nam Á trong vùng Hoa Nam đa phần đã bị đồng hóa thành người Hán, chỉ còn người Việt và người Mường ở miền Bắc Việt Nam là còn giữ được bản sắc của mình. Việc nghiên cứu về ngôn ngữ cũng cho chúng ta thấy được sự kế thừa và giữ gìn ngôn ngữ và truyền thống của người Việt trong thời Bắc thuộc cho tới ngày nay.

Tiếng Việt thuộc hệ ngữ Nam Á (Austroasiatic), các nghiên cứu ngôn ngữ đã xác định cơ bản vấn đề này [8]. Mặc dù trải qua thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc, nhưng người Việt vẫn tiếp tục giữ được tiếng nói của mình, bảo vệ được nền tảng ngôn ngữ của dân tộc được phát triển từ thời kỳ tiền Bắc thuộc. Tiếng Việt ngày nay cũng được tài liệu ngôn ngữ xác định là hậu duệ trực tiếp của văn hóa Đông Sơn. [9]

Tiếng Việt tuy chịu ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc, có một lượng từ vựng nhất định từ mượn, nhưng lượng từ mượn không nhiều như các giả thuyết đã từng được đề xuất, như Cao Xuân Hạo cho rằng tiếng Việt mượn 70-80% tiếng Trung Quốc [10], Maspéro cho rằng có 50% từ vay mượn Trung Quốc trong tiếng Việt [11], còn Lê Xuân Thoại và Huỳnh Thanh Xuân cho rằng từ vay mượn Trung Quốc chiếm 60-70% từ vựng tiếng Việt. [12]. Các giả thuyết này chưa có sở khoa học và khảo sát kỹ lưỡng lượng từ mượn trong tiếng Việt.

Công trình của Viện nhân chủng và tiến hóa Max Planck được thực hiện năm 2009, công trình này tiến hành tìm từ gốc, từ vay mượn trong 1000-2000 từ vựng cốt lõi của 41 ngôn ngữ trên thế giới [13], trong đó phần tiếng Việt do Gs Mark J. Alves chủ trì, cho thấy trong 1477 từ tiếng Việt thường dùng chỉ có 28,1% là từ vay mượn trong đó 25,3% từ vay mượn Trung Quốc, 1,2% từ vay mượn Pháp, 0,5% từ vay mượn Proto-Tai, 0,3% từ vay mượn tiếng Anh. [14]

Học giả người Trung Quốc, Kỳ Quảng Mưu, trong luận án Tiến sĩ ngành Ngôn ngữ học tại trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, dựa vào việc khảo sát vào cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đã cho biết:

– Trong số 32.924 mục từ của Từ điển có 12.910 mục là từ Hán-Việt, tỷ lệ khoảng 39,2%.
– Trong số 12.910 mục từ Hán-Việt có 1.258 mục là từ đơn, chiếm tỉ lệ 9,7% và có 11.652 mục là từ phức, chiếm tỉ lệ là 90,3%.
– Trong số mục từ phức Hán-Việt, số lượng vay mượn nguyên khối là 9.093 từ, chiếm tỉ lệ khoảng 78% còn số lượng do người Việt tự tạo có 2.564 mục từ, chiếm tỉ lệ 22%.

Như vậy chúng ta có thể thấy được tiếng Việt mượn tiếng Hán chỉ khoảng 30%, tỉ lệ này không phải là quá nhiều. Các ngôn ngữ đều có sự giao thoa và vay mượn lẫn nhau. Các ngôn ngữ cũng có tỉ lệ từ vay mượn cao có thể kể đến như tiếng Anh với 41% từ vay mượn, Nhật Bản với 34,9% từ vay mượn, tiếng Thái với 26,1% từ vay mượn [13].

Dựa trên các cơ sở nghiên cứu trên, chúng ta có thể khẳng định được người Việt đã kế thừa ngôn ngữ của cư dân tộc Việt trong thời Đông Sơn, họ đã giữ gìn tiếng nói của dân tộc mình qua thời Bắc thuộc, và phát triển từ gốc thời Bắc thuộc thành một ngôn ngữ giàu có hơn về từ vựng nhờ hấp thu lượng từ vựng gốc Hán và biến đổi cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình.

II. Sự kế thừa thông qua các yếu tố cốt lõi văn hóa:

Các phong tục và đặc trưng văn hoá của cộng đồng tộc Việt trong thời kỳ tiền Hán thuộc được ghi chép lại khá rõ trong nhiều tài liệu lịch sử, văn hóa và cũng được các tài liệu khảo cổ hỗ trợ, các tài liệu này sẽ cho chúng ta thấy được sự kế thừa văn hóa tộc Việt của người Việt thông qua các đặc trưng văn hóa cơ bản nhất.

1. Triết lý âm dương:

Triết lý âm dương có đã xuất hiện từ rất lâu đời, xuất phát từ nền văn hóa tộc Việt, có nguồn gốc từ vùng Dương Tử, với đồ hình âm dương sớm nhất được tìm thấy tại văn hóa Khuất Gia Lĩnh và kế thừa nó là Thạch Gia Hà, nằm trong vùng trung lưu Dương Tử, là nguồn gốc chính của người Việt, cũng chính là không gian diễn ra câu chuyện về Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ trong huyền sử của người Việt.

1-2: Hình âm dương trên dọi se chỉ văn hóa Khuất Gia Lĩnh. 3: Hình âm dương trên dọi se chỉ Thạch Gia Hà. [15][16][17]

Trong câu chuyện họ Hồng Bàng, chúng ta cũng thấy rất rõ yếu tố văn hóa Âm – Dương đã in dấu rất đậm trong văn hóa của người Việt.

“Long Quân bảo: – Ta là loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống tiên, người ở trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp lại mà có con nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi trai về Thủy phủ phân trị các xứ, năm mươi trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau.” [18]

Đặc trưng văn hóa đó vẫn tiếp tục được người Việt kế thừa trong thời văn hóa Đông Sơn, với văn hóa vật Tổ kép: Tiên – Rồng, đại diện cho Âm và Dương. Hình ảnh chim Tiên xuất hiện trên hầu hết các trống đồng với tần xuất rất dày, bên cạnh đó là hình tượng Rồng được khắc trên những chiếc rìu đồng, và cả trống đồng. Cả hình tượng chim Tiên và Rồng đã được khắc trên trống đồng Phú Xuyên.

Hình tượng Rồng và chim Tiên được thể hiện trên trống đồng Phú Xuyên. [19]

Yếu tố văn hóa Âm Dương đó gắn vô cùng chặt chẽ vào nền văn hóa của người Việt, từ tâm thức tới thực tiễn, người Việt đều dựa trên sự cân bằng Âm – Dương, ít có sự thái quá và cực đoan.

Về những yếu tố nhân vật văn hóa, tâm linh, thì trong văn hóa của người Việt, các nhân vật luôn luôn có đôi: ông Đồng – bà Cốt, đồng Cô – đồng Cậu, đồng Đức Ông – đồng Đức Bà. Ở Trung Quốc, thần mai mối chỉ là một ông Tơ Hồng, vào Việt Nam, người Việt đã biến thành ông Tơ – bà Nguyện, Phật có nguồn gốc từ Ấn Độ, chỉ có một ông, nhưng vào Việt Nam thì lại xuất hiện Phật Ông – Phật Bà (người Mường gọi là Bụt đực, Bụt cái).

Về đất nước, người Việt cũng luôn luôn sử dụng các cặp từ đối lập nhau: Đất – Nước, Núi – Nước, Non – Nước, Lửa – Nước.

Trong những câu nói, chúng ta cũng thường có sự song đôi, mang đặc trưng của tính âm dương: ăn không nói có, lá mặt lá trái, đầu xuôi đuôi lọt, tiếng bấc tiếng chì, dãi nắng dầm mưa, vui buồn sướng khổ, nói trước quên sau, đi ngang về tắt, vào luồn ra cúi, ngày đêm lặn-lội, một nắng hai sương, than dài thở vắn, đầu tắt mặt tối, cưa đứt đục suốt… [20]

Trong ẩm thực, người Việt cũng rất chú trọng yếu tố cân bằng âm dương: Gừng (dương) thường được dùng kèm với các thực phẩm có tính âm như bí đao, cả, cá, thịt vịt. Rau dăm có tính dương thường được sử dụng cùng với trứng lộ, nghiêu, hến có tính âm. Người Việt đặc biệt ưa thích cóc món ăn đang trong quá trình chuyển hóa âm dương như trứng lộn, nhộng, chim ra ràng, ong non, ve non, dế non, đuông dừa, giá đậu, cốm, măng, đó là sự hài hòa về âm dương. [21]

Nguyên tắc âm dương ở đây được biểu thị hài hoà theo hình thức phân loại thức ăn “Nóng” và “Lạnh”. Về lương thực thực phẩm, những loại mang tính “nóng” như khoai mì, ngô, rượu… những loại thuộc tính “lạnh” như đậu phụ, đậu nành, đậu chao… Đối với các loại rau dưa, rau có tính “nóng” là gừng, ớt, tỏi, cà rốt, rau thơm, loại rau có tính lạnh là rau dền, măng, dưa leo, cà chua… Tương tự, các loại hoa quả như nhãn, vải, nho…thuộc tính “nóng” và chuối, dứa… thuộc tính “lạnh”. Cũng vậy các loại thịt cá như: thịt dê, thịt chó, thịt gà, thịt bò, tôm, lươn… thuộc tính “nóng”, các loại thịt vịt, thịt thỏ, cá trèn, nghêu, ốc… thuộc tính “lạnh”. Trên cơ sở phân loại thực phẩm như vậy, người ta khuyên người có “máu nóng” dùng thức ăn “lạnh” và ngược lại. [22]

Còn rất nhiều bằng chứng khác chứng minh yếu tố âm dương đã thấm nhuần trong văn hóa và đời sống tinh thần của người Việt. Chính vì vậy, chúng ta có thể nói rằng Âm Dương là cốt lõi văn hóa của người Việt, người Việt luôn hướng về sự cân bằng, không cực đoan, đây là một sự kế thừa và phát triển liên tục từ truyền thống cổ xưa của dân tộc thời tiền Bắc thuộc.

2. Đạo thờ Trời:

Tôn giáo cổ xưa của người Việt trước khi Phật giáo xuất hiện, đó là tôn giáo thờ Trời, xem Trời như đấng tối cao, những chiếc trống đống của người Việt chính là đại diện cho tôn giáo thờ Trời đó. [23]

1. Trống đồng Sông Đà, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Guimet, Pháp. [dẫn]2. Trống đồng Khai Hóa, hiện đang trưng bài tại Bảo tàng Dân tộc học Vienna, Áo. [dẫn]3, 4. Trống đồng Hoàng Hạ và trống đồng Ngọc Lũ, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam. 

Trời luôn ở vị trí trung tâm và xuất hiện trên tất cả các trống đồng Đông Sơn và hậu duệ của chúng, là cốt lõi văn hóa của người Việt. Các hình trên là trống đồng Kính Hoa và trống đồng Ngọc Lũ. [Nguồn: dẫn]

Trong các thần thoại của người Việt còn giữ được cho tới ngày nay [24], thì Trời cũng có vị trí tối cao, Trời tạo ra các vị Thần, vạn vật và con người.

Tuy người Việt không còn thờ Trời, nhưng trong tâm thức của họ, Trời vẫn là đấng tối cao, tạo ra vũ trụ, vạn vật và loài người, họ thường xuyên nhắc tới Trời trong các câu ca dao, các câu nói thường ngày của dân tộc mình.

Dù ai nói ngược nói xuôi,
Ta đây vẫn giữ đạo Trời khăng khăng.

Xin chàng kinh sử học hành,
Để em cầy cấy cửi canh kịp người,
Mai sau xiêm áo thảnh thơi,
Ơn Trời lộc nước đời đời hiển vinh.

Ở hiền thì lại gặp lành,
Những người nhân đức Trời dành phước cho.

Nghiêng vai ngửa vái Ông Trời
Đương cơn hoạn nạn
Độ người trần gian.

Gẫm hay muôn sự tại Trời
Coi chừng:
Của Trời Trời lại lấy đi,
Giương hai mắt ếch làm chi được Trời. [25]

Còn rất nhiều câu ca dao mà người Việt nhắc tới Trời như đấng quyền lực tối cao, nhưng Trời cũng rất gần gũi với con người, chứ không xa cách như các vị Thánh, vị Thần của các tôn giáo khác, họ gọi Trời bằng Ông, khi hoạn nạn thì gọi Trời ơi, khi gặp phúc thì cho rằng: “nhờ Trời ban”. Mặc dù qua thời gian, người Việt chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo từ bên ngoài, nhưng Trời vẫn là tối cao trong tâm thức của người Việt, đa phần người Việt không theo tôn giáo nào, mà chỉ giữ đạo thờ tổ tiên, tôn thờ Trời-Phật.

3. Tục xăm mình:

Tục xăm mình của người Việt có nguồn gốc từ thời Hùng Vương, đây không chỉ là phong tục của riêng người Việt mà còn là phong tục chung của cộng đồng tộc Việt. Đây là phong tục có ý nghĩa quan trọng về mặt tâm linh, bởi người Việt thường hay xăm mình hình Rồng lên thân, cùng với đó là đội mũ lông chim.

“Dân ở rừng núi xuống sông ngồi đánh đá, thường bị giao long làm hại nên bạch với vua. Vua bảo rằng: – Núi là loài rồng cùng với thủy tộc có khác, bọn chúng ưa đồng mà ghét dị cho nên mới xâm hại. Bèn khiến lấy mực chạm hình trạng thủy quái ở thân thể, từ đó tránh được nạn giao long cắn hại; cái tục văn thân của Bách Việt thực khởi thủy từ đấy.” [18]

Có nhiều tài liệu lịch sử chép về phong tục xăm mình của cộng đồng tộc Việt. Đầu tiên là ở vùng hạ lưu Dương Tử.

“Tổ tiên của Việt Vương Câu Tiễn là dòng dõi vua Vũ, con thứ hai của vua Thiếu Khang đời nhà Hạ, được phong ở đất Cối Kê để lo việc phụng thờ vua Vũ, xăm mình, cắt tóc, phát cỏ mà lập ấp. [26]

Cho tới đảo Hải Nam, người Chu Nhai (Hải Nam) cũng có phong tục xăm mình như phong tục chung của tộc Việt: “… Nhìn ra xa thấy châu Chu Nhai… Nhân dân có khoảng hơn 10 vạn nhà…, xõa tóc, xăm mình, con gái phần nhiều tướng mạo đẹp, làn da trắng trẻo, tóc dài, tóc mai đẹp” [27]

Tới thời nhà Trần, người Việt vẫn tiếp tục duy trì tục xăm mình. Tục xăm mình tới thời vua Trần Anh Tông mới bỏ, từ đó tục xăm mình mới dần nên tiêu cực, được gắn với hình ảnh những người tù tội.

“Nhà ta vốn là người hạ lưu (thủy tổ người Hiền Khánh), đời đời chuộng dũng cảm, thường xăm hình rồng vào đùi. Nếp nhà theo nghề võ, nên xăm rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc” [28]

4. Ăn trầu, sử dụng trầu trong các dịp lễ:

Trầu cau là một đặc trưng văn hóa rất quan trọng của người Việt, người Việt vẫn còn nói: “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Trầu cau hiện diện trên mọi khía cạnh của văn hóa người Việt xưa, xuất hiện trong phong tục thờ cúng tổ tiên, các dịp giỗ chạp, đám cưới, và xuất hiện trong cả đời sống thường ngày.

Hình ảnh các bà các mẹ ăn trầu, têm trầu đã hết sức quen thuộc trong đời sống người Việt. [Nguồn: dẫn]

Có thể nói văn hóa trầu cau đã thấm rất sâu vào tâm hồn của người Việt. Tài liệu lịch sử cũng cho chúng ta thấy trầu cau đã xuất hiện trong đám cưới của người Việt từ rất sớm.

Thủy kinh chú sớ chép: “‘Hoàn vũ ký’ nói, theo phong tục Giao Châu, người đi hỏi vợ, trước tiên phải đưa hai mâm cau, khi nào nhà gái ăn hết mới thành thân.” [29]

Mâm trầu cau trong phong tục đám cưới của người Việt ngày nay.

Thời Đông Sơn, các tài liệu khảo cổ cũng đã tìm thấy lá trầu, quả cau được chôn theo các mộ. Đây cũng là bằng chứng rất rõ ràng chứng minh sự tồn tại của tục ăn trầu và giá trị của trầu cau trong văn hóa của người Việt xưa và nay. [30]

Phong tục ăn trầu còn dấu ấn sâu sắc cả ở tầng lớp hoàng tộc, tầng lớp chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Hán, với nhiều di vật liên quan tới việc ăn trầu qua các triều đại.

Bình vôi các triều đại Lý-Trần, Mạc, Nguyễn. [Nguồn: dẫn]

Các hiện vật tinh xảo liên quan tới văn hóa trầu cau của triều đại nhà Nguyễn. [Nguồn: dẫn]

5. Nhuộm răng:

Nhuộm răng cũng là một đặc trưng rất quan trọng của người Việt, phong tục này của người Việt được duy trì tới khoảng thời Pháp thuộc, cho tới ngày nay, chúng ta vẫn thấy nhiều cụ già có hàm răng được nhuộm đen bóng. Phong tục này được ghi lại trong sách Lĩnh Nam chích quái, truyện Bạch Trĩ.

Chu Công hỏi rằng: – Người Giao Chỉ cắt tóc, vẽ hình, để đầu trần, ngón chân cong, là tại làm sao?

Sứ giả thưa rằng: – Cắt tóc để tiện vào rừng; vẽ mình để làm hình rồng, khi lặn lội dưới nước thì giao long không dám phạm đến; chân cong để tiện trèo cây, cày dao, đốt lửa, gieo lúa; đầu trần để khử nóng bức, ăn cau trầu để trừ ô uế và làm cho răng đen. [18]

Tài liệu khảo cổ cũng đã thể hiện đặc trưng văn hóa này. Trong các mộ thuyền, các nhà khảo cổ học Việt Nam tìm thấy người Đông Sơn đều nhuộm răng đen. Năm 1999, Bảo tàng lịch sử Việt Nam phối hợp với Sở VHTTDL Vĩnh Phúc đã tìm thấy bộ di cốt tại di chỉ Đồng Đậu thuộc Yên Lạc, Vĩnh Phúc còn gần như nguyên vẹn, khoảng 3500 tuổi, có dấu vết của tục nhuộm răng đen. [31]

Phong tục nhuộm răng của người Việt trong thế kỷ trước.

Theo quan niệm thẩm mỹ xưa thì hàm răng đen được coi là chuẩn mực của cái đẹp không chỉ riêng đối với phụ nữ mà ngay cả nam giới cũng vậy, tuy ở nam giới ít hơn. Do đó, vẻ đẹp của hàm răng đen đã dần được đưa vào ca dao, thi ca như một chuẩn mực về nét đẹp của phụ nữ Việt Nam:

Răng đen ai nhuộm cho mình
Cho duyên mình đẹp, cho tình anh say?

Được xếp thứ 4 trong 10 chuẩn mực đo nét duyên của người con gái:

Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng láng hạt huyền kém thua. [31]

Đây không chỉ là một phong tục đặc trưng văn hóa, mà còn có nhiều ý nghĩa về mặt sức khỏe răng miệng, việc nhuộm răng cùng với ăn trầu giúp răng chắc khỏe, ít bị các vấn đề về răng miệng, nhiều cụ già tới cuối đời hàm răng đen vẫn còn nguyên vẹn, không bị tổn thương chứng tỏ ý nghĩa quan trọng về sức khỏe bên cạnh ý nghĩa văn hóa trong tục nhuộm răng của người Việt.

6. Tục đi chân đất, búi tóc:

Búi tóc, đi chân trần cũng là một trong những đặc trưng văn hóa của người Việt, không chỉ người Việt mà còn là phong tục chung của cả tộc Việt.

Trong sách Tam Quốc Chí, phần Ngô chí có ghi lại: Thế kỷ III SCN, Thái thú Tiết Tông trong tờ sớ xin chọn Thứ sử Giao Châu đã miêu tả người Việt: “tóc búi, chân trần, áo chui đầu vạt trái”.” [32]

Người Chu Nhai (Hải Nam) cũng có phong tục đi chân đất: “Dân ở đây thích đi chân đất” [Hội Trinh chú: “Sơ học ký” dẫn “Chu Nhai truyện” nói: con trai con gái để xõa tóc, đi chân đất.] [33]

Người Quảng Tây cũng có phong tục búi tóc. Trong Tống sử, Quảng Nguyên Châu chép: “Người Man ở châu Quảng Nguyên là họ Nùng. Châu ấy ở đầu nguồn sông Úc Giang, tây nam Ung Châu, đất cheo leo hiểm trở, sản hoàng kim, đan sa, có rất nhiều bộ lạc tụ cư. Tục ở đó dân búi tóc cao, để vạt áo bên trái.” [34]

Hình ảnh người Việt búi tó ở thời cận đại.

Phong tục chung của tộc Việt là thích đi chân trần, đời sống họ gắn bó chặt chẽ với đồng ruộng, với nông nghiệp, xu hướng của văn hóa Việt cũng là thuần phác, giản dị, không màu mè, nên thường họ đi chân đất cho phù hợp với điều kiện sinh sống và lao động của mình.

Hình ảnh quý tộc người Việt đi chân đất trong bức tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ.

7. Bánh chưng bánh dày và triết lý trời tròn đất vuông:

Bánh Chưng, bánh Dày rất đỗi thân thuộc, gắn bó với người Việt trong nhiều giai đoạn lịch sử, chúng đã trở thành những đặc trưng văn hóa không thể phai mờ đối với người Việt, cho tới ngày nay, chúng vẫn là một thành phần không thể thiếu trong ngày Tết, được sử dụng để dâng lên gia tiên và thần thánh, cũng như là một món ăn được trân quý trong đời sống hằng ngày của người Việt. Nguồn gốc của bánh Chưng, bánh Dày cũng đã được ghi lại trong sách Lĩnh Nam chích quái, là sự sáng tạo của chàng Lang Liêu với sự hỗ trợ của thần nhân.

Bánh chưng và bánh dày của người Việt.

Bánh chưng bánh dày là một trong những kết tinh văn hóa của người Việt, với triết lý “trời tròn đất vuông” được chép lại trong truyện Lang Liêu, có nguồn gốc sớm nhất là từ ngọc bích hình tròn tế trời và ngọc tông hình vuông tế đất của văn hóa Lương Chử. Văn hóa tộc Việt thời Hùng Vương kế thừa quan niệm trời tròn đất vuông từ văn hóa Đông Á cổ đại.

Ngọc bích tế trời và ngọc tông tế đất thời văn hóa Lương Chử. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, dẫn: 1, 2]

Câu chuyện này đã có những cơ sở từ khảo cổ học chứng minh tính thực tế của nó, với sự xuất hiện có thể từ rất sớm.

Nói đến bánh Chưng, bánh Dày cũng là nói đến việc sử dụng lúa nếp, theo tư liệu khảo cổ, muộn nhất là từ 3500 năm trước, lúa trồng (Oriza Sativa) có dạng hạt bầu (large form) giống lúa nếp dính  (gloutinous rice) đã tìm thấy phổ biến ở nhiều di tích khảo cổ học Việt Nam. [35]

Hai ảnh bên trái là lúa hạt dài và lúa nếp hạt tròn khai quật được ở hang Xóm Trại (Hòa Bình). Ảnh còn lại là lúa nếp khai quật ở khu mộ táng Đông Sơn Động Xá (Hưng Yên) [35]

Bên cạnh đó khảo cổ còn tìm thấy một chiếc nồi đồng khai quật được ở Làng Vực (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) có in dấu rất nhiều lá dong ở tình trạng lót nồi, đó là những hình lá dong nằm phẳng ở tư thế nguyên chiếc bao quanh đáy và cạnh nồi. Nhờ oxit đồng từ lớp gỉ của nồi mà chiếc lá được giữ nguyên trạng, thậm chí có màu xanh như những chiếc lá còn tươi. [35]

Vết in chiếc lá dong bên trong nồi đồng Đông Sơn (hình trái) và nguyên trạng phóng đại của nó (hình phải). [35]

III. Sự kế thừa văn hóa Đông Sơn:

Thời kỳ Bắc thuộc và hậu Bắc thuộc, người Việt vẫn tiếp tục giữ gìn và kế thừa truyền thống Đông Sơn, với nhiều bằng chứng khảo cổ cùng góp phần chứng minh.

1. Tư liệu khảo cổ về sự kế thừa truyền thống Đông Sơn trong thời Bắc thuộc:

Tư liệu khảo cổ về sự kế thừa văn hóa Đông Sơn trong thời Bắc thuộc đã có khá nhiều và thể hiện được rất rõ ràng sự đấu tranh và giữ gìn văn hóa của người Việt trong bối cảnh đang chịu ách nô lệ dưới sự đô hộ của người Hán.

Các cổ vật phong cách Hán với hoa văn trang trí đặc trưng Đông Sơn:

Trong đầu thời Bắc thuộc, thì các cổ vật văn hóa Đông Sơn vẫn tiếp tục được người Việt đúc và sử dụng, với việc bắt đầu có sự hòa trộn với văn hóa Hán trong một số đặc trưng như hoa văn, quai thao thiết. Trên trống đồng có sự xuất hiện của các tượng cóc.

Các loại hình cổ vật văn hóa Đông Sơn giai đoạn muộn có sự pha trộn với văn hóa Hán. [Nguồn: Bảo tàng lịch sử Việt Nam; 2. Bộ sưu tập Phạm Lan Hương, dẫn trong catalogue của Galarie Hioco, dẫn; 3. Bảo tàng Barbier-Mueller, dẫn; 4,5. Kiều Quang Chẩn, Vang Vọng Từ Trống Đông Sơn, Nhà xuất bản Thế giới, 2018.]

Các cổ vật văn hóa Đông Sơn giai đoạn muộn cũng đã thể hiện rõ ảnh hưởng của văn hóa Hán với các cổ vật có phong cách đặc trưng phương Bắc, nhưng trong nhiều cổ vật, người Việt đã gửi gắm vào đó những hoa văn rất đặc trưng của văn hóa Đông Sơn. Các cổ vật có phong cách này xuất hiện tại cả các vùng Lĩnh Nam và Việt Nam, được gọi là đồ đồng phong cách Đông Sơn – Hán, thuộc giai đoạn Giao Chỉ.

Các loại hình cổ vật: bình đồng, chậu đồng, thạp đồng có có nhiều đặc trưng ảnh hưởng của văn hóa Hán được trang trí các hoa văn thuyền, chim loài vật rất đặc trưng của văn hóa Đông Sơn. [Nguồn: Bảo tàng Barbier-Mueller, dẫn; 2. Bảo tàng Guimet, trích trong “Art ancien du Viêt Nam, Bronzes et céramiques” thực hiện bởi Museum of Far Eastern Art; 3. Bảo tàng Lịch Sử Quốc Gia (2015). Văn hóa Đông Sơn – Sưu tập hiện vật Bảo tàng Lịch sử quốc gia. NXB Văn hóa dân tộc.]

◊ Phát hiện về các mảnh khuôn đúc trống đồng Đông Sơn:

– Tại di chỉ thành cổ Luy Lâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cho đến nay đã phát hiện gần 1.000 mảnh khuôn đúc trống đồng Đông Sơn. Các mảnh khuôn đúc này hầu hết được tìm thấy trong địa tầng văn hóa. [36]

“Dựa vào hoa văn trên các mảnh khuôn đúc trống đồng được tìm thấy năm 2015, các chuyên gia nghiên cứu trống đồng cho rằng hoa văn trên mang đặc trưng của trống Đông Sơn loại H1 muộn, niên đại khoảng thế kỷ 2-3. Tuy nhiên theo đoàn khai quật, “khi chỉnh lý sơ bộ sưu tập hiện vật khác nằm cùng lớp chứa khuôn như đầu ngói ống hoa sen, “ắc bàn xoay” được làm bằng gạch có hoa văn ô trám, chúng tôi đoán định niên đại của sưu tập khuôn đúc vào khoảng thế kỷ thứ 4 rất trùng khớp với định niên đại của đoàn khai quật năm 2014”. [37]

Luy Lâu là trị sở đô hộ của người Hán qua các triều đại từ Đông Hán – Lục triều tới thời kỳ Tùy – Đường, việc phát hiện lượng lớn mảnh khuôn đúc trống đồng Đông Sơn trong thành Luy Lâu, đã chứng minh sự kế thừa và giữ gìn truyền thống Đông Sơn của người Việt trong thời Bắc thuộc, bởi trống đồng là cốt lõi văn hoá của người Việt, Mã Viện sau cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng đã thu trống của người Việt nhằm tận diệt văn hoá Việt, dù vậy, người Việt vẫn tiếp tục truyền thống của mình bằng việc đúc trống ngay tại trị sở đô hộ của giặc phương Bắc.

Các mảnh khuôn đúc trống đồng được tìm thấy tại Luy Lâu. [Nguồn: Bảo tàng Bắc Ninh, dẫn; Bảo tàng lịch sử quốc gia, dẫn]

◊ Các cổ vật bằng gốm cũng đã thể hiện rõ sự kế thừa truyền thống Đông Sơn:

– Tại di chỉ Bãi Đồng Dâu tại tỉnh Bắc Ninh, có niên đại vào khoảng cuối thế kỷ II đến thế kỷ VII, khi nghiên cứu những di vật gốm thô xám có văn thừng nơi đây cho thấy sự tồn tại và phát triển gốm truyền thống từ thời Đông Sơn (Trần Quốc Vượng 1986: 251-253). [36]

Tại lò gốm Đương Xá (Yên Phong, Bắc Ninh) có niên đại vào TK IX-X SCN, thì phong cách, kỹ thuật, chất liệu đến hoa văn trang trí trên các đồ gốm lại quay về với truyền thống thời Đông Sơn, đây được xem như một sự phục hưng văn hóa Việt trong đầu thời tự chủ, với mạch ngầm được duy trì trong suốt 10 thế kỷ Bắc thuộc, các cổ vật với phong cách Đông Sơn như trống đồng, thạp đồng sau đó đã được phục hưng qua hai triều đại rực rỡ của dân tộc trong thời phong kiến là nhà Lý và nhà Trần. [36]

◊ Sự lưu giữ truyền thống mộ táng thời Bắc thuộc:

Đặc trưng nhất của một dân tộc có thể kể đến mộ táng, truyền thống của người Việt là mộ táng hình thuyền, trong thời Bắc thuộc, thì hình thức mộ táng hình thuyền với thân cây được khoét rỗng tiếp tục được người Việt duy trì song song với các mộ gạch theo kiểu Hán, thậm chí có cả sự ảnh hưởng rõ ràng của hình thức mộ táng hình thuyền với mộ gạch kiểu Hán: trong các ngôi mộ gạch kiểu Hán ở Nghĩa Vũ (Hải Dương), mộ Đường Dù (Hải Phòng) có những quan tài hình thuyền kiểu Đông Sơn. [36]

Gạch được sử dụng xây mộ gạch được trang trí các hoa văn đặc trưng Đông Sơn. [Nguồn: James R. Brow, Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa]

Nhiều hoa văn trang trí của các ngôi mộ gạch vẫn thấy xuất hiện những “ngôn ngữ Đông Sơn” như vòng tròn tiếp tuyến, hình trâm, vòng tròn đồng tâm v.v…. Tới cuối thời Đường (thế kỷ IX), những ngôi mộ gạch dường như ít dần, và biến mất không để lại vết tích theo thời gian, thay vào đó là các loại mộ đất truyền thống của người Việt. [36]

Mộ hình thuyền Việt Khê của văn hóa Đông Sơn, loại hình mộ truyền thống của người Việt. [Nguồn: Bảo tàng lịch sử quốc gia, chụp bởi Kiến Thức, dẫn]

Mộ gạch Mạo Khê có niên đại vào thời Đông Hán (thế kỷ I-III), loại hình mộ gạch kiểu Hán này không còn thấy xuất hiện trong văn hóa mai táng của người Việt ngay đầu thời tự chủ. [Nguồn: dẫn]

Theo các nhà nghiên cứu, thì loại hình mộ táng hình thuyền này được duy trì trong thời gian rất lâu dài trong đời sống của người Việt, có ý kiến cho rằng hình thức mộ táng này kết thúc vào thế kỷ XIII – XIV (Phạm Quốc Quân 1985: 49 – 56) hoặc đến thời Trần và Lê sơ (Hoàng Xuân Chinh 1983). Cũng có ý kiến cho rằng mộ thuyền tồn tại liên tục cho đến tận ngày nay (Ngô Đức Thịnh 1984: 77 – 90; Bùi Văn Liêm 2013).

Kết luận:

Như vậy qua tài liệu khảo cổ, chúng ta có thể thấy được sự kế thừa truyền thống Đông Sơn trong thời Bắc thuộc, người Việt đã giữ gìn truyền thống văn hóa thời Đông Sơn của mình trong một “mạch ngầm”, để từ đó khi độc lập văn hóa Việt được phục hưng và trở lại với đời sống của người Việt.

b. Sự kế thừa truyền thống Đông Sơn trong thời tự chủ:

◊ Sự kế thừa thể hiện qua trống đồng:

Trống đồng tiếp tục được sử dụng và kế thừa trong thời Bắc thuộc và ít nhất tới thời Lý – Trần. Trong giai đoạn đầu thời Bắc thuộc, thì trống vẫn giữ truyền thống Đông Sơn, nhưng đã có sự biến đổi nhất định so với trống loại I trước thời Bắc thuộc: mặt trống có xu hướng chồm ra ngoài, và cũng đã xuất hiện thêm tượng cóc.

Trống đồng Đông Sơn giai đoạn đầu Bắc thuộc đã có sự xuất hiện của các tượng cóc ở 4 góc. [Nguồn cổ vật: Bảo tàng Barbier-Mueller, Geneva, Thụy Sĩ, dẫn]

Trong và sau thời Bắc thuộc, thì trống vẫn tiếp tục được người Việt đúc và sử dụng, chính là trống loại II Heger, hay trống đồng Mường mà các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đặt tên.

Những chiếc trống đồng loại II Heger có niên đại từ thiên niên kỷ I TCN và kéo dài tới tận thời Lý, Trần, Lê, với những đặc trưng cơ bản: mặt trống chồm ra ngoài thành tang từ 1.5 cm – 3 cm. Chính giữa mặt trống là hình mặt trời có những tia mảnh và nhỏ, ở ven rìa mặt trống thường có các khối tượng cóc, có khi là tượng rùa, tượng voi… Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khảo cổ, sự xuất hiện của trống đồng loại II Heger là sự kế thừa và tiếp nối của trống Đông Sơn. Trống loại II phát triển trên cơ sở sự suy tàn của trống loại I Heger truyền thống. [38]

Chúng ta cũng dễ nhận thấy, sự kế thừa còn thể hiện các mô típ hoa văn trống Đông Sơn trên nhóm trống loại II sớm. Những trống đồng loại II sớm có hoa văn người múa hóa trang, hoa văn hình học Đông Sơn

Những chiếc trống đồng II Heger này được kế thừa kỹ thuật đúc và hoa văn từ thời Đông Sơn:

Tính kế thừa được thể hiện trong kỹ thuật đúc trống đồng loại II (như các con kê rải ra ở giữa khuôn trong và khuôn ngoài để định vị cho đồng nóng chảy khỏi phá khuôn). Điều này chứng tỏ chính những người thợ đúc trống Đông Sơn cũng là những người thợ đúc trống loại II.[38]

Trống đồng loại II Heger, hay được các nhà nghiên cứu gọi là trống đồng Mường, của Quan Lang người Mường, có sự kế thừa truyền thống đúc và trang trí hoa văn từ thời văn hóa Đông Sơn. [Nguồn: Viện Viễn Đông bác cổ, dẫn]

Các trống đồng loại II giai đoạn sớm có thể hiện các motif hoa văn kế thừa trực tiếp từ trống loại I.

Chúng ta cũng dễ nhận thấy, sự kế thừa còn thể hiện các mô típ hoa văn trống Đông Sơn trên nhóm trống loại II sớm. Những trống đồng loại II sớm có hoa văn người múa hóa trang, hoa văn hình học Đông Sơn.” [38]

Trống Chợ Bờ, một loại hình trống kế thừa từ trống Heger loại I, nằm trong giai đoạn chuyển đổi từ trống Heger loại I sang trống Heger loại II, với sự xuất hiện của tượng cóc cũng như hoa văn có sự biến đổi mạnh so với nguyên bản. [Nguồn: Nguyễn Văn Huyên, Những trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam]

Theo các nhà nghiên cứu, thì kinh tế chủ yếu của người Mường là nông nghiệp làm rẫy và trồng lúa nước ở những thung lũng hẹp với dệt vải và làm thổ cẩm, họ không có kỹ thuật luyện kim đúc đồng hoặc làm gốm. Trống đồng không phải do người Mường đúc, các trống của họ là do triều đình phong kiến Việt Nam ban tặng cho các quan lang, quý tộc người Mường. [39]. Các trống đồng loại II được tìm thấy khắp vùng phân bố của người Việt và người Mường, không chỉ tìm thấy tại vùng sinh sống của người Mường.

Chiếc trống đồng loại II bên cạnh chiếc trống đồng Đông Sơn loại I theo phân loại của Heger. [Nguồn: thư viện lưu trữ Viện Viễn Đông Bác cổ, dẫn]

Những chiếc trống được triều đình phong kiến Việt Nam đúc và sử dụng, bên cạnh đó chúng được ban tặng cho các quan lang, quý tộc Mường, việc sử dụng trống được thể hiện qua sự mô tả của sứ giả Trần Phu khi đi sứ sang Đại Việt theo lệnh của nhà Nguyên, trống bên cạnh vai trò thờ Trời, thì trong chiến trận cũng đóng vai trò khích động tinh thần quân sĩ.

金戈影裏丹心苦,
銅鼓聲中白髮生. [40]

“Kim qua ảnh lý đan tâm khổ
Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh”

(“Thấy gươm sắt lóe sáng lòng đau khổ
Nghe tiếng trống đồng sợ bạc cả đầu”).

Trống đồng loại II với các tia mặt trời nhọn và thẳng đặc trưng của các trống loại II và III, hoa văn cũng có sự thay đổi so với truyền thống trước đó của trống Đông Sơn, có thể thấy trên các trống này vẫn có sự xuất hiện của chim Tiên, một hình tượng có ý nghĩa văn hóa rất quan trọng, thể hiện sự kế thừa ý thức văn hóa của người Việt trong giai đoạn sau. [Nguồn: James B. Brow, Anh Hoang Brow, Bronzes of the Dong Son Culture of Vietnam]

Các hoa văn trống đồng loại II Heger không chỉ kế thừa hoa văn Đông Sơn, mà còn có sự hòa trộn với các hoa văn đặc trưng thời Lý, Trần, Lê-Mạc, như trên một số trống đồng Mường có sự xuất hiện của nhiều hoa văn hình học, hình chim Tiên thời Đông Sơn cùng với các hoa văn lá đề, Rồng. Các trống đồng Mường vẫn tiếp tục được người Mường kế thừa và sử dụng qua các thế hệ Quan Lang, đây là tư liệu rất quan trọng giúp chúng ta nhận diện được sự kế thừa văn hóa thời Đông Sơn trong thời đầu giai đoạn tự chủ.

Hoa văn lá đề đặc trưng trong nhiều thế kỷ đầu thời tự chủ được khắc họa trên trống đồng của Quan Lang Mường. [Nguồn: Viện Viễn Đông bác cổ, dẫn]

Nhiều trống đồng loại II được tìm thấy trung đại đã thể hiện dấu ấn của thời kỳ đó, như trống Bình Yên được tìm thấy tại xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa năm 2002 có hình tượng con rồng uốn khúc thời Lý – Trần, bên cạnh đó còn là các hoa văn lục lăng, vòng tròn, vân mây, bốn khối tượng rùa quay cùng chiều kim đồng hồ, tang trống được trang trí hoa văn cánh sen, hay như trống đồng Tú Sơn tìm thấy tại xã Thành Tân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa có hoa văn lá đề, là sồi kép được trang trí đối đỉnh giống hệt với các chân đèn gốm hoa lam phổ biến thời Lê ở vùng đồng bằng. [41[[42][43]

Trống đồng được tìm thấy với hoa văn rồng và hoa thời nhà Lý. [40]

Toàn ảnh chiếc trống đồng Bình Yên được trưng bày tại bảo tàng tỉnh Thanh Hóa. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, ảnh tư liệu cá nhân]

Hình chụp chi tiết hơn về mặt trống đồng Bình Yên tại bảo tàng tỉnh Thanh Hóa. [Nguồn: Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, ảnh tư liệu cá nhân]

Trống đồng loại II Heger với trang trí hoa văn chim Phượng, có niên đại vào khoảng TK XII-XIV. [Nguồn: Trường Viễn Đông bác cổ, dẫn]

Tới thời Hậu Lê, trống đồng vẫn tiếp tục được đúc và sử dụng, theo tư liệu khảo cổ, thì các hoa văn trên đá, gốm của thời này đã ảnh hưởng đến hoa văn trang trí trên trống đồng loại II. Trên một số trống loại II vào thời này đã có nhiều hoa văn Phật giáo như lá đề, lá sen được trang trí theo phong cách đối đỉnh trong các băng hoa văn trên thân trống, giống với hoa văn trang trí lá đề, lá sen đối đỉnh trang trí trên các chân đèn gốm thời Lê – Mạc. [38]

Trống đồng loại II Heger với hoa văn đồng tiền được trang trí trên thân trống, hoa văn đồng tiền bắt đầu phổ biến vào thời điểm TK XIV-XVI, do đó loại trống này có thể được đúc vào giai đoạn nhà Hậu Lê. [Nguồn: Trường Viễn Đông bác cổ, dẫn]

◊ Sự kế thừa thể hiện qua thạp đồng:

Vào thời Lý – Trần, bên cạnh những chiếc trống đồng, thì thạp đồng cũng đã được người Việt đúc và sử dụng, với cách bố trí hoa văn có sự kế thừa về ý thức từ trống đồng và thạp đồng thời Đông Sơn.

Thạp đồng thời nhà Trần. [Nguồn: dẫn]

Ngoài chiếc thạp đồng còn lại ở Việt Nam này, thì còn một chiếc thạp đồng khác hiện đang nằm trong bộ sưu tập cá nhân của NST Tira Vanichtheeranont tại Thái Lan, có thể có niên đại vào thời Lý – Trần có thể hiện rõ hơn hoa văn. Các hoa văn đã thể hiện một phần phong cách của kỹ thuật trang trí thời Đông Sơn, các hoa văn trang trí theo bố cục băng dải, theo chiều ngược kim đồng hồ, đây là đặc trưng trang trí của trống đồng và thạp đồng của văn hóa Đông Sơn. [44]

Thạp đồng nằm trong bộ sưu tập của NST Tira Vanichtheeranont tại Thái Lan. [Nguồn: Tira Vanichtheeranont]

Bên cạnh những chiếc thạp bằng đồng, thì thời Lý Trần những chiếc thạp còn được làm bằng gốm với dòng gốm hoa nâu đặc trưng, các hoa văn và cách trang trí trên nhiều chiếc thạp gốm thể hiện dư âm của văn hóa Đông Sơn khá rõ rệt, với hình dáng khá tương đồng với các dạng thạp đồng thời Đông Sơn, phong cách trang trí trên các thạp thường theo băng dải với hình người, các dải hoa văn lặp lại, chim và các loài vật tương tự như phong cách trang trí trên trống đồng và thạp đồng của văn hóa Đông Sơn, bên cạnh đó trên các cổ vật gốm thời Lý – Trần còn xuất hiện nhiều hoa văn mang ngôn ngữ Đông Sơn như vòng tròn tiếp tuyến, kỷ hà, chữ S gấp khúc.

Những chiếc thạp gốm Lý Trần với phong cách trang trí theo băng dải với hình người và vật. [Nguồn: Bảo tàng lịch sử Việt Nam, dẫn]

Những chiếc thạp đồng và thạp gốm thời Lý Trần có hình dáng, kết cấu và hoa văn được kế thừa từ những chiếc thạp bằng đồng trong thời Đông Sơn, cùng với trống đồng, thì thạp đồng là một trong số các loại hình cổ vật đặc trưng và quan trọng nhất của văn hóa Việt thời Đông Sơn, do đó sự kế thừa trống đồng và thạp đồng là bằng chứng quan trọng chứng minh tính kế thừa truyền thống thời Đông Sơn của người Việt trong thời tự chủ.

Những chiếc thạp đồng Đông Sơn trong bộ sưu tập của bảo tàng Barbier-Mueller. [Nguồn: Bảo tàng Barbier-Mueller, dẫn]

Các loại hình thạp đồng và thạp gốm cũng có sự khác biệt so với loại hình thạp truyền thống của văn hóa Hán.

Loại hình thạp đặc trưng của văn hóa Hán. [Nguồn: 1. Martin Doustar, Art of bronze age in Southeast Asia; 2. Bảo tàng Barbier-Mueller]

IV. Sự kế thừa biểu hiện qua một số yếu tố khác:

1. Những tên gọi trong vùng miền Bắc Việt Nam có nguồn gốc từ thời cổ:

Tên gọi các vùng tộc Việt thời cổ co sự kế thừa và vẫn tìm thấy những dấu tích rất rõ rệt cho tới tận ngày nay. Tại miền Bắc Việt Nam, chúng ta cũng tìm thấy rất nhiều các địa danh có các yếu tố: Na, Kẻ.

Về địa danh có thành tố Na: Cổ Loa có Na Ao; Bắc Ninh: Na Thôn (Hiên ngang, vùng ruộng trắng). Vụ Bản (Hà Sơn Bình) có: Na Kou, Na Nha, Na Trâm, Na Tông, Na Ka, Na Sa, Na Da, Na Can, Na Kao, Na Bo, Na Kou, Na Ou Hi, Na Tông (Chiềng Chê), Na Bạc, (Kỏ Om), Na Cót. Thanh Hóa – Vùng Bái Thượng Thường Xuân: Na mai, Na Am, Na Cơ, Na Vu, Na Nôm, Na Tú, Na Thảo, Na Châm, Na Chư, Na Xa. Yên Định: Na Thôn (Ngô Xá, cạnh sông Lậu). [45]

Địa danh kẻ cũng phân bố rất dày trong vùng đồng bằng sông Hồng và các vùng trung du: Kẻ Đãng, Kẻ Anh, Kẻ Am, Kẻ Bàng, Kẻ Đinh, Kẻ Bôn, Kẻ Chiếu, Kẻ Đặng, Kẻ Đậu, Kẻ Đinh, Kẻ Định, Kẻ Độ, Kẻ Đướng, Kẻ Giả, Kẻ Hoàng, Kẻ La, Kẻ Lạc, Kể Lâm, Kẻ Lau, Kẻ Lang, Kẻ Lăng, Kẻ Kẻ Làn, Kẻ Lễ, Kẻ Sắt, Kẻ Lôi, Kẻ Lỗi, Kẻ Lộng, Kẻ Lăng, Kẻ Lung, Kẻ Huyện, Kẻ Kính, Kẻ Nông, Kẻ Pháp, Kẻ Phi, Kẻ Quan, Kẻ Sâm, Kẻ Trúc, Kẻ Vạn, Kẻ Vô, Kẻ Kê v.v… [45]

Những địa danh này đã có từ lâu đời, tiếp tục được người Việt sử dụng cho tới tận ngày nay. Đây cũng là một bằng chứng góp phần chứng minh sự kế thừa văn hóa cổ của người Việt.

2. Đồ gốm và sự kế thừa văn hóa Đông Sơn:

Đồ gốm qua các thời đại kể từ thời Bắc thuộc cho tới thời kỳ tự chủ đều cho chúng ta thấy sự kế thừa văn hóa Đông Sơn của người Việt.

a. Thời Bắc thuộc:

Đồ gốm tìm thấy tại lò gốm Tam Thọ cho chúng ta thấy được sự kế thừa văn hóa Đông Sơn rất rõ nét, thợ gốm Tam Thọ đã sử dụng hoa văn Đông Sơn với bố cục xoay quanh các vòng tròn đồng tâm.

Hình ảnh dưới là các khay gốm tìm thấy thời Hán thuộc. Khay gốm đầu tiên là khay gốm Lạch Trường 1 (ảnh 1), mặt khay có vòng tròn đồng tâm y hệt trên trống đồng Đông Sơn, có khắc hoa văn tiếp tuyến ở rìa mép, mặt sau khay có 2 vành tròn đồng tâm khắc các vạch thẳng song song – Cũng là mô típ phổ biến của đồ đồng Đông Sơn. Khay gốm thứ hai là khay gốm Lạch Trường 12 (ảnh 2), trên khay gốm này cũng bố trí theo kiểu băng dải, ở giữ mô phỏng ngôi sao 10 cánh, bên trong và bên ngoài ngôi sao là các vòng tròn đồng tâm. Khay gốm cuối cùng là khay gốm Bỉm Sơn IB (ảnh 3), chính giữa khắc ngôi sao, sát mép khắc 3 đường tròn đồng tâm, vành trong cùng khắc hình răng cưa doãng. [46]

Ảnh 1, 2, 3: Khay gốm mộ Lạch Trường 1; Khay gốm mộ Lạch Trường 12; Khay gốm mộ Bỉm Sơn IB.

Khay gốm phát hiện được tại mộ số 14 Bỉm Sơn (Thanh Hóa), hình chữ nhật. Mặt trên, ở giữa khay khắc chìm khung chữ nhật với 2 đường diềm viền quanh. Đường diềm trong của khung này khắc băng răng cưa, diềm ngoài băng ô trám. Sát mép ngoài của khay cũng khắc khung chữ nhật lớn hơn, trang trí ở diềm khung lớn cũng giống như khung nhỏ giữa mặt khay. Chỉ nhìn qua cũng nhận ra ngay đây là bố cục của các khung trang trí trên đồ đồng Đông Sơn và rất gần gũi với bố cục ở bao tay hay hộ tâm phiến trong văn hóa Đông Sơn. [46]

Khay gốm phát hiện tại Bỉm Sơn, Thanh Hóa. [46]

Ngoài các bố cục và hoa văn cơ bản này, thì đồ gốm tìm thấy ở Thanh Hóa cũng cho chúng ta thấy những đặc trưng Đông Sơn rất rõ nét như các hoa văn ngôi sao, vòng tròn tiếp tuyến, hoa văn chữ S, bố cục trống đồng… [46]

Các đồ gốm tìm thấy tại tỉnh Thanh Hóa có khắc các hoa văn đặc trưng Đông Sơn. [46]

b. Thời tự chủ:

Đồ gốm giai đoạn Đại La cho thấy ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn, với các viên khạch được khắc các vòng tròn đồng tâm, hình chữ S tiếp tuyến. [46]

Gạch được tìm thấy tại thành Đại La, khu di tích Hoàng Thành Thăng Long. [46]

Tại kinh đô Hoa Lư, vào thời nhà Đinh cũng đã tìm thấy nhiều cổ vật mang dấu ấn văn hóa Đông Sơn, như mảnh gốm có bố cục trống đồng (hình 1), hoa văn chữ S tiếp tuyến (hình 2,3). [46]

Các mảnh gốm tìm thấy tại kinh đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. [46]

c. Kết luận:

Qua tìm hiểu các hiện vật gốm, chúng ta thấy được người Việt vẫn tiếp tục duy trì và phát triển mạnh văn hóa từ thời kỳ Đông Sơn, qua thời Bắc thuộc và tiếp tục kế thừa trong thời tự chủ.

3. Đình làng Đình Bảng và kiến trúc cổ Đông Sơn:

Đình làng Đình Bảng, nằm trong hệ thống kiến trúc đình làng của người Việt còn giữ được cho tới ngày nay, cho chúng ta thấy được những dấu ấn của văn hóa thời cổ rất rõ rệt, với đặc trưng nhà sàn, mái cong rất khó lẫn của văn hóa Đông Sơn.

Đình làng Đình Bảng và nhà sàn mái cong đặc trưng của văn hóa Đông Sơn. [Nguồn: 1. dẫn; 2. [19]]

Những dấu ấn của văn hóa Đông Sơn thể hiện trên đình làng Đình Bảng giúp chúng ta thấy được sự kế thừa và duy trì truyền thống khá mạnh mẽ của người Việt, với khối kiến trúc được kết hợp hòa hòa giữa văn hóa cổ và văn hóa chịu ảnh hưởng của người Hoa Hạ.

V. Kết luận:

Qua những khảo sát toàn diện các yếu tố văn hóa, chúng ta thấy được người Việt đã giữ gìn và kế thừa truyền thống văn hóa tộc Việt và tiếp tục sử dụng những đặc trưng của văn hóa Đông Sơn. Từ đó có đủ cơ sở để khẳng định người Việt là hậu duệ chính thống của văn hóa Đông Sơn và là một trong những hậu duệ của nền văn hóa tộc Việt.

Lang Linh

Xin cảm ơn những thông tin và nghiên cứu từ tác giả Hoàng Nguyễn.
https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=10164430628610526&id=519710525


Tài liệu tham khảo:

[1] Liu D, Duong NT, Ton ND, Van Phong N, Pakendorf B, Van Hai N, Stoneking M (2020). Extensive ethnolinguistic diversity in Vietnam reflects multiple sources of genetic diversity. Molecular Biology and Evolution.
https://doi.org/10.1093/molbev/msaa099

[2] McColl H, Racimo F, Vinner L, Demeter F, Gakuhari T, Moreno-Mayar JV, Van Driem G, Wilken UG, Seguin-Orlando A, De la Fuente Castro C, Wasef S (2018). The prehistoric peopling of Southeast Asia. Science. 361(6397):88-92.
https://science.sciencemag.org/content/361/6397/88

[3] Chu JY, et al (1998), Genetic relationship of populations in China, Proceedings of National Academy of Sciences USA, 95(20): 11763-11768

[4] The HUGO Pan-Asian SNP Consortium (2009), Mapping human genetic diversity in Asia, Science, 326(5959): 1541-1545

[5] Hua Zhong, Hong Shi, Xue-Bin Qi, et al. (2010). Extended Y chromosome investigation suggests postglacial migrations of modern humans into East Asia via the northern route. Molecular biology and evolution;28(1):717-27.

[6] Chuan‐Chao WANG Shi YAN Zhen‐Dong QIN Yan LU Qi‐Liang DING Lan‐Hai WEI Shi‐Lin LI Ya‐Jun YANG Li JIN Hui LI, et al. (2013). Late Neolithic expansion of ancient Chinese revealed by Y chromosome haplogroup O3a1c‐002611.
https://onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1111/j.1759-6831.2012.00244.x

[7] Lang Linh, Khảo cứu về nguồn gốc dân tộc Việt.
https://luocsutocviet.wordpress.com/2020/06/04/497-khao-cuu-ve-nguon-goc-dan-toc-viet/

[8] Haudricourt, A. (2017). The place of Vietnamese in Austroasiatic.
https://halshs.archives-ouvertes.fr/halshs-01631477/document

[9] Ferlus, Michel. (2009). A layer of Dongsonian vocabulary in Vietnamese.
https://halshs.archives-ouvertes.fr/halshs-00932218v3/document

[10] Cao Xuân Hạo, Suy nghĩ về dịch thuật.
https://bmnn.hunre.edu.vn/suy-nghi-ve-dich-thuat-cao-xuan-hao.html

[11] Maspero, Henri. 1912. Études sur la phonétique historique de la langue Annamite: Les initiales. Bulletin de l’École Françoise d’Extrême-Orient 12:1–127.

[12] Đoàn Mạnh Toàn, Lê Hồng Chào. 2019 Phương pháp học từ vựng tiếng Hán hiện đại dựa vào mối liên hệ về ngữ âm, ngữ nghĩa với từ Hán Việt. Tạp chí khoa học – Đại học Đồng Nai. Số 13-2019.

[13] Haspelmath, M., & Tadmor, U. (Eds.). 2009. Loanwords in the World’s Languages. Berlin, Boston: De Gruyter Mouton. doi: https://doi.org/10.1515/9783110218442

[14] Alves, M. J. 2009. ” Chapter 24. Loanwords in Vietnamese”. In Loanwords in the World’s Languages. Berlin, Boston: De Gruyter Mouton. doi: https://doi.org/10.1515/9783110218442.617
Tải xuống: https://drive.google.com/file/d/1CQJ4zgRcLFArHKpBIecS-75V_t0utV2P/view

[15] Jean M Green (1993). Unraveling the Enigma of the bi: The Spindle Whorl as the Model of the Ritual Disk. Asian Perspectives:105-24/

[16] Chu Điềm 关喜艳、周恬 Quang Hỉ Diễn. Tiến bộ mới trong khu khảo cổ thứ tư của khu vực Khuất Gia Lĩnh ở Kinh Môn, tỉnh Hồ Bắc. Một số di tích quan trọng đã được phát hiện. 湖北荆门屈家岭遗址第四次考古取得新进展 一批重要遗物被发掘: Nhân dân hàng ngày (Trung Quốc); 2004.; 3.

[17] Trương Bằng Xuyên 张朋川 (2005). Đồ gốm vẽ Trung Quốc 中国彩陶图谱: NXB Di sản văn hóa 文物出版社.

[18] Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái 嶺南摭怪, bản dịch Lê Hữu Mục, nhà sách Khai Trí (1960).

[19] Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Vinh. Những trống đồng Đông Sơn phát hiện ở Việt Nam. Nxb: Viện Bảo Tàng Lịch Sử VN (1974).

[20] Đỗ Quang Vinh, Tiếng Việt với triết lý âm dương và đạo sống Thái Hòa, trích trong Tiếng Việt Tuyệt Vời (tái bản lần thứ 2).

[21] Nguyễn Thủy Ngân, Tinh hoa âm dương ngũ hành trong văn hóa ẩm thực Việt Nam, Tạp chí Sức khỏe cộng đồng, số 3, ngày 20/5/2020.

[22] ThS. Hoàng Thị Tố Nga, Triết lý âm dương và ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hoá của dân tộc Việt Nam.
http://phatgiaobaclieu.com/triet-ly-am-duong-va-anh-huong-cua-no-trong-doi-song-van-hoa-dan-toc-viet/

[23] Loofs-Wissowa H (1991). Dongson drums: instruments of Shamanism or regalia?. Arts asiatiques, p.39-49. Doi: 10.3406/arasi.1991.1300
https://www.researchgate.net/publication/250235416_Dongson_Drums_Instruments_of_Shamanism_or_Regalia

[24] Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Thị Huế: Kho tàng thần thoại Việt Nam. Nxb. Văn hóa – Thông tin, H, 1995.

[25] Hoàng Trọng Miên, Việt Nam văn học toàn thư Tập I, Văn chương truyền khẩu, thần thoại, Quốc Hoa xuất bản tại Sài Gòn, 1959.

[26] Sử Ký Tư Mã Thiên, Việt Vương Câu Tiễn thế gia, Phan Ngọc dịch, Nhà xuất bản Văn học (2003).

[27] Lịch Đạo Nguyên, Thủy Kinh Chú Sớ, Quyển XXXVI, trang 394, Nguyễn Bá Mão dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2005.

[28] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Bản Kỷ, Quyển VI, Kỷ nhà Trần, Anh Tông Hoàng Đế. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (1993).

[29] Lịch Đạo Nguyên, Thủy Kinh Chú Sớ, Quyển XXXVII, trang 425, Nguyễn Bá Mão dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2005.

[30] Phạm Quốc Quân, Truyện trầu cau -Từ truyền thuyết đến chứng tích vật chất, Bảo tàng lịch sử quốc gia.
http://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3101/15779/truyen-trau-cau-tu-truyen-thuyet-djen-chung-tich-vat-chat.html

[31] Nguyễn Thị Đoan Trang, Tục nhuộm răng đen của người Việt, Tạp chí VHNT số 380, tháng 2-2016.
https://luocsutocviet.wordpress.com/2019/08/13/408-tim-hieu-ve-tuc-nhuom-rang-cua-nguoi-viet-xua/

[32] Trần Thọ. Tam quốc chí – Quyển 53.
http://www.guoxue.com/shibu/24shi/sangzz/sgzz_053.htm.

[33] Lịch Đạo Nguyên, Thủy Kinh Chú Sớ, Quyển XXXVI, trang 392, Nguyễn Bá Mão dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2005.

[34] Tống Sử, Quảng Nguyên Châu, dẫn lại từ An Nam truyện, dịch bởi Châu Hải Đường, Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2018 (tái bản 2021).

[35] Nguyễn Việt, Từ một phát hiện mới về lá bánh trưng thời Lang Liêu.
http://www.drnguyenviet.com/?id=6&cat=1&cid=102

[36] Nguyễn Giang Hải, Sức sống Đông Sơn qua một số loại hình di tích khảo cổ học

[37] Bảo tàng lịch sử quốc gia, Khai quật di tích thành cổ Luy Lâu năm 2015: những kết quả quan trọng.
http://luutruquocgia1.org.vn/tin-tuc-su-kien/t2-khai-quat-di-tich-thanh-co-luy-lau-nam-2015-nhung-ket-qua-quan-trong

[38] Trình Năng Chung, Nguyễn Giang Hải, Văn hóa Đông Sơn 10 thế kỷ đầu Công nguyên.
http://tapchikhxh.vass.gov.vn/van-hoa-dong-son-10-the-ky-dau-cong-nguyen–n50125.html

[39] Hoàng Xuân Chinh. Đồ đồng văn hóa Đông Sơn. NXB Văn Hóa – Thông Tin; 2012.

[40] Hai bài thơ sứ giả Giao Châu, bản gốc trên ctext: https://ctext.org/wiki.pl?if=en&chapter=956475

[41] Thu Trang, Dấu tích thời Lý trên đất Thanh Hóa qua những cổ vật.
https://vanhoadoisong.vn/web/trang-chu/chuyen-muc-khac/990-nam-danh-xung-thanh-hoa/dau-tich-thoi-ly-tren-dat-thanh-hoa-qua-nhung-co-vat.html

[42] Trịnh Sinh, Xứ Thanh với văn hóa trống đồng. Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa.
http://baotang.thanhhoa.gov.vn/portal/pages/print.aspx?p=4003

[43] Báo điện tử Dân trí. Đúc trống đồng để dâng tiến các vị vua triều Lý tại đền Đô.
https://dantri.com.vn/van-hoa/duc-trong-dong-de-dang-tien-cac-vi-vua-trieu-ly-tai-den-do-20160422161138749.htm

[44] Phạm Quốc Quân, Về một chiếc thạp đồng đáng chú ý thời Trần, tạp chí Khảo cổ học, số tháng 2-2006

[45] Lê Trọng Khánh, Những tín hiệu thu nhận từ bản lược đồ địa danh – ngôn ngữ Việt cổ – bước đầu góp phần vào việc tiếp cận một số vấn đề lịch sử cổ đại
https://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/71284/1/263%281992-4%29%285%29.pdf

[46] Trần Anh Dũng, Giá trị của di sản văn hóa Đông Sơn qua đồ gốm từ thế kỷ I đến thế kỷ 10.
http://baotanglichsu.vn/DataFiles/2020/10/News/thong%20bao%20khoa%20hoc/Tran%20Anh%20Dung%20-%20Gia%20tri%20cua%20di%20san%20van%20hoa%20Dong%20Son….pdf

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.