335. Chuyên khảo: Bản sắc văn hoá của người Việt

LỜI GIỚI THIỆU

Để hiểu đúng, hiểu rõ bản chất văn hóa tức diện mạo tinh thần của một dân tộc, một tộc người, theo chúng tôi, điều cần thiết chúng ta phải làm là tìm hiểu để làm sáng tỏ một vấn đề cốt lõi: từ những điều kiện cụ thể nào của dân tộc mà trên cơ sở đó, nền văn hóa đã phát sinh, phát triển. Nói cách khác, phải tìm hiểu mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên mà họ đã và đang sinh sống, rồi từ đó, biểu hiện ra các giá trị văn hóa cụ thể ra sao.

Môi trường tự nhiên ấy là đất đai, đồi núi, sông biển cùng các điều kiện khí hậu thời tiết đã từng tồn tại từ trước khi có loài người, con người. Còn những biểu hiện cụ thể dưới cả hai dạng vật thể và phi vật thể, thì không gì khác hơn, đó chính là nếp sống nếp nghĩ cùng những phong tục tập quán – tín ngưỡng được hình thành và lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình lịch sử.

Quá trình con người tác động lên đất đai, xử lý nguồn nước và thích ứng với các điều kiện khí hậu thời tiết xảy ra ở mọi nơi trên trái đất, vừa có những nét tương đồng nhưng cũng lại vừa có những nét khác biệt, vì thế cuối cùng, đã tạo nên các vùng miền văn hóa khác nhau. Đấy là còn chưa nói tới việc, đối với mỗi dân tộc, trong quá trình phát sinh phát triển hoặc di chuyển, tự bản thân đã mang trong mình những bộ mã di truyền về văn hóa cũng khác nhau. Sự giao lưu tiếp xúc về văn hóa giữa các vùng miền trong quá trình lịch sử, đã xảy ra như một lẽ tự nhiên và tất yếu. Sự bình đẳng về văn hóa, vì thế rất cần được xác lập trên cơ sở của nền độc lập dân tộc, nhất là trong thời đại hội nhập quốc tế như hiện nay.

Lâu nay, từ một số nhà nghiên cứu rồi sau đó lan ra nhiều người khác trong xã hội, một quan niệm cho rằng ở phương Đông văn hóa Trung Hoa mới là trung tâm, từ đó lan truyền, ảnh hưởng sang các nền văn hóa khác nhỏ hơn ở ngoại biên, mà Việt Nam cùng với Nhật Bản và Triều Tiên, đã là những nền văn hóa nhỏ như thế. Lại cũng có một quan niệm khác nữa, cho rằng Việt Nam nằm ở ngã ba của con đường giao lưu tiếp xúc giữa hai nền văn hóa lớn là Ấn Độ và Trung Hoa, do vậy, đã chịu tác động và ảnh hưởng của cả hai, như một lẽ đương nhiên và tất yếu.

Chưa thấy ai lên tiếng tranh luận hay bác bỏ những quan niệm có tính chất bề ngoài, hời hợt và nửa vời ấy, còn ở đây, chúng tôi chỉ xin có một lời ngắn gọn: quan niệm như thế thì chẳng khác nào đã tự nhận mình là thuộc dân tộc đẻ muộn sinh sau, do vậy, chịu ảnh hưởng và bắt chước theo người ta cũng như là một lẽ đương nhiên vậy.

Muốn hiểu rõ bản chất văn hóa dân tộc, như chúng tôi đã nói, điều cần thiết phải làm là tìm hiểu sự phát sinh, phát triển về văn hóa từ chính cái nôi dân tộc. Các tài liệu dựa vào, do vậy, cũng phải từ chính các thế hệ tiền nhân của dân tộc để lại. Còn tài liệu của nước ngoài, cùng lắm chỉ để tham khảo, đối chiếu thêm, chứ không phải để mặc nhiên tiếp nhận các quan niệm đã ẩn chứa ở trong các tài liệu đó.

Gần đây, các nhà khoa học thế giới đã lên tiếng khẳng định rằng: “Chính Đông Nam Á đã là một trong những cái nôi hình thành loài người” và “là địa bàn hình thành đầu tiên của đại chủng phương Nam”. Mà cái nôi ấy, địa bàn ấy, theo những bộ sách cổ của nước ta còn để lại, chính là đã nói tới bộ tộc Việt thường thị cùng cư dân Bách Việt với nơi phát tích đầu tiên là nền văn minh lúa nước sông Hồng.

Nhà xuất bản Công an Nhân dân trân trọng giới thiệu cùng quý vị bạn đọc Bản sắc văn hóa người Việt.

Hà Nội, tháng 10 – 2006

NXB CAND


CHƯƠNG I
ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG SINH THÁI – NHÂN VĂN VÀ SỰ HÌNH THÀNH NỀN VĂN MINH LÚA NƯỚC CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ

1.Từ môi trường sinh thái – nhân văn

Từ địa bàn sinh tụ của cư dân Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ hiện tại, chúng ta hãy hình dung về một môi trường sinh thái – nhân văn đã diễn ra cách đây từ hàng vạn năm, rồi sau đó là phác ra bức tranh khái quát về quá trình hình thành nền văn minh lúa nước của người Việt cổ. Tất nhiên sự hình dung này phải dựa trên những suy luận hợp lý tức là hợp với quy luật tiến hoá chung của nhân loại, và như vậy có những điểm sẽ khác với sự trình bày của khảo cổ học là một ngành mà khi trình bày người ta phải lấy căn cứ từ những hiện vật đã khai quật được. Tuy nhiên, nếu trong công việc ấy có những sự sai sót về kỹ thuật (chẳng hạn, xác định niên đại nhầm), hoặc một vài mắt xích quan trọng chưa tìm thấy được, thì sự trình bày về một tiến trình hay một giai đoạn cụ thể nào đó sẽ vấp phải những khó khăn và khó lòng thuyết phục được người đọc. Hiện nay, ngoài những dụng cụ bằng đá được ghè đẽo sơ sài và được xác định là thời đồ đá cũ, thì không còn gì để nói về một thời gian cách đây đã hàng vạn năm hoặc lâu hơn nữa. Hy vọng tìm thấy những bộ hài cốt ở thời gian ấy cũng thật xa vời, vì khí hậu thời tiết nhiệt đới gió mùa lắm nắng nhiều mưa đã không cho phép lòng đất bảo quản được những bộ xương có niên đại lâu đến như thế. Trong tình trạng ấy, theo chúng tôi, không có gì khác hơn là phải cùng nhau hình dung, suy luận và kết hợp với những nguồn tư liệu về văn hóa vật thể, phi vật thể hiện còn lưu giữ…

°°°

-Khi ấy, chiếm vị trí hàng đầu trong giới tự nhiên là hai mảng núi rừng và sông nước. Ở miền núi và trung du hiện nay, trừ những núi đá và đồi đất khô cằn chỉ thích hợp cho một số loài cây thân thấp và cỏ hoang mọc lưa thưa – dấu vết còn lại đến ngày nay, thì ở những nơi có đất và lượng nước mưa đọng lại, cây cối đã mọc lên thành rừng. Ở những miền mà sau đó người ta gọi là đồng bằng cũng vậy, rừng đã mọc lên ở khắp nơi, miễn là chỗ nào có đất thì có cây cối, có rừng mọc lên chiếm chỗ.

Quá trình bồi lắng phù sa của miền đồng bằng làm cho nhiều loài cây chỉ kịp mọc lên chứ chưa kịp phát triển thì đã bị vùi lấp ngay xuống, để nhường chỗ cho một thế hệ cây cối mới ra đời. Hiện nay khi khoan những giếng nước ở nhiều vùng thuộc đồng bằng Bắc Bộ để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, người ta phải khoan sâu xuống khoảng từ 25 đến 30 mét mới thấy mạch nước ngầm tức là gặp tầng cát hay tầng sỏi cuội đầu tiên – dấu tích của những dòng sông, suối lộ thiên ở vào thời từ nhiều vạn năm về trước.

Rừng nước ta, từ thời thượng cổ đến nay đã mang đặc điểm là rừng nhiệt đới với đủ các loại cây cao thấp và dây leo chằng chịt, nhưng cũng thật hiếm những cánh rừng thuần chủng có diện tích lớn với chỉ một vài loài cây chủ yếu.

Rừng thuần chủng chỉ có ở những vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới, nên ở đó người ta mới khai phá để trồng các loại cây cao lương và dùng những đồng cỏ mênh mông chăn thả một vài loài gia súc (cừu, dê, ngựa…) để trở thành kiểu chăn nuôi đại trang trại, như đã thấy ở Mông Cổ, ở Trung Á…

Rừng nhiệt đới của nước ta mọc lên đủ các loài cây, trong đó có một số loài cho quả, một số loài cho củ, cho hạt, cùng một số loài rau mà con người có thể ăn được. Cũng vì rừng nhiệt đới, lượng mưa lượng nắng nhiều, làm cho cây cối, cành lá đổ xuống mau chóng bị phân huỷ tạo điều kiện cho các loài côn trùng nảy nở sinh sôi, và từ đó kéo theo sự xuất hiện của các loài chim, thú và các loài cá, trên cạn cũng như dưới nước, thật phong phú về chủng loại. Ban đầu, với những con người sinh sống ở trong rừng, như thế cũng có thể được coi là đủ, nếu không muốn nói là dồi dào. Khi ấy, khí cụ trong tay con người mới chỉ là những cành cây, những hòn đá tự nhiên rồi sau đó được ghè đẽo để trở thành tiện dụng hơn trong sinh hoạt cũng như trong việc săn bắt chim, thú… Giai đoạn này, con người cũng đã bắt đầu biết dùng lửa, và sự kiện này đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của họ, để phân biệt với trạng thái nguyên thuỷ ban đầu…

-Các sông, suối ở vào thời kỳ ấy cũng có thể hình dung ở dạng tương tự như ngày nay, nhưng chỉ ở miền thượng lưu và trung lưu, vì ở các miền đó mới còn giữ được những dòng chảy cố định. Còn ở miền hạ lưu tức đồng bằng sau này thì do hiện tượng phù sa được bồi lắng liên tục, cho nên các dòng chảy cũng phải thay đổi luôn, nhất là ở vùng các cửa sông. Lượng phù sa nhiều, lại chưa có đê, nên nhìn chung dòng chảy của các con sông ở miền hạ lưu thường nông và có nhiều nhánh, chứ không phải là những dòng chảy cố định và có đáy sâu như ở thời đã có đê. Vào mùa mưa, mà thời gian chiếm đến già nửa trong một năm tức là một chu kỳ, thì lượng nước ở vùng thượng lưu và trung lưu thi nhau đổ xuống hạ lưu, làm cho cả vùng này nước ngập tràn mênh mông, như một biển nhỏ vậy. Và cái biển nước này hoà nhập thành một khối với biển nước mặn đã có phía trước mặt (tức biển Đông) tạo thành một biển nước mênh mông, tuy rằng ở đầu và cuối (của biển nước nhỏ) là hai thứ nước ngọt, mặn khác nhau, rồi trung hòa tạo thành nước lợ – hiện tượng có thể hình dung như ở đồng bằng sông Cửu Long ngày nay, khi đang xảy ra trong một vài mùa mưa lũ.

Một môi trường nước vừa rộng vừa có thời gian lâu, lại vừa có nhiều phù sa, cành lá và xác động vật trôi nổi từ thượng lưu, trung lưu đổ về như thế, là điều kiện lý tưởng để cho các sinh vật phù du, và kéo theo nó là các loài cá cùng ba ba, thuồng luồng, cá sấu, tôm, cua, ốc, ếch… đua nhau phát triển. Tuy nhiên, với thời điểm mà con người còn sinh sống ở trong rừng chứ chưa đi xuống khai phá vùng đồng bằng, thì các sinh vật – nguồn thức ăn kể trên, mới chỉ ở trong thế tiềm năng…

-Sau giai đoạn các bầy người nguyên thuỷ rồi bán nguyên thuỷ sinh sống lẻ tẻ trong rừng, ngủ trong rừng – trên các lùm cây, thì chắc chắn phải đến giai đoạn họ kéo nhau vào các hang đá và vách đá để định cư – ở lại. Vì không thể ngủ mãi trên các cành cây với số lượng đông lại nhiều thế hệ không an toàn bởi mưa, bão, giá rét và thú dữ. Nhưng khi đã kéo nhau vào các hang đá và vách đá để sinh sống, thì tuy đã giải quyết được vấn đề mặc (tránh được mưa bão, giá rét, thú dữ), nhưng lại nảy sinh những khó khăn nan giải về vấn đề ăn. Từ các hang đá (một số rộng “mênh mông” như động Tam Thanh ở Lạng Sơn) mà ngày nay còn thấy ở các tỉnh miền núi (Thanh Hoá, Ninh Bình, Hoà Bình, Tuyên Quang, Lạng Sơn, v.v…), thì việc cả tập đoàn đi lại kiếm ăn sẽ vừa xa vừa gập ghềnh hiểm trở dễ sinh tai nạn, nhất là vào lúc đêm tối. Thế là, đến một lúc nào đó, các thế hệ tổ tiên xa xôi của chúng ta lại phải nghĩ đến việc quay trở lại rừng.

°°°

Ở trên chúng tôi đã nói tới việc sau giai đoạn nguyên thuỷ con người đã biết dùng lửa để làm chín các loại thức ăn (củ, chim, thú, cá,… đào, bắt được), giúp cho việc tiêu hoá dễ dàng và tránh được một số bệnh đường ruột… Lửa còn có tác dụng sưởi ấm khi mùa đông, làm ánh sáng trong đêm tối, làm vũ khí để xua đuổi thú dữ, v.v… Tuy nhiên, điều này còn quan trọng hơn nhiều: Từ lửa người ta đã biết chế tạo ra các loại công cụ và vũ khí bằng kim loại để từ đó tác động lại giới tự nhiên một cách có hiệu quả hơn. Và có thể nói, với các công cụ và vũ khí trong tay như thế, sức mạnh của con người đã được nhân lên gấp bội phần, và kể từ đây họ sẽ nhìn tự nhiên với con mắt đã khác trước – con mắt của kẻ luôn khám phá và con mắt của kẻ đi chinh phục.

Chính vì vậy, với công cụ và vũ khí mới trong tay (chứ không phải chỉ là những hòn đá, cành cây như giai đoạn trước), những người Việt cổ thời ấy đã mạnh dạn bước ra khỏi các hang đá, vách đá. Họ dùng dao, rìu (một vài di chỉ khảo cổ học đã nói lên điều ấy) để chặt cây, phát cây, dựng những ngôi nhà thô sơ đầu tiên, những hàng rào bằng tre nứa vạc nhọn ở đầu để chống các loài thú dữ (hổ, báo…). Cũng bằng con dao và lưỡi rìu, mà những bè mảng (bằng tre nứa rồi dùng dây kết lại) rồi sau đó là những con thuyền độc mộc (bằng thân cây to được đục rỗng, để kín hai đầu) đã ra đời, để họ đi lại và chở vật dụng qua suối, qua sông dễ dàng. Còn với những mũi giáo và mũi tên bằng kim loại, làm cho việc săn bắn chim thú của họ trở nên có hiệu quả hơn, số lượng thu được cũng gấp nhiều lần hơn so với trước.

°°°

-Địa bàn sinh tụ của người Việt cổ khi ấy, theo chúng tôi, có sự di chuyển dần dần theo cách thức: từ rừng sâu tiến ra định cư ở ven các thung lũng và các miền bìa rừng rộng rãi, bởi một lẽ tự nhiên là những nơi ấy có địa thế thuận lợi hơn mà dần dần họ đã nhận thức được. Thung lũng có những điều kiện tự nhiên – môi trường sinh thái tương tự như ở những vùng mà sau đó người ta gọi là đồng bằng, chỉ khác quy mô nhỏ hơn và sự đi lại khó khăn hơn.

So với trong rừng sâu thì thung lũng rõ ràng có nhiều ưu điểm: gần nguồn nước, dễ kiếm các loại thức ăn, dễ chống các loài thú dữ, v.v… Còn các bìa rừng, chính là vùng chuyển tiếp giữa rừng núi và đồng bằng, có các điều kiện thuận lợi như ở thung lũng, hơn nữa sự đi lại cũng dễ dàng hơn. Và chính ở miền bìa rừng ấy mà tầm mắt của người Việt cổ đã được mở rộng, và từ đấy, khi đã thăm dò các miền đất mới thấy có nhiều cơ hội để phát triển, thì họ đã bung ra, tiến vào khai phá vùng đồng bằng rộng lớn trước mặt.

°°°

Khi còn sống ở trong rừng, sau đó là trong các hang đá, vách đá… thì giữa các bộ tộc không có sự khác biệt với nhau là mấy. Chỉ có vấn đề trong nội bộ các bộ tộc, thì có ngôn ngữ riêng và có các luật lệ, phong tục tập quán riêng để từ đó tạo nên các tộc người riêng. Tuy nhiên, đến các giai đoạn về sau thì rõ ràng sự phát triển của các bộ tộc và tộc người đã có sự không đồng đều mà then chốt của nó chính là từ công cụ lao động: Bộ tộc nào tìm ra công cụ bằng kim loại trước thì rõ ràng bộ tộc ấy sẽ mạnh hơn và từ đó sẽ chiếm được những địa bàn sinh sống có nhiều thuận lợi hơn. Cho nên, tuy cùng là thung lũng, nhưng có thung lũng rộng ở dưới thấp, có thung lũng hẹp ở trên cao, và tương ứng với nó, có các tộc người khác nhau sinh sống và mức độ phát triển (văn minh) cũng khác nhau.

Còn trường hợp những tộc người phải sinh sống ở các lưng chừng núi và du canh du cư, thì rõ ràng họ là những người đến chậm, đến sau hoặc từ nơi xa xôi nào đó di cư đến, khi mà các thung lũng rộng và hẹp đã có người đến ở và làm chủ rồi.

Một khi đã đứng vững trên địa bàn sinh tụ mới (thung lũng, bìa rừng) thì giai đoạn đầu, cuộc sống của các bộ tộc có thể nói là đã bước vào giai đoạn “Cực lạc”. Khi ấy dân số còn chưa đông, mà các nguồn thức ăn lại vô cùng dồi dào và dễ kiếm. Trong rừng thì các loại hoa quả, các loại chim thú, trên mặt đất thì các loại cây cho hạt (lúa, ngô, đỗ), cho củ (khoai, sắn, lạc) còn dưới nước thì tôm, cá, ba ba, cua, ốc, ếch… Tuy nhiên, khi dân số đã phát triển vượt ngưỡng cho phép của nguồn thức ăn có sẵn kia, thì trồng trọt sẽ phải thay thế dần cho hái lượm và chăn nuôi sẽ phải thay thế dần cho săn bắn. Quá trình này diễn ra, một mặt do sức ép dân số, nhưng mặt khác cũng còn là quá trình khám phá và chinh phục giới tự nhiên của người xưa: từ hái lượm và săn bắn con người đã hiểu được đặc tính của các giống cây trồng vật nuôi, và do vậy, đã tiến hành việc trồng trọt và thuần hoá chúng.

Các nguồn dược liệu có thể cũng được phát hiện và sử dụng từ thời kỳ này, tuy nhiên mới chỉ là những kết quả bước đầu. Còn việc phải giải quyết vấn đề thức ăn dự trữ bằng biện pháp ướp muối, làm mắm, rồi từ đó trở thành thói quen trong sinh hoạt của người dân nước ta đến mãi về sau này, thì có thể cần được giải thích là do khí hậu nóng bức, do yếu tố mùa vụ đánh bắt (cá, tôm…) quyết định.

°°°

Về mặt xã hội, kể từ thời kỳ sinh sống ở các thung lũng và các bìa rừng thì các tộc người cũng đã chuyển giai đoạn, từ thị tộc sang bộ lạc. Đặc điểm của giai đoạn thị tộc hay thị tộc mẫu hệ là vai trò quyết định và đứng đầu của người phụ nữ trong các cộng đồng, mà vai trò này được quyết định bởi khả năng sinh đẻ và khả năng thu hái các nguồn lương thực, rau quả của họ đã có hiệu quả hơn việc săn bắt chim thú lúc bấy giờ (với các dụng cụ bằng cành cây, hòn đá) hãy còn rất bấp bênh của nam giới.

Nhưng đến giai đoạn bộ lạc thì vị trí ấy đã bị đảo ngược. Người đàn ông ý thức được vai trò của họ trong việc duy trì nòi giống chứ chẳng riêng gì người đàn bà, đồng thời họ còn ý thức được việc mình là nhân vật chính trong nuôi sống cũng như trong việc bảo vệ cộng đồng, bởi vì lúc bấy giờ những công cụ và vũ khí bằng kim loại trong tay người đàn ông đã được phát huy tác dụng. Tuy nhiên, ở vào cái thủa ban đầu các bộ lạc mới được hình thành, thì dấu tích của một xã hội thị tộc cũng còn đậm nét. Quan hệ tính giao (chữ dùng của Engels) giữa hai giới lúc ấy còn khá tự do, chứ chưa khắt khe để trở thành quy định, luật lệ như ở giai đoạn bộ lạc đã phát triển – tức là khi đã có những gia đình hay gia tộc độc lập, riêng rẽ, và quan hệ là theo huyết thống (nam giới).

Giai đoạn bộ lạc cũng được gọi là giai đoạn bắt đầu hình thành nhà nước. Trong mỗi bộ lạc có một người đứng đầu và người đó phải là nam giới. Người này thường là một người già cả, có nhiều kinh nghiệm sống, tức là có cả khả năng đối nội lẫn đối ngoại để điều hành công việc chung, giao tiếp khu xử với các bộ lạc láng giềng. Tuy nhiên, đứng đầu bộ lạc có khi cũng chỉ là một người còn trẻ nhưng có sức khoẻ, có chiến công cùng nhiều phẩm chất khác được cả cộng đồng thừa nhận là người đại diện xứng đáng.

Thường thì mỗi bộ lạc sinh sống trên một địa bàn nhất định, nhưng càng về sau, do dân số phát triển dẫn đến việc các bộ lạc phải chia tách ra, hoặc có những bộ lạc mới ở nơi khác nhập cư đến. Thế là những cuộc thương lượng hoặc những cuộc chiến tranh nổ ra, cuối cùng dẫn đến việc liên minh các bộ lạc ra đời, với những quy định chưa thành văn, để duy trì sự hoạt động và cả sự ổn định.

°°°

Những bộ lạc sinh sống ở trong rừng bên các thung lũng, do môi trường sinh thái ở đấy tương đối thuận lợi, giúp họ có thể vừa trồng trọt, chăn nuôi, lại vừa săn bắn và thu hái một cách trực tiếp các nguồn lợi có sẵn trong rừng để thoả mãn các nhu cầu của mình, cho nên lâu dần, đã làm nảy sinh ở họ tâm lý ngại di chuyển chỗ ở. Những lúc nhàn rỗi họ đầu tư công sức và trí tuệ vào việc trau chuốt dụng cụ, các nghề thủ công (đan lát, dệt) cùng cách thức săn bắn, bắt cá… hơn là việc phải bàn soạn với nhau để đi tìm những vùng đất mới. Chỉ đến khi sức ép dân số đã quá tăng, thì họ mới di chuyển, nhưng cũng chỉ quanh quẩn trong phạm vi của rừng, tức là đi từ thung lũng này đến các thung lũng khác, xa hơn. Thói quen sinh sống trong rừng mà ở đó có các nguồn lợi tự nhiên kích thích, làm cho họ không dễ gì có thể từ bỏ ngay được, và đó là điều đã xảy ra với các dân tộc ít người của nước ta. Những dân tộc này, cho đến nay vẫn còn giữ được những phong tục tập quán có từ thời bộ lạc, thậm chí thời thị tộc, thì chính là do họ đã sinh sống trong một môi trường rừng khép kín, ít có sự giao lưu tiếp xúc với thế giới bên ngoài.

Còn đối với những bộ lạc đến định cư ở các miền bìa rừng thì tình hình lại hoàn toàn khác. Lúc đầu, họ cũng không khác những tộc người anh em ở trong rừng bên các thung lũng kia là mấy, thậm chí họ còn có chung cả nguồn gốc xuất xứ (nhóm Việt – Mường). Thế nhưng, từ chỗ đối diện rồi mạnh dạn tiến xuống khai phá vùng đồng bằng rộng lớn trước mặt, và sau đó là quá trình giao lưu tiếp xúc với các tộc người từ bên ngoài vào trong các thời kỳ tiếp theo, đã làm cho họ phát triển đi lên, khác xa với nguồn gốc ban đầu của mình. Tuy nhiên, để khai phá được vùng đồng bằng này thì phải có những tiền đề và tiền đề ấy không gì khác hơn, là những công cụ lao động.

°°°

Ở vùng bìa rừng, nghề luyện kim tiếp tục được duy trì, phát triển, trên cơ sở những lò luyện kim thô sơ của giai đoạn ở trong rừng. Ngoài những con dao và lưỡi rìu của giai đoạn ấy, họ đã chế tạo được nhiều vật dụng khác, khó hơn, tinh xảo hơn và cũng tiện lợi hơn (thẩu, thạp, xanh, nồi…). Về công cụ lao động, vật liệu bằng sắt đã được thay thế cho vật liệu bằng đồng, vì sắt thì ích dụng (sắc hơn) hơn đồng trong việc chặt cây, phát cỏ, nhưng rèn sắt thì cũng khó hơn rèn đồng, vì sắt cứng hơn đồng. Khi đã có những chiếc liềm rồi những lưỡi cưa bằng sắt ra đời, thì có thể nói, công cụ lao động trong tay người Việt cổ đã được nâng lên ở một tầm mới. Chính là từ những lưỡi cưa bằng sắt (chứ không phải bằng đồng) mà những thân gỗ lớn được hạ xuống rồi được xẻ ra làm ván (chứ không phải dùng dao, rìu để đẽo gọt) rồi được liên kết (đóng ghép) với nhau bằng những chiếc đinh (cũng bằng sắt) để thành những chiếc thuyền lớn hoặc rất lớn, có thể chứa được những vật thể nặng, nổi và di chuyển được trên mặt nước, lại dễ điều khiển và không bị những con sóng lớn nhấn chìm. So với thời dùng mảng và thuyền độc mộc, thì việc dùng thuyền đã là một bước tiến bộ vượt bậc.

Bằng những chiếc thuyền như thế người Việt cổ đã có thể chinh phục được những dòng sông ở miền hạ lưu (đồng bằng) giúp họ đi tới những miền đất mới có khi rất xa so với nơi ở cũ. Rồi bằng những con dao, lưỡi rìu, lưỡi liềm, lưỡi cưa, chiếc lao, mũi tên… với chất liệu bằng sắt, mà cuộc chinh phục ấy đã diễn ra một cách có kết quả hơn: cây cối bị chặt hạ, cỏ bị phát, các loài vật gây hại dưới nước (cá sấu, thuồng luồng…) bị tiêu diệt, các loài hổ, báo còn lại phải từ đồng bằng lui mãi vào trong rừng sâu…

°°°

Lúc đầu, việc cấy trồng cây lúa nước cũng chỉ là một sự “gợi ý” trước của tự nhiên – như bao sự gợi ý với các loài cây trồng, vật nuôi khác. Bằng quan sát và kinh nghiệm thực tiễn, người Việt cổ nhận ra rằng cây lúa nước mọc hoang sẽ là nguồn cung cấp lương thực chủ yếu nếu được đem gieo trồng trên một địa bàn rộng. Và cái địa bàn rộng ấy chính là miền đồng bằng – nơi tương đối bằng phẳng, có đất đai màu mỡ, có lượng nước dồi dào đáp ứng được những yêu cầu cơ bản cho loài cây này sinh sôi, phát triển. Và thế là người ta dùng thuyền dùng mảng, di chuyển đến những vùng đất cao có thể ở lại lâu dài được, rồi chặt cây phát cỏ, dựng nhà dựng cửa. Tiếp đến, người ta bắt tay vào khai phá các vùng đất xung quanh nơi định cư mới này, biến nó thành những khoảnh ruộng có thể cấy trồng được cây lúa nước. Tuy nhiên, trong suốt thời gian trồng cây lúa nước kể từ đó trở đi, người ta trồng cả những cây lương thực (khoai, sắn) và cây hoa màu khác nữa (đỗ, lạc, vừng, rau…). Bởi vì nếu mùa vụ (trồng lúa) thất bát thì vẫn còn các loại lương thực khác để bù vào. Hơn nữa, với các khoảnh đất cao hoặc những khoảnh đất chỉ cấy được một vụ lúa, thì trồng các loại cây lương thực hoặc hoa màu kia, sẽ thích hợp hơn…

Quá trình cấy trồng cây lúa nước cùng các loại cây hoa màu nói chung cũng là quá trình mà người Việt cổ trước kia và người nông dân của thời Đại Việt sau đó đúc rút ra cho mình những kinh nghiệm về quan sát khí hậu thời tiết, về thâm canh gối vụ, về cải tiến công cụ, về chọn giống, bón phân, về kỹ thuật canh tác v.v…, tóm lại là những kinh nghiệm sản xuất. Lâu dần, những kinh nghiệm ấy được đúc rút lại thành những câu ngắn gọn có vần điệu, tức là những câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao, để truyền khẩu từ thế hệ trước sang thế hệ sau, có giá trị như những chiếc chìa khoá vàng để mở cánh cửa đi vào ngôi nhà ấm no hạnh phúc. Sau đây là những dẫn chứng:

– Nói về kinh nghiệm sản xuất:

  • “Nước, phân, cần, giống” (thành ngữ)
  • “Khoai đất lạ, mạ đất quen” (tục ngữ)
  • “Cao trồng mầu, sâu cấy lúa” (tục ngữ)
  • “Thứ nhất cày ải, thứ nhì rải phân” (tục ngữ)
  • “Phân tro không bằng no nước” (tục ngữ)
  • “Mùa hơn đêm, chiêm hơn xướng” (tục ngữ nói về gieo mạ)
  • Kinh nghiệm về quan sát khí hậu thời tiết để từ đó biết trước có nắng hay có mưa, cũng từ đó mà chủ động đón nhận hay đối phó lại cho thích hợp (gieo mạ, phơi thóc…):
  • “Sao mau thì mưa, sao thưa thì nắng” (tục ngữ)
  • “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa” (tục ngữ)
  • “Trăng quầng thì cạn, trăng tán thì mưa” (tục ngữ)
  • “Vẩy mại thì mưa, bối bừa thì nắng” (tục ngữ)
  • “Kiến đen tha trứng lên cao

Thế nào cũng có mưa rào rất to” (ca dao)

  • “Én bay thấp mưa ngập bờ ao.
    Én bay cao mưa rào lại tạnh” (tục ngữ) v.v…

– Kinh nghiệm về kỹ thuật canh tác:

  • “Tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa” (tục ngữ)
  • “Nhai kỹ no lâu, cày sâu lúa tốt” (tục ngữ)
  • “Một lượt tát, một bát cơm”(tục ngữ) v.v…

– Kinh nghiệm về mùa vụ:

“Tháng chạp là tháng trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà
Tháng ba cày vỡ ruộng ra
Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng
Tháng năm gặt hái đã xong
Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy”… (ca dao)

Kết quả của những điều kiện tự nhiên thuận lợi cùng công sức, trí tuệ của con người đã cho ra đời những vụ mùa bội thu với nguồn lương thực dồi dào, và từ đấy là tiền đề để cho chăn nuôi phát triển. Con gà con vịt nhặt các hạt thóc vãi thóc rơi, con lợn ăn cám bã bèo rau và các thức ăn thừa, con chó giữ nhà, con mèo bắt chuột, con trâu, con bò kéo cày v.v… Đó là những con vật nuôi thật ích lợi đối với nhà nông, hoặc cho thực phẩm, cho sức kéo, cho phân bón, hoặc làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ. Bức tranh về các con vật nuôi tạo nên sự sinh động, hài hoà trong bức tranh về nông thôn, nông nghiệp nói chung.

Rồi những lúc nông nhàn (vì sản xuất nông nghiệp phải theo mùa vụ), người ta đã làm thêm các nghề thủ công để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và hỗ trợ cho sản xuất phát triển. Và cũng do nhu cầu của sinh hoạt và phát triển sản xuất, mà ngoài những nghề thủ công trong phạm vi gia đình, người ta còn lập nên những xưởng thủ công có quy mô vừa và nhỏ, như nung gạch ngói, gốm sứ, rèn đúc nông cụ, đóng mới và sửa chữa thuyền bè v.v… Việc trao đổi hàng hoá nhỏ lẻ rồi sau đó buôn bán ra đời, tạo nên những điểm tụ cư chốc lát (chợ tạm) hoặc lâu dài (thị tứ, thị trấn…) để thực hiện những chức năng ấy, cùng với nhiều chức năng xã hội khác…

°°°

Quá trình khai phá vùng đồng bằng của người Việt cổ, lúc đầu là hình thức tự nguyện (đi tìm và khai phá đất mới) nhưng ngay sau đó lại là bắt buộc vì người ta phải định cư, gắn với nơi canh tác của mình để tiện cho việc gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch. Với mỗi vùng đất mới, lúc đầu người ta đến theo hình thức gia đình, gia tộc, hoặc liên gia đình, gia tộc. Đó là những hạt nhân để từ đó phát triển lên thành xóm thành làng, rồi về sau có sự bổ sung của các thành viên mới, gọi là dân bạ cư, sau ba năm mới chính thức được nhập làng. Mỗi làng như vậy sẽ là một xã hội thu nhỏ, ở đó có những quan hệ thân tộc ràng buộc, có một khoảnh đất canh tác riêng phân ranh giới rõ ràng với các làng lân cận, và do vậy, có những luật lệ riêng, về sau được chính thức hoá thành “hương ước”. Đó chính là những tiền đề quan trọng làm cho mỗi làng xã đều có tính chất tự trị. Tuy nhiên, tính chất tự trị này cũng chỉ là tương đối, bởi vì ở bên trên nó còn có các tổ chức xã hội khác cao hơn đứng ra đóng vai trò điều khiển chung.

Khi các xóm các làng ở vùng đồng bằng đã tương đối đông, dân số đã phát triển mạnh, thì nhà nước cũng bước vào giai đoạn định hình và phát huy tác dụng. Dưới sự huy động và điều hành chung của nhà nước, người ta bắt tay vào việc đắp đê, làm các công trình thuỷ lợi lớn, tức là thực hiện cái ý định quy hoạch lại các dòng chảy tự nhiên theo hướng có lợi cho sản xuất nông nghiệp, mà chỉ đến lúc ấy, khi đã có đủ nhân tài vật lực, người ta mới bắt tay vào làm. Các con đê, lúc đầu được đắp từng đoạn nhỏ riêng rẽ, rồi về sau được nối vào nhau tạo thành một mạng nhện, đồng thời với việc chúng cũng được bồi trúc thêm để trở thành có diện mạo tương tự như ngày nay. Hệ thống đê điều ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ là một thành quả lao động vĩ đại, đánh dấu bước trưởng thành và sức mạnh tiềm tàng của dân tộc.

(Đã in trên Tạp chí KHXH Việt Nam, số 5 – 2005)

B. Từ nguồn thư tịch cổ

Ở địa bàn hai xã Phú Lãm và Phú Lương đầu huyện Thanh Oai (Hà Tây) ngày nay (tức địa bàn chủ yếu của vùng Đại Lôi thời Lý) từ thời dựng nước trở đi đã có các vị tộc trưởng họ Nguyễn truyền đời trông giữ phần mộ và thờ cúng các vị tổ tiên gây dựng nên cơ đồ dân tộc, rồi sau đó, là các vị có công với nước ở các thời Thục – Triệu, Hai Bà Trưng, Tiền Lý. Sở dĩ như vậy là do vùng này, xưa có Kinh đô Nghĩa Lĩnh của thời Bách Việt và các vua Hùng, Phong Khê của thời Thục – Triệu, Mê Linh hay Phong Châu của thời Hai Bà Trưng, Long Biên của thời Tiền – Hậu Lý (Lý Nam Đế). Các vị ấy ở đấy, chết ở đấy nên mới còn phần mộ ở đấy. Các vị tộc trưởng họ Nguyễn ở vùng này, vì là dòng kế thế từ các vua Hùng và theo phong tục tập quán có từ thời dựng nước truyền lại, nên mới là những người trông nom phần mộ và cúng giỗ các vị tổ tiên chung. Các vị ở các thời Thục – Triệu, Hai Bà Trưng, Tiền Lý, do cũng ở vùng này nhưng về sau không còn ai nối dõi, nên các vị tộc trưởng họ Nguyễn cũng trông nom phần mộ và cúng giỗ, vì đó là trách nhiệm của dòng trưởng đối với cả trăm họ.

Trải thời gian, trong suốt gần một nghìn năm Bắc thuộc, các vị tộc trưởng họ Nguyễn vẫn kế thế làm những công việc này nhưng dưới hình thức đơn giản không khoa trương, nên vẫn qua mắt được các quan lại cai trị người phương Bắc. Đến thời Đinh, khi vua Đinh đăng quang (vào năm 968) rồi về tận nơi hỏi han dân chúng, thì ngay sau đó, đã phong cho vị tộc trưởng họ Nguyễn khi ấy là Nguyễn Đức tước vị Quốc công, giao quyền quản lý 2.400 mẫu ruộng trong vùng (ở địa bàn hai xã nói trên và xung quanh) để xây dựng 72 ngôi đền (gọi là Nam thiên thất thập nhị từ), hàng năm mở lễ hội, tế lễ, rước sách, đón Hội đồng tộc biểu toàn quốc (có từ thời lập nước) và đồng bào cả nước về lễ Tổ và dự lễ hội.

Từ đó về sau, dẫu các triều đại, đời vua thay đổi, nhưng các vị tộc trưởng họ Nguyễn ở đây vẫn kế thế được nhận tước phong, như các thời Đinh, Tiền Lê, Lý phong là Quốc công, thời Trần phong là Quốc phụ, thời Lê, Nguyễn phong là Hương quận công, tiếp tục quản lý 2.400 mẫu ruộng thờ và làm các việc như vừa kể. Uy tín và vai trò tinh thần của các vị tộc trưởng họ Nguyễn như vậy là rất lớn, vì thế, còn được các thời gọi là Đường thượng nguyên trưởng. Theo Phả họ Nguyễn của vùng này để lại, thì từ thời Đinh (968) đến cuối thời vua Thành Thái (1907) nhà Nguyễn, trong 940 năm, có 49 đời là Quốc công, Quốc phụ, Hương quận công. Vị Hương quận công cuối cùng bị chính quyền thực dân Pháp bãi chức, nên vua Thành Thái phong là Thái tử Thiếu bảo, có tên là Nguyễn Vân Ý, mất năm 1951.

Xưa kia, ở vùng này, giỗ chạp, lễ hội diễn ra suốt 3 tháng 10 ngày trong một năm (từ 25 tháng chạp đến hết mồng 4 tháng tư), chỉ trừ những thời có giặc giã, vì thế, đến đầu thời Nguyễn mới thực hiện theo chỉ dụ của vua Gia Long: Tổ chức giỗ công đồng cho các vị tổ tiên chung vào hai tháng: tháng 3 (từ mồng 1 đến mồng 6) và tháng 8 (từ ngày 10 đến hết ngày 15) âm lịch, gọi là “Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ”.

Trong suốt thời phong kiến tự chủ, kể từ thời Đinh trở đi, các vị tổ tiên chung, các vị có công với nước ở các thời vừa kể, chẳng những được thờ ở Đại Lôi (tên có vào thời Lý, còn gọi tổng Sốm, tức địa bàn hai xã Phú Lãm – Phú Lương), mà còn được thờ ở nhiều địa phương khác. Tuy nhiên, theo những chứng tích như ở trên vừa dẫn, thì Đại Lôi mới là thờ chính, còn các nơi kia chỉ là thờ vọng. Các Thần tích, Thần phả được biên soạn, kể cả ở Đại Lôi, đều theo kiểu truyền thuyết dân gian nửa thực nửa hư, nửa có nửa không, là nhằm mục đích giấu kín tung tích thật, vì theo quan niệm xưa kia, đào mồ cuốc mả là điều tối kỵ, cho nên từ một số triều đại cho đến các Quốc công, Quốc phụ, Hương quận công ở Đại Lôi đều phải làm như vậy, và điều này đã được chính các vị ấy ghi vào trong Phả để căn dặn lại các thế hệ sau. Còn những điều về tung tích thật, như tên, tên hiệu, thế thứ, ngày sinh, ngày hóa, nơi an táng, sự tích của các vị được thờ, thì các vị tộc trưởng họ Nguyễn ghi vào các bộ sách Bách Việt triệu tổ cổ lục (ghi từ khởi đầu đến hết thời Bách Việt và các vua Hùng), Cổ Lôi ngọc phả truyền thư (ghi về thời Thục – Triệu, Hai Bà Trưng, Tiền Lý và thời Bắc thuộc), Phả họ Nguyễn (ghi về thời phong kiến tự chủ) và tuyệt đối không truyền ra ngoài (sau một số bài đều có thơ dặn lại: Bất dụng tha nhân biệt ngoại truyền).

Việc tổ chức lễ hội, cúng giỗ theo nghi thức quốc gia ở Đại Lôi chỉ chấm dứt vào cuối thời vua Thành Thái (1907). Khi ấy, sau khi bắt nhà vua đi đầy, vô hiệu hóa Hội đồng tộc biểu toàn quốc, thì chính quyền thực dân Pháp cũng thường xuyên cho lính về vùng này tàn phá, cướp bóc, rồi gây ra một cuộc “chiến tranh cục bộ” làm chết hơn 200 người. Trước diễn biến ngày càng căng thẳng, cụ Nguyễn Vân Ý cùng Hội đồng tộc biểu đã phải bán và chia nhỏ 2.400 mẫu ruộng thờ, lấy tiền di chuyển những ngôi đền trong Nam thiên thất thập nhị từ chưa bị phá đi các địa phương, xây mới nhiều đền thờ dọc hai bờ sông Nhuệ, sông Tô Lịch…

Ngoài ra, 4 vạn bản Thần tích, Thần phả cũng được sửa chữa lại, hoặc soạn mới, mà phần lớn đều ghi “Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm Hồng Phúc nguyên niên, Nguyễn Hiền phụng sao…”, rồi đóng dấu của thời Lê, thời Nguyễn vào (Địa điểm “tu thư” ấy được thực hiện ngay tại làng Thạch Bích, xã Bích Hòa, huyện Thanh Oai, phía dưới Phú Lãm – Phú Lương khoảng 3 cây số). Một bản giao cho các làng, còn các bản lưu tập trung đưa lên khu vực gần Đền Hùng (Phú Thọ) cất giữ, nhưng sau đó bị chính quyền thực dân phát hiện, thu giữ mất (nay một số trong đó còn lưu tại Thư viện Viện Hán – Nôm, Hà Nội, do Trường Viễn Đông bác cổ bàn giao lại). Lẽ dĩ nhiên, nội dung của các bản sửa chữa, biên soạn mới ấy cũng vẫn theo kiểu truyền thuyết dân gian, nhưng phần cấu thì nhiều chỗ còn phóng khoáng hơn cả các thời trước đó.

(Lã Duy Lan: Không phải là chuyện bịaBáo Văn nghệ số 26 – tháng 6-2004, trang 6)

°°°

Trong Bách Việt triệu tổ cổ lục có nói tới việc cách ngày nay khoảng bảy nghìn năm, khi bước chân từ trong rừng ra, tổ tiên ta là một nhóm Việt – Mường, đã đến định cư ở vùng đất phía đông của chân núi Ba Vì kéo dài tới khu vực chùa Tây Phương của huyện Thạch Thất (Hà Tây) một thời gian dài tới khoảng một nghìn năm, rồi từ đấy tỏa đi các hướng, khai thác các miền trung du và đồng bằng ở các giai đoạn sau đó.

Thời kỳ ở chân núi Ba Vì, trong Bách Việt triệu tổ cổ lục gọi là thời Cực Lạc, nước Cực Lạc. Đó là thời kỳ con người còn ít nhưng đã biết dùng lửa (có từ thời còn ở trong rừng, trong các hang động, vách đá – như chứng tích ở nhiều hang động thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, mà các di chỉ khảo cổ học đã cho thấy), còn các nguồn thức ăn ở dạng tự nhiên lại vô cùng dồi dào, dễ kiếm, vì thế mọi người cùng làm cùng ăn, cùng vui chơi giải trí, quan hệ nam – nữ thì theo sở thích và sự đồng thuận, con cái sinh ra là của chung cộng đồng chứ chưa có các gia đình riêng. Đến cuối thời Cực Lạc mới bắt đầu chia họ và có 9 họ được lập vào lúc bấy giờ bao gồm 5 họ Việt và 4 họ vừa Việt vừa Mường, về sau, đến giai đoạn sử dụng chữ Nho, thì được gọi là Cửu tộc.

Như vậy, gần như trong suốt cả thời Cực Lạc, quan hệ nam – nữ theo sở thích và sự đồng thuận đã là đặc điểm chính, từ đó chi phối các đặc điểm khác, như về phân bố dân cư, về địa vực cư trú và về phân công lao động. Một điều chắc chắn là ở vào thời ấy, để thích ứng với việc tìm kiếm các nguồn thức ăn trong môi trường mới, mà cư dân đã được chia ra thành các nhóm nhỏ, chứ không tập trung lại thành một khối gồm cả cộng đồng, như thời còn ở trong rừng. Mỗi nhóm nhỏ như thế sẽ bao gồm một số thành viên, do một người đứng đầu và người ấy có thể là nam mà cũng có thể là nữ, nhưng phải là người khỏe mạnh, có nhiều tài trí trong việc quán xuyến và tạo lập cuộc sống chung cho cả nhóm.

°°°

Vùng đất phía đông của chân núi Ba Vì, như ngày nay còn thấy, là cả một dãy đồi núi thấp, chỗ mau chỗ thưa, nổi lên như những chiếc bát khổng lồ (hay những chiếc mai rùa khổng lồ) úp xuống đồng bằng, trải rộng tới khoảng ba, bốn chục cây số, từ chân núi Ba Vì cho đến tận khu vực chùa Tây Phương của huyện Thạch Thất. Giữa những quả đồi ấy có con sông Tích Giang chảy qua, và ở khu vực cuối lại có các khoảnh ruộng trũng, rộng hẹp khác nhau, cấy được lúa nước, chứ không phải chỉ có đồi gò và chân ruộng cao như ở khu vực đầu, chỉ trồng được ngô, khoai, sắn, đậu, lạc…

Địa bàn ấy, theo chúng tôi, chính là một địa bàn lý tưởng để các thế hệ tổ tiên xa xôi của chúng ta ở thời Cực Lạc có thể tập dượt, làm quen dần trước khi bước xuống khai phá các miền đồng bằng (Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ) theo kiểu đại trà.

Ta hãy hình dung thuở ấy chưa có đê, vào mùa mưa mà thời gian kéo dài suốt mấy tháng liền trong một năm, thì lẽ tự nhiên con người phải dựa vào các chân núi chân đồi mà làm nơi ở. Những nơi ở như thế sẽ là những khối đá được xếp dựa vào các vách đồi vách núi, phía bên trên lợp lá cọ mà ở vùng này vốn sẵn có, còn xung quanh, để tránh mưa hắt gió rét lùa, người ta phải lấy đất nhào thành bùn đặc, dùng đá nhỏ làm cốt, để trát kín lại. Cái tên Thạch Thất mà ở thời sử dụng chữ Nho dùng để chỉ vùng này, là có liên quan đến việc dùng đá để làm nhà ở thời Cực Lạc, như Bách Việt triệu tổ cổ lục đã từng chép.

Cũng theo nội dung của bộ sách ấy, thì vật che thân ở thời kỳ này chủ yếu là lá cọ và các đồ xô gai. Lá cọ được buộc trực tiếp vào quanh người, về sau cải tiến thành chiếc áo tơi lá, còn đồ xô gai là dùng sợi của vỏ loài cây sợi dai (như đay, gai) tước ra xe lại (gọi là thừng, vì thế người Việt thời ấy còn được gọi là Việt thường thị, tức là người dùng thừng (thường = thừng) để làm nên quần áo), rồi từ đấy tết lại thành tấm mà khoác lên người và tết thành mũ mà đội lên đầu. Mo cau hay mo cây búng báng gấp khum khum lại, ở hai đầu dùng dây cố định cho chắc, thế là thành chiếc bồ đài, dùng để múc nước tát nước và đội lên đầu che nắng che mưa, cũng đều tiện lợi. Áo da thú của thời này cũng có, nhưng chỉ số ít người được dùng.

Lương thực của thời kỳ này là các loại hạt từ các giống lúa, ngô, đậu và các loại củ từ cây lạc, khoai lang mọc hoang. Qua quá trình thu hái và sử dụng lâu dài, dần dần người ta đã hiểu được đặc tính sinh trưởng của chúng, rồi tiến tới chỗ trồng được các loài cây ấy, từ đấy cũng giành lấy quyền chủ động hơn trong việc tạo ra và dự trữ được các nguồn lương thực.

Còn nguồn thực phẩm ở thời kỳ này, thì địa bàn ấy cũng là địa bàn lý tưởng, có đầy đủ các chủng loại với số lượng lớn, từ trai, hến, cua, ốc, đến tôm, cá, ba ba, lươn, trạch…, bởi vì đây là vùng vừa bán sơn địa vừa có đất trũng, lại có dòng sông chảy qua, nên lẽ tự nhiên, các loài vật kể trên cũng phải có nhiều. Các loài vật nuôi như chó, mèo, gà, vịt, ngan, ngỗng, trâu, bò… có thể cũng đã được thuần dưỡng ở thời kỳ này, bởi vì nhiều loài trong số đó, người ta đã săn bắt được ngay từ thời còn ở trong rừng. Các con vật nuôi ở thời kỳ ấy chủ yếu mới được khai thác ở phần cung cấp thực phẩm, và sử dụng chó để đi săn, mèo để bắt chuột, còn dùng trâu, bò để cầy bừa thì phải chờ đến khi có công cụ bằng sắt trong tay (cày, bừa, liềm, hái) để khai phá đất đai cấy trồng lúa nước, mới phải dùng đến.

Chúng tôi điểm qua những nét chính về đặc điểm môi trường và đời sống của người Việt cổ vào thời Cực Lạc ở chân núi Ba Vì như vậy, là để dẫn tới một đặc điểm quan trọng của thời kỳ này. Đó là, đã có sự giao thoa trong khoảng thời gian rất dài giữa mẫu quyềnphụ quyền, chứ không đơn giản là sự chuyển giao từ mẫu quyền sang phụ quyền, như lâu nay một số tác giả đã viết. Bởi vì, xét từ đặc điểm môi trường và sự tác động lên môi trường của con người để sinh sống, ta thấy có những tiền đề quan trọng để trên cơ sở ấy, làm nảy sinh và phát huy được hết những năng lực sẵn có của từng cá nhân. Nghĩa là mỗi cá nhân trưởng thành ở thời kỳ này đều có quyền tự do, bình đẳng trên rất nhiều phương diện, họ có thể dựa vào tự nhiên để tự tạo lập lấy cuộc sống của mình, chứ không bị lệ thuộc quá nhiều vào cộng đồng như thời còn ở trong rừng, vì thế mà những năng lực cá nhân ấy được giải phóng, làm tiền đề cho sự phát triển xã hội. Theo chúng tôi, chính là từ đặc điểm này mà trên thực tế đã diễn ra những cuộc ganh đua giữa các cá nhân, rồi trải qua quá trình chọn lọc và tích lũy, cuối cùng dẫn tới việc những cá nhân ưu tú ra đời. Những cá nhân ưu tú này, bao gồm cả nam nữ, sẽ là người đứng đầu, đại diện cho từng nhóm cư dân sinh sống trên từng địa bàn nhất định, làm nhiệm vụ dẫn dắt, quán xuyến công việc của cả nhóm, cưu mang giúp đỡ những người già yếu, bệnh tật và các trẻ em ở trong nhóm của mình.

Cuộc sống cộng đồng đang diễn ra no đủ và đầy vui vẻ như vậy, nhưng cũng vì thế đến một lúc nào đó, đã nảy sinh ra những vấn đề xã hội nan giải cần sớm được giải quyết. Đó là việc, từ đời sống quần hôn đã dẫn tới những cuộc tranh giành về cùng một đối tượng nhiều khi đến độ quyết liệt, làm cho sự bình yên của cả cộng đồng bị lung lay, rồi cùng với nó, là việc chăm sóc những người già yếu, bệnh tật, phụ nữ thai sản và trẻ sơ sinh không thể tự lo liệu về đời sống. Quan hệ quần hôn không thể giải quyết được những vấn đề ấy, vì quần hôn chỉ chú trọng đến sở thích rồi dẫn đến tranh giành, mà không mấy để mắt tới những vấn đề về trách nhiệm và nghĩa vụ. Vì thế, cuối cùng quần hôn đã phải thay thế bằng chế độ gia đình một vợ một chồng – khởi đầu của sự chia họ, như một quy luật tất yếu của đời sống vậy.

°°°

Theo Bách Việt triệu tổ cổ lục ghi lại, thì đến cuối thời Cực Lạc cách ngày nay khoảng 6 nghìn năm, tổ tiên ta đã bắt đầu tạo lập các gia đình riêng rồi từ đấy chia họ, và có 9 họ được lập vào lúc bấy giờ, bao gồm 5 họ Việt và 4 họ vừa Việt vừa Mường, về sau đến giai đoạn sử dụng chữ Nho, thì được gọi chung là Cửu Tộc.

Nơi diễn ra cuộc chia họ ấy, như Bách Việt triệu tổ cổ lục ghi lại, là xảy ra ở khu vực các làng Hạ Lôi – Bằng Trù thuộc huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây ngày nay, còn 9 họ đầu tiên bao gồm: Nguyễn, Trần, Dương, Chu, Vũ, Đinh, Quách, Bạch, Hà.

Theo lời giải thích của các vị tộc trưởng họ Nguyễn ở Đại Lôi đến nay còn truyền lại, thì khi ấy, các vị tổ tiên của chúng ta đã lấy địa điểm cư trú (ở phía đông so với chân núi Ba Vì), phương tiện đi lại (bè, mảng), cách thức kiếm sống (lao, gậy) hoặc một đặc điểm nổi bật nào đó để đặt tên cho một họ, rồi đến thời sử dụng chữ viết thì căn cứ vào đó để viết ra.

Hai vị thủ lĩnh thuộc hai giới (nam – nữ) bắt đầu lập gia đình riêng rồi từ đấy chia họ, theo Bách Việt triệu tổ cổ lục ghi lại, là ông Tứ Tượng và bà Nữ Oa, nhưng đó là cách gọi tên của người đời sau, khi chữ Nho đã được sử dụng.

Sở dĩ gọi ông Tứ Tượng là căn cứ vào việc: ông là người đầu tiên chú ý tới việc phải chăm sóc “tứ thân phụ mẫu” tức là chăm sóc cha mẹ mình và cha mẹ vợ – những người già yếu bệnh tật không thể tự tìm kiếm thức ăn, đồng thời, cũng là người nghĩ ra bốn quẻ đơn (Thiếu âm, Thái âm, Thiếu dương, Thái dương) làm cơ sở cho sự biến hóa trong Kinh Dịch ở các giai đoạn về sau. Ngoài ra, ông còn được gọi bằng nhiều tên khác, như: Phục Hy – người nằm dưới gốc đa, vì ông là người đầu tiên chủ trương việc trồng đa để lấy bóng mát, dùng quả làm thức ăn độn và đánh dấu nơi ở. Đế Hòa: chỉ ông là vị thủ lĩnh đầu tiên (như vua ở các giai đoạn sau) chủ trương việc hòa hợp. Hy Hòa: chỉ ông trồng đa và chủ trương việc hòa hợp. Đế Thiên Đế Thích: chỉ “vua cõi trời và vua cõi Phật”. “Vua cõi trời” là một cách tôn xưng từ “vua cõi đất” tức thủ lĩnh đầu tiên, còn “Vua cõi Phật” là căn cứ vào việc: sau khi chung sống với bà Nữ Oa ít lâu thì ông bỏ lên động Tây Thiên (thuộc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) đi tu một thời gian, rồi sau đó lại trở về chung sống với bà.

Gọi bà Nữ Oa là cách gọi của người đời sau, khi đã sử dụng chữ Nho, do căn cứ vào cái hang – nơi ở của bà có hình dạng của một con ếch đang ngồi (từ ngoài nhìn vào phía trước có hai tảng đá to, phía trên có một tảng đá to nữa kê ngang chìa ra, giống như hai chân và hàm ếch), ở chân quả đồi có chùa Cực Lạc thuộc xã Cần Kiệm huyện Thạch Thất ngày nay.

Ở thời bấy giờ, tổ tiên ta thường lấy các tảng đá tự nhiên xếp dựa vào chân đồi chân núi làm nơi ở. Phía bên trên dùng cành cây làm thanh ngang, trên cùng thì dùng lá cọ, cỏ tranh làm mái. Để tránh mưa hắt, gió rét lùa, các vị dùng đất đồi (vốn là đất đỏ bazan rất dẻo và quánh) hòa với nước làm vữa trát vào giữa các khe lớn, rồi dùng đá nhỏ chêm thêm vào cho chắc. Nơi ở của bà Nữ Oa là một cái hang công phu hơn (có 3 tảng đá to phía trước), nhưng theo thời gian, vữa trát xung quanh cũng không tránh khỏi bị nắng gió làm khô lại rồi bong ra, đứng ở phía trong nhìn lên thấy rõ cả nền trời, nên phải trát đi trát lại nhiều lần, vì thế mà từ đó có câu chuyện truyền ngôn “bà Nữ Oa đội đá vá trời” ở các thời về sau.

Ngoài tên gọi Nữ Oa, bà còn được gọi là Địa Mẫu hay Mẫu Địa, tức là “bà mẹ của Đất”. Gọi như thế là thể hiện sự tôn kính của người đời sau khi đem sánh bà là mẹ đất với cha trời là ông Tứ Tượng, nhưng đồng thời, cũng để nói rằng: Bà là bà mẹ đầu tiên đã biết làm ra các của cải từ đất, hay nói cách khác, bà là người đầu tiên thực hiện việc gieo trồng, thay cho hái lượm từ tự nhiên như trong giai đoạn trước.

°°°

Sau khi lập các gia đình riêng và chia họ, từ vùng Thạch Thất, tổ tiên ta tỏa đi các hướng, vừa săn bắt, hái lượm, vừa bắt đầu thực hiện việc canh tác, gieo trồng. Việc quy định trong một dòng họ không được lấy lẫn nhau có thể cũng đã được xác lập ngay từ thời gian này, bởi vì, nếu so sánh chế độ hôn nhân của người Việt với chế độ hôn nhân của người Trung Quốc, sẽ thấy chế độ hôn nhân của ta tỏ ra nghiêm ngặt hơn so với của họ. Đó là việc ở ta, con chú con bác, cháu chú cháu bác, con cô con cậu không bao giờ được lấy lẫn nhau, trong khi đó ở Trung Quốc, việc lấy như vậy là chuyện thường tình và đã từng xảy ra trên thực tế. So sánh như vậy không phải để nói lên sự hơn – kém, mà chỉ muốn dẫn đến một nguyên nhân sâu xa, có từ thời mới chia họ. Đó là việc Trung Quốc theo phong tục của người Hán ở phía bắc sông Dương Tử, vốn có nguồn gốc từ dân du mục, do vậy, các họ của họ ở rất xa nhau, rất khó thực hiện việc “ngoại tộc hôn”, cho nên phải lấy “nội tộc hôn” để bổ sung, còn ở ta, do môi trường sông nước dễ kiếm các loại thức ăn, nên tuy chia họ mà các họ vẫn ở gần nhau, từ đó tạo điều kiện cho việc thực hiện “ngoại tộc hôn” được thi hành triệt để, không phải lấy “nội tộc hôn” để bổ sung, và như vậy, việc quy định “ngoại tộc hôn” ở ta có nhiều khả năng đã được xác lập ngay từ thời mới chia họ, rồi từ đấy định hình lại như một thể chế bất thành văn, được các thế hệ tự giác chấp hành như một phong tục tập quán, cho đến ngày nay vẫn thấy còn tồn tại.

Sau khi chia họ, theo Bách Việt triệu tổ cổ lục ghi lại, thì họ Nguyễn đứng đầu cùng với nhiều họ khác xuống vùng So – Sở thuộc địa bàn hai huyện Quốc Oai – Chương Mỹ giáp nhau của tỉnh Hà Tây ngày nay, lập ra nhà nước đầu tiên (ở giai đoạn manh nha).

Nếu như ở thời Cực Lạc, tổ tiên ta đã biết dùng lửa để sưởi ấm, nướng chín các loại thức ăn, làm ánh sáng trong đêm tối, làm vũ khí xua đuổi thú dữ, thì thời ở vùng So – Sở, đã biết dùng lửa để tạo nên hai nghề bản ban đầu, tạo tiền đề cho sự phát triển của con người và xã hội ở các giai đoạn sau, đó là nghề nung gốm sứ và luyện quặng thành kim loại.

Nung gốm sứ là lấy đất luyện nặn thành nồi niêu bát đĩa rồi cho vào lò lửa nung, còn luyện quặng là để từ đó chế tạo ra các công cụ, vật dụng, vũ khí, trước bằng đồng, sau thì bằng sắt. Vì thế, thời ở vùng So – Sở được gọi là thời Viêm Bang, nước Viêm Bang, và người đứng đầu thì được gọi là Đế Viêm, như Bách Việt triệu tổ cổ lục đã ghi lại.

Khi đã có các công cụ bằng sắt trong tay (cày, bừa, liềm, hái…) trong tay, ở vùng So – Sở, tổ tiên ta cũng bắt đầu khai phá đất đai, cấy trồng lúa nước và từ đó mở ra nghề nghiệp mới, là sản xuất nông nghiệp. Vì thế mà vua của thời Viêm Bang, lúc đầu gọi là Đế Viêm nhưng về sau gọi là Thần Nông, như được ghi trong Bách Việt triệu tổ cổ lục. Cả thời Viêm Bang kéo dài khoảng một nghìn năm, đã có nhiều đời Đế Viêm và nhiều đời Thần Nông.

Có công cụ bằng sắt trong tay, tổ tiên ta còn mở thêm nhiều nghề nghiệp mới, thúc đẩy sản xuất và đời sống nông nghiệp phát triển. Một trong những nghề quan trọng phải kể đến ở giai đoạn này là việc dùng choòng, búa, đục để “đánh” đá khối, đá ong và dùng mai, cuốc, xẻng để đào ao, đào giếng.

“Đánh” đá khối để từ đó làm nên cối xay, cối giã, biến ngô thành bột, biến thóc thành gạo, và từ đó, ngoài món cháo ta còn có thêm món cơm. “Đánh” đá ong để làm vật liệu xây nhà, còn đào ao, đào giếng rồi đắp bờ thật cao là để lấy nước sạch, tránh nước bẩn và các vật trôi nổi vào mùa lũ tràn vào.

Một nghề nữa cũng không kém phần quan trọng, là rèn sắt, đúc đồng, có từ đầu thời Viêm Bang rồi sau đó được nâng cao thêm. Rèn sắt là để chế tạo và sửa chữa các công cụ, vật dụng bằng sắt (dao, kéo, cày, bừa, liềm, hái…) mà đời sống nông nghiệp lúc nào cũng phải cần đến, vì thế, đến ngay cả khi khai phá đồng bằng theo kiểu đại trà, thì hầu như ở làng xã nào cũng đều có ít nhất một gia đình theo đuổi nghề này, gọi là nghề “lò rào”. Còn đúc đồng để tạo nên các vật dụng như xoong, ấm, nồi, mâm, chậu…, thay thế dần cho việc dùng các nồi, niêu, ang, vại bằng đất nung vừa nặng vừa rất dễ vỡ.

Đời sống nông nghiệp phát triển, các nghề nghiệp phát triển, và cùng với nó, dân số cũng phát triển theo. Theo Bách Việt triệu tổ cổ lục ghi lại, thì đến khoảng giữa thời Viêm Bang, từ 9 họ ban đầu, tổ tiên ta lập ra 72 họ, cả mới lẫn cũ. Mỗi họ có một người đứng đầu, vì thế có “72 động chủ” có giếng nước ăn riêng. Những họ mới lập thêm, hoặc dùng đặc sản địa phương, dùng thế đất ở, hoặc căn cứ vào một đặc điểm nào đó, để đặt tên cho mình, như các họ Đào, Lê, Lý, Ngô, Đỗ… là lấy tên từ các loài cho quả, cho hạt thường dùng, còn họ Lã là để “kỷ niệm” về việc bắt đầu biết đào ao, đào giếng v.v…

Đỉnh cao của nghề luyện kim phát triển, là chế tạo ra được lưỡi cưa sắt, từ đó xẻ được gỗ ván, đóng được các loại thuyền, thay cho việc dùng bè, mảng ở giai đoạn trước đó. Chính vì thế mà đến cuối thời Viêm Bang, từ vùng So – Sở, các dòng họ đã vượt qua sông Đáy, xuống định cư ở vùng đầu huyện Thanh Oai ngày nay, mở ra thời Bách Việt và các vua Hùng vẻ vang, khai phá đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đi chinh phục thêm các vùng đất mới, xa hơn.

Nơi các họ đến ở đầu tiên, theo Bách Việt triệu tổ cổ lục ghi lại, là “Tiên la tương địa” – tức là vùng đất bồi đất nát Tiên La, nay thuộc làng Thanh Lãm xã Phú Lãm, còn vị vua đầu tiên mở đầu cho thời kỳ khai phá đồng bằng, là Đế Tiết. Đế Tiết sinh ra Đế Thừa, đều đóng đô ở Tiên La.

Hai vị Đế Tiết, Đế Thừa là những “tập đại thành” của các đời Thần Nông trước đó, đưa nghề trồng lúa nước, sản xuất nông nghiệp của người Việt lên tới đỉnh cao. Theo Bách Việt triệu tổ cổ lục ghi lại, thì hai vị đã “dạy dân quan sát các hiện tượng khí hậu, thời tiết”, từ đó “ổn định việc gieo trồng các mùa vụ, giống cây”, đồng thời cũng là những người “nếm các loài cây thảo dược làm thuốc chữa bệnh cho dân”, được các đời sau ghi nhớ. Đặc biệt là cụ Đế Thừa, còn gọi là Sở Minh Công, vừa kế nghiệp vua cha, vừa đặt nền móng cho việc đi chinh phục thêm các miền đất mới. Ngày sinh (mồng 1 tháng 6 âm lịch) và ngày hóa (mồng 10 tháng 10 âm lịch) của cụ Đế Thừa vì thế, được lấy làm ngày quốc lễ, là lễ xuống đồng lễ cúng cơm mới, từ đấy về sau, “thời bình còn có cả vua quan về tận khu đất có mộ của cụ (ở khu vực Tiên La, làng Thanh Lãm xã Phú Lãm ngày nay) để tế lễ, tạ ơn” (theo Bách Việt triệu tổ cổ lục).

Đế Thừa sinh được 3 người con trai “đều là những bậc thánh nhân” (theo Bách Việt triệu tổ cổ lục) là Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Nghi Nhân và Nguyễn Long Cảnh.

Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Nghi Nhân là anh em sinh đôi, thời còn trẻ thường thay nhau dẫn đầu nhiều người dân đi đánh cá ở hồ Mây Mù (tức Hồ Tây – Hà Nội ngày nay) rồi kẻ trước người sau, cùng đem lòng thương yêu và ước hẹn với bà Đỗ Thị Ngoan, là con gái của vị chúa hồ ở vùng này. Tuy người em quen biết trước, nhưng về sau người anh mới lấy được bà Đỗ Thị Ngoan, mà sự trớ trêu của số phận là ở chỗ: Hai anh em sinh đôi giống nhau như hai giọt nước, đến nỗi bà Đỗ Thị Ngoan không phân biệt nổi hai người, lại cứ tưởng chỉ có một.

Sau đám cưới, bà Ngoan về quê chồng ở Tiên La còn gọi là làng Cau (ở thời đó, tổ tiên ta đã biết ăn trầu, nên trồng nhiều cau), năm sau thì sinh con trai, nhưng thỉnh thoảng vẫn bị nhầm lẫn khi gọi tên chồng hoặc tên em chồng. Điều này làm cho Đức ông Nguyễn Minh Khiết tức tối, nghi ngờ bà vẫn có tơ tình với em trai, vì thế Đức ông bỏ vợ, đi lấy một bà khác ở làng Khương Đình (thời ấy gọi là làng Gừng, do ở đấy trồng nhiều gừng), nay thuộc quận Thanh Xuân – Hà Nội, rồi về đấy ở.

Bà Đỗ Thị Ngoan là người hiền lành phúc hậu, do vô tình mắc phải nỗi oan, nên cũng từ đấy rời làng rời quê, mang theo con vào tận động Tiên Phi (nay thuộc hai huyện Vụ Bản – Hà Nam và Lạc Thủy – Hòa Bình) xuống tóc đi tu, rồi trở thành người mở đầu cho việc tu hành và đắc đạo của người Việt. Các đời sau gọi bà là Hương Vân cái bồ tát, Sa bà giáo chủ, Đức Phật Thích ca (tức là vị Đức Phật mở đầu). Người Mường ở Hòa Bình thì suy tôn bà là Sơn trái chúa Mường. Ngày sinh của bà vào mồng 8 tháng 4 âm lịch, ngày hóa vào 15 tháng 7 âm lịch, đều được lấy làm ngày quốc lễ, gọi là “lễ Phật sinh Phật đản” và “Lễ xá tội vong nhân”, kể từ đấy về sau.

Sau khi anh lấy vợ mới, chị dâu đi tu, Nguyễn Nghi Nhân cũng phẫn chí, xin vua cha cấp cho thuyền bè, lương thực, vũ khí, rồi cùng nhiều dân chúng và binh lính, đi lập nghiệp ở nơi xa. Ngài ngược lên hướng Bắc, đến vùng hồ Động Đình của Trung Quốc ngày nay thì dừng lại, rồi chinh phục các bộ tộc ở đấy, lập ra nước Sở, đời sau gọi Ngài là Đế Nghi. Các hậu duệ của Ngài còn kế thế đến nhiều đời sau, gọi là dòng Sở Hùng Thông, và tham gia vào đời sống chính trị của Trung Hoa cổ đại, tham chiến với các nước khác ở bắc và nam sông Dương Tử.

Ở trong nước, sau khi cụ Đế Thừa qua đời, thì Nguyễn Minh Khiết được kế ngôi, gọi là Đế Minh, đóng đô ở Phong Châu, cách Tiên La khoảng một cây số ở phía ngoài, cùng bên cạnh sông Hát, là một nhánh nước từ sông Đáy chảy ra. Phong Châu nguyên ủy là bến nước được xếp bằng đá ong để làm bậc lên xuống, được quan lại phương Bắc ghi chép lại lần đầu sau khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở vùng này bị thất bại, từ đó cũng được dùng làm tên gọi của cả thời Bách Việt và các vua Hùng, xảy ra trước thời Hai Bà Trưng.

Thời Đế Minh trị vì mở đầu cho thời Bách Việt và các vua Hùng, có biên giới phía bắc đến bờ nam sông Dương Tử, biên giới phía nam đến tỉnh Quảng Nam ngày nay. Khi Nguyễn Lộc Tục (con trai Đế Minh và bà Đỗ Thị Ngoan) trưởng thành thì ở vùng Tử Di Sơn (chân phía đông dãy Hymalaya và là thượng nguồn sông Dương Tử) có giặc Ma mạc nổi dậy. Nguyễn Lộc Tục cùng người chú thứ ba (Nguyễn Long Cảnh) và 8 người cậu họ Đỗ, được cử cầm quân đi đánh dẹp. Đến vùng hồ Động Đình, Nguyễn Lộc Tục gặp gỡ, ước hẹn với bà Hồng Đăng Ngàn, con gái vị chúa hồ ở vùng này, rồi lên đường đi tiếp. Sau khi dẹp giặc xong, Nguyễn Lộc Tục trở lại, cưới bà Hồng Đăng Ngàn, rồi ở lại cai quản vùng này, đời sau vì thế gọi Ngài là Kinh Dương Vương, do phần đất cai quản có tên là Kinh Châu – Dương Việt.

Nhiều năm sau, đến khi Đế Minh già yếu rồi qua đời, thì 15 bộ trong nước họp lại, cử người đi đón Kinh Dương Vương trở về kế ngôi. Khi về nước, bà Hồng Đăng Ngàn cùng chồng mang theo nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt the lụa sồi đũi, vốn là nghề của quê hương bà, về trong nước, từ đó, làm thay đổi hẳn cung cách ăn mặc của người dân nước ta: quần áo bằng vải từ sợi tơ tằm đã được thay cho “lá cọ và đồ xô gai” buộc, quấn quanh mình ở các thời trước đó.

Không những mở ra nghề nghiệp mới, Kinh Dương Vương còn là người đẩy nhanh việc khai phá đồng bằng, ổn định các mặt đời sống người dân, đưa các cung cách ứng xử vào nề nếp, quy củ. Sau khi nhà vua hóa vào 25 tháng chạp âm lịch, do có nhiều công lao to lớn, nên được dân chúng suy tôn là Ngọc Hoàng Thượng Đế, từ đấy vĩnh viễn cai quản cõi trời, hành hóa các hiện tượng tự nhiên mây mưa gió sấm chớp xuống cõi trần, tượng được thờ cúng trong các chùa của nước ta từ đấy về sau. Cũng từ đấy, ngày sinh (vào ngày 15 tháng 8 âm lịch) và ngày hóa của nhà vua được lấy làm ngày quốc lễ. Đêm rằm tháng 8 âm lịch của nước ta có tục lệ các cháu thiếu nhi rước đèn kéo quân là để cầu mong Ngọc Hoàng Thượng Đế lại được tái thế, còn ngày 23 tháng chạp thì có tục lệ làm cỗ “tiễn ông Công” về trời chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế và hội họp thiên đình. “Ông Công” là bản cảnh thành hoàng, tức một trong các vua Hùng được thờ tại các làng xã, ngày 23 được các nơi làm cỗ tiễn để các vị trở về Phong Châu (đã dẫn trên) nơi có Kinh đô của thời Bách Việt và các vua Hùng thuở trước, ngày 24 tắm gội, rồi ngày 25 (tức ngày hóa của Kinh Dương Vương) thì lên chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế và hội họp thiên đình, được thể hiện trong câu ca dao:

Hăm ba là tết ông Công
Hăm bốn tắm gội, hăm lăm về chầu.

Địa bàn cai quản của các vị Đế Minh, Đế Nghi và vua nước Đại Lý (do Nguyễn Long Cảnh cai quản) như Bách Việt triệu tổ cổ lụcĐại Việt sử toàn thư ghi lại, là “từ phía nam sông Dương Tử cho đến tận vùng Quảng Nam” ngày nay. Vì thế mà câu chuyện về ông Tứ Tượng – bà Nữ Oa, về mối tình của ba vị Đế Minh, Đế Nghi và bà Đỗ Thị Ngoan dưới dạng Truyền thuyết Trầu cau, đã được lưu hành không những ở nước ta, mà ngay cả ở miền Nam Trung Quốc ngày nay cũng đều có, rồi từ đấy, còn lan truyền ra cả nhiều vùng khác thuộc Đông Nam Á. Điều chúng tôi thấy cần khẳng định ở đây là: các câu chuyện ấy vốn có nguồn gốc từ nước ta rồi theo đoàn quân đi chinh phục của Đế Nghi, đi dẹp loạn của Kinh Dương Vương mà truyền lên phương Bắc, chứ không phải những câu chuyện có ở phương Bắc rồi theo chân những người cai trị ở thời Bắc thuộc mà truyền vào nước ta, vì đầu thời Bắc thuộc xảy ra sau thời Đế Minh, Đế Nghi đến khoảng 3 nghìn năm.

Cũng như vậy, những ngày quốc lễ của nước ta thường gọi là những ngày lễ tiết mà ở trên chúng tôi vừa trình bày, như mồng 1 tháng 6, mồng 8 tháng 4, rằm tháng 7, rằm tháng 8, mồng 10 tháng 10, 23 và 25 tháng chạp, và các ngày mồng 3 tháng 3 (ngày hóa của bà Hồng Đăng Ngàn), mồng 5 tháng 5 (ngày hóa của bà Âu Cơ – vợ Lạc Long Quân) đều có nguồn gốc bản địa, tức là những ngày sinh và ngày hóa của các vị vua, các bà vợ có công ở thời dựng nước mà đến nay chúng ta vẫn thờ cúng tại các ngôi chùađiện mẫu, chứ không phải là được du nhập từ phương Bắc vào ở thời Bắc thuộc, như không ít người lâu nay vẫn lầm tưởng.

Kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học thế giới cũng phù hợp với những ghi chép trong Bách Việt triệu tổ cổ lục về các cuộc đi chinh phục, dẹp loạn của Đế Nghi, Kinh Dương Vương từ phương Nam lên phương Bắc, đó là “Ngay từ buổi bình minh của lịch sử, Đông Nam Á đã là một trong những cái nôi hình thành loài người. Đây chính là địa bàn hình thành đầu tiên của đại chủng phương Nam” – Ja.V. Chesnov, 1976 (dẫn theo Trần Ngọc Thêm trong Cơ sở văn hóa Việt Nam).

Kinh Dương Vương sinh được 5 người con trai, trong đó, một người chẳng may lâm bệnh mất sớm, 4 người còn lại đến tuổi trưởng thành đều được vua cha giao cho trông nom từng phần việc để ổn định đời sống người dân, mở mang các nghề nghiệp mới. Người con thứ tư là Nguyễn Lâm có nhiều tài trí nhất về sau được kế ngôi, gọi là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là cháu nội Đế Nghi, con gái Đế Lai, khi cùng vua cha trở về thăm lại nước cũ, chứ không phải là chú lấy cháu như Ngô Sĩ Liên, do đọc Đường sử Tống sử, đã viết vào Đại Việt sử ký toàn thư ở phần Ngoại kỷ Hồng bàng thị. Từ Kinh Dương Vương đến Lạc Long Quân rồi kế đến 100 vua Hùng kéo dài 2.622 năm đều đóng đô ở Phong Châu (đã dẫn trên), trong đó, 18 đời thống nhất được Bách Việt. Danh sách 100 vua Hùng, 18 đời thống nhất và Bách Việt đều được ghi lại đầy đủ trong Bách Việt triệu tổ cổ lục.

Trở lại câu chuyện “các họ của người Việt” mà căn cứ vào Bách Việt triệu tổ cổ lục chúng tôi vừa trình bày ở trên, có thể thấy người dân nước ta đã lập gia đình riêng và chia họ từ rất sớm, cách ngày nay khoảng 6 nghìn năm, và nhiều họ của nước ta đã có mặt ở miền Nam Trung Quốc kể từ thời Đế Nghi lập ra nước Sở, Kinh Dương Vương lên phương Bắc dẹp loạn, cũng cách ngày nay khoảng 5 nghìn năm. Nước Sở, cùng với các nước Ngô, Việt ở phía nam sông Dương Tử sau đó, đều thuộc các bộ tộc của Bách Việt phương Nam, tham gia vào đời sống chính trị của Trung Hoa cổ đại, tham chiến với nhau và với các nước ở phía bắc sông Dương Tử, và trong quá trình ấy, đã có sự xáo trộn về dân số, dòng họ giữa các cư dân của hai bờ sông Dương Tử này. Cuối thời Chiến quốc (hay còn gọi là thời Đông Chu liệt quốc) cách ngày nay khoảng 2.200 năm, nước Tần (ở phía bắc sông Dương Tử) thôn tính được 6 nước khác, lập ra đế chế Tần thống nhất, tiếp đến, ngôn ngữ, văn tự và các thể chế, phong tục cũng thống nhất theo, mà chủ thể của sự thống nhất ấy là lấy văn hóa của người Hán vốn có nguồn gốc từ dân du mục và gieo trồng cao lương (“lúa” cạn) ở vùng Tây Bắc của Trung Quốc, làm nền tảng.

Tần Thủy Hoàng chỉ là người thống nhất Trung Quốc rồi sau đó thống nhất văn tự Trung Quốc, chứ không phải người lập ra văn tự ấy. Nói cách khác, trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất văn tự Trung Quốc, thì các nước ở phía nam sông Dương Tử thuộc cư dân Bách Việt cũ, đã có văn tự riêng của họ. Do vậy mà thứ chữ vuông tượng hình, thời gian gần đây được nhiều người gọi là chữ Hán, thì nguyên ủy không phải chỉ là sản phẩm của người Hán, mà còn là sản phẩm của các bộ tộc, các nước thuộc Bách Việt phương Nam, mà trong đó, các vị vua của nước ta vốn đã từng nhiều lần làm chủ và thống nhất được cả khối Bách Việt ấy. Theo chúng tôi, chính vì ý thức rất rõ về những lý lẽ đó, mà các cụ ngày trước của nước ta chỉ gọi đó là chữ Nho và mặc nhiên sử dụng như là của chung do tiền nhân để lại, chứ không tách bạch đâu là Hán đâu là của Bách Việt.

°°°

Cho đến nay, việc truy tầm nguồn gốc các họ ở nước ta còn gặp rất nhiều khó khăn, do các thư tịch cổ để lại còn quá ít. Vì thế, không ít người đã lấy Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên viết dưới thời Lê Thánh Tông (thế kỷ XV) để làm căn cứ, cho đó là vị Thủy tổ của họ mình, có nguồn gốc từ… phương Bắc! Đúng là đã có chuyện nhiều quan lại, binh lính phương Bắc sang nước ta ở thời Bắc thuộc (từ năm 111 trước công nguyên đến năm 936 là năm Ngô Quyền giành lại độc lập) rồi lấy vợ, sinh con đẻ cái…, nhưng nhìn chung, đó không phải là các vị Thủy tổ của các dòng họ của nước ta.

Các vị Thủy tổ của các dòng họ ở nước ta, nếu muốn tìm, thì phải căn cứ vào các thư tịch cổ của chính nước ta, mà Bách Việt triệu tổ cổ lục chúng tôi vừa dẫn trên, là một nguồn tài liệu quan trọng. Các nguồn tài liệu khác có thể cũng đã nói về những vấn đề này, nhưng tiếc thay, vẫn còn nằm ở Nam Kinh (Trung Quốc), Pari (Pháp) mà trong lịch sử, hai nước đó đã mang về, cho đến nay vẫn chưa trao trả lại cho ta. Tuy nhiên, chỉ căn cứ vào Bách Việt triệu tổ cổ lục, chúng ta cũng có thể biết rằng: các họ của nước ta vốn đã có từ cuối thời Cực Lạc cách ngày nay khoảng 6 nghìn năm, rồi được chia thêm ở giữa thời Viêm Bang cách ngày nay khoảng 5.500 năm, và đến thời Đế Nghi, Kinh Dương Vương cách ngày nay khoảng 5 nghìn năm thì đã có mặt ở miền Nam Trung Quốc (ngày nay). Vì Bách Việt triệu tổ cổ lục chỉ chép về họ Nguyễn và một số họ khác có liên quan, chứ không chép về nguồn gốc, lai lịch của tất cả các họ của nước ta, cho nên phải tìm thêm ở các nguồn thư tịch cổ khác nữa. Về đại thể, nhìn vào bảng liệt kê “Bách gia tính” của Trung Quốc ngày nay, có thể nhận biết được một cách tương đối về nguồn gốc các họ của cư dân ở hai bờ bắc và nam sông Dương Tử – vốn là ranh giới giữa người Hán và dân Bách Việt ở thời xa xưa. Đó là dân phía bắc phần lớn mang họ kép (Âu – dương, Hạ – hầu, Đông – phương, Uất – trì, Công – dã, Công – tôn, Chung – ly, Mộ – dung, v.v…) còn dân phía nam chủ yếu mang họ đơn (Triệu, Tôn, Chu, Trịnh, Hà, Lã, Nguyễn, Đỗ, Lý, Đào, Lê, v.v…). Trong các cư dân mang họ đơn ấy, có nhiều dòng họ vốn là có nguồn gốc từ nước ta, như ở các phần trên vừa trình bày.

°°°

Sau thời 9 họ, 72 họ, theo dòng lịch sử, người Việt còn có nhiều đợt phân chia họ nữa. Ngoài ra còn phải kể đến việc, trong những thời khắc lịch sử cụ thể dưới chế độ phong kiến, không ít người còn phải thay họ đổi tên, để mong được an toàn, tránh khỏi sự truy lùng. Từ đó dẫn đến kết quả như ngày nay, số họ của chúng ta đã vượt xa những con số ban đầu, và việc truy tầm nguồn gốc của một họ nào đó nhiều khi cũng khó thực hiện được. Tuy vậy, ngay từ xa xưa, các thế hệ tổ tiên của chúng ta đã có chủ trương cố kết nhân tâm, đoàn kết dân tộc, coi các họ đều như nhau, được thể hiện trong câu chuyện truyền thuyết tiêu biểu “nhất bào bách noãn” (một bọc trăm trứng) gắn với mối tình Lạc Long Quân – Âu Cơ. Theo Bách Việt triệu tổ cổ lục ghi lại, thì hai vị đều là chắt nội của cụ Đế Thừa, nhưng sinh trưởng ở hai nơi rất xa nhau, vì thế cuộc hôn nhân này cho kết quả “một bọc trăm trứng”, là mang ý nghĩa “củng cố khối đoàn kết toàn dân” – được hiểu là “trăm họ” hay “Bách Việt”, có địa bàn cư trú từ phía nam sông Dương Tử cho đến Quảng Nam ngày nay.

Việc thờ cúng các vị Thủy tổ cửu tộc (trong đó có hai vị đứng đầu là Đế Thiên Đế Thích và Địa mẫu), các vị Đế Viêm, Thần Nông, các vị vua và các bà vợ có công ở thời Bách Việt và các vua Hùng, tức là các vị có công sinh thành nên “trăm họ”, các vị có công dẫn dắt cộng đồng khai phá đất đai, mở ra các nghề nghiệp mới đem lại cuộc sống hạnh phúc ấm no, từ xa xưa đã được các thế hệ nước ta luôn luôn chú ý, coi trọng, từ đó, tạo thành nếp sống nếp nghĩ, thành phong tục tập quán – tín ngưỡng của người dân nước ta, được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau đây:

  • Một là, hệ thống tượng thờ tại các ngôi chùa, điện mẫu ở các làng xã của người Việt (đậm nét nhất là ở trung du, đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ tức là địa bàn cư trú chủ yếu của người Việt ở thời dựng nước) chính là thế thứ các đời vua (lúc đầu là các vị thủ lĩnh), các bà vợ có công sinh thành, khai mở cơ đồ dân tộc, như vừa dẫn ở trên. Đạo tu thân tích thiện, tránh xa điều xấu điều ác và thờ cúng ông bà tổ tiên của chúng ta, có từ đầu thời Bách Việt và các vua Hùng với sự tích Hương Vân cái bồ tát, đến khoảng 3 nghìn năm sau khi Đạo Phật Ấn Độ truyền vào nước ta (căn cứ vào Truyện Man Nương trong sách Lĩnh Nam chích quái), thì được gọi chung là Đạo Phật (do hai đạo có giáo lý tương đồng), nhưng hệ thống tượng thờ lại khác nhau: Đạo của ta là thờ cúng các vị tổ tiên gây dựng nên cơ đồ dân tộc được tôn lên hàng Tiên Phật, Thần Thánh, còn Đạo Phật Ấn Độ thì chỉ thờ giáo chủ (Tất Đạt Đa) và các vị tông đồ. Đạo của ta chủ trương các vị tu hành ăn chay (tránh sát sinh) còn Đạo Phật Ấn Độ thì không.
  • Hai là, các ngày sinh, ngày hóa của các vị tổ tiên có công khai mở cơ đồ dân tộc của chúng ta được toàn dân tôn thờ bao gồm các đời, các thế hệ làm cỗ cúng giỗ hàng năm, và đó chính là hệ thống các ngày lễ tết trong năm của nước ta, như ngày 3 tháng 3, mồng 5 tháng 5, rằm tháng 7, rằm tháng 8, v.v… mà ở trên chúng tôi vừa dẫn, được ghi lại đầy đủ trong Bách Việt triệu tổ cổ lục.
  • Ba là, việc trông nom phần mộ các vị tổ tiên có công khai mở cơ đồ dân tộc được các vị tộc trưởng họ Nguyễn ở Đại Lôi thực hiện ngay từ thời dựng nước rồi truyền mãi về sau, vì thế, đến thời Đinh (năm 968) thì được nhà nước chính thức công nhận: Phong cho vị tộc trưởng họ Nguyễn khi ấy là Nguyễn Đức tước vị Quốc công, trao quyền quản lý 2.400 mẫu ruộng trong vùng (tức tổng Đại Lôi) làm 72 ngôi đền (gọi là Nam thiên thất thập nhị từ) để trông nom phần mộ, thờ cúng, hàng năm mở lễ hội, tế lễ, rước sách, đón Hội đồng tộc biểu (tức trưởng tộc các họ) và đồng bào cả nước về vùng này lễ Tổ và dự lễ hội. Sự kiện này tồn tại đến năm 1907 – dưới thời vua Thành Thái nhà Nguyễn, thì bị chính quyền thực dân Pháp bãi bỏ.

Còn tại các địa phương, các làng xã của người Việt, nơi có phần mộ các vị tổ tiên gần, xa của các dòng họ, thì từ bao đời nay, vẫn được các thế hệ cháu chắt truyền nhau trông nom như một phong tục tập quán thiêng liêng, được thể hiện trong câu tục ngữ: “Giữ như giữ mả tổ”.


CHƯƠNG II
BẢN SẮC VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT THỂ HIỆN TRONG PHONG TỤC TẬP QUÁN – TÍN NGƯỠNG

Quá trình hình thành nền văn minh lúa nước của người Việt cổ được bắt đầu kể từ khi họ kéo nhau ra khỏi rừng, định cư lại ở vùng phía đông của chân núi Ba Vì một thời gian dài (thời “Cực Lạc”) thăm dò, tìm hiểu rồi sau đó toả xuống khai phá vùng đồng bằng (châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả…) và nhiều vùng đất mới khác, để rồi cuối cùng đạt đến thành tựu rực rỡ ở thời Bách Việt và các vua Hùng với thời gian 2.800 năm trên một địa bàn rộng lớn.

Trên thực tế, địa bàn ấy trong thời gian tồn tại dài lâu của nó đã có sự xê dịch ở nơi này nơi kia (vào các giai đoạn không thống nhất được đất nước), nhưng căn cứ vào trống đồng là hiện vật đào thấy được ở địa bàn này (Nam Trung Quốc (từ phía Nam sông Dương Tử trở xuống) và đại bộ phận bán đảo Đông Dương ngày nay), thì có thể xác định đấy là vùng cư trú có thật của cư dân Bách Việt mà giữa các nhóm đã có sự tương đồng nhất định về ngôn ngữ, về điều kiện tự nhiên và canh tác, về phong tục tập quán, tín ngưỡng – tức là về văn hoá các mặt nói chung.

Người Hán ở phía bắc sông Dương Tử thiện chiến hơn, tràn xuống thôn tính được phần đất của nhiều nhóm Bách Việt phương Nam, lập nên đế chế Tần ở cuối thời Chiến quốc, nhưng khi đến phần đất của nước Âu Lạc đã bị quân dân của Thục An Dương Vương (tức là ngay sau thời của Hùng Vương thứ 18 đánh bại (tướng Đồ Thư bị giết, quân Tần phải rút về). Chỉ đến cuối thời nhà Triệu, người phương Bắc mới đặt được quyền cai trị nước ta (vào năm 110 trước công nguyên với nhà Tây Hán) và kéo dài đến gần 10 thế kỷ.

Chính sách đô hộ của phương Bắc ở thời kỳ đầu là “lấy Việt trị Việt”, tức là cử những viên Thái thú trong nhóm Bách Việt phương Nam (thuộc phần đất mà họ đã chiếm được từ thời Tần) sang cai trị nước ta (như Nhâm Diên, Tích Quang…). Các viên Thái thú này, dẫu sao thì cũng là dân Bách Việt cũ, nên chỉ bắt cống nạp đủ số bạc vàng châu báu và sản vật quý để đưa về chính quốc theo chỉ số hàng năm, còn đâu thì vẫn để cho người nước ta có quyền tự trị nhất định (như vẫn đặt một người trong nước làm chức “Giao Chỉ Quận vương”…). Khách quan mà nói, đấy là một cơ hội để cho nền văn hoá nước ta vẫn tiếp tục duy trì được từ cơ sở, trong suốt thời gian dài…

Âm mưu lâu dài của người phương Bắc là muốn thôn tính nước ta hoàn toàn để biến thành quận huyện, như họ đã từng làm với nhiều tộc người trong nhóm Bách Việt, vì thế, càng về sau, những viên Thái thú tàn bạo và nham hiểm khét tiếng đã được cử sang (như Tô Định, Cao Biền…). Nhưng dân ta với quá khứ vẻ vang, với niềm tự hào là “Thuỷ tổ của Bách Việt” (theo Bách Việt triệu tổ cổ lục) thì không dễ gì bị khuất phục. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, để rồi cuối cùng, đến đầu thế kỷ X với chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, thì nước ta đã giành lại được độc lập, từ đó mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của nền văn hiến Đại Việt.

Điểm qua như vậy để thấy rằng nền văn minh Việt cổ ở thời Bách Việt và các vua Hùng quả là có sức sống kỳ diệu – như một bếp than hồng vẫn âm ỉ cháy trong gần suốt một nghìn năm, để rồi cuối cùng bùng lên thành ngọn lửa dữ dội, thiêu cháy đi mọi tham vọng của kẻ thù.

°°°

Đặc điểm chính của nền văn minh Việt cổ, như chúng tôi đã trình bày ở chương trước, là nền văn minh lúa nước mà hạt nhân cấu trúc (tức đơn vị cơ sở) của nó là các xóm, làng, vì thế, có thể gọi chung là nền văn minh lúa nước – xóm làng.

Trên thực tế, cùng với thời gian, ở nơi này nơi khác có thể người dân đã sinh sống bằng các nghề thủ công, buôn bán, hay trồng những loại cây hoa màu khác là chủ yếu (để thích hợp với đất đai và điều kiện tự nhiên ở đấy), nhưng nhìn chung, ở nước ta, cây lúa nước vẫn là cây lương thực chính và bát cơm vẫn là khẩu phần chính trong mỗi bữa ăn hàng ngày của người dân. Vì thế, trong tâm thức dân gian, khi nói được mùa hay mất mùa thì chính là để chỉ vào việc được mùa hay mất mùa của cây lúa, mà trên thực tế điều này có ý nghĩa rất hệ trọng: nó kéo theo sự bình yên hay loạn lạc của cả xã hội. Việc gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch cây lúa, vì thế, đã trở thành lề lối, tập quán trong lao động sản xuất và cả trong thói quen sinh hoạt hàng ngày của mỗi người dân, kể từ thời Việt cổ trở đi. Các triều đại phong kiến trước đây, do thấu hiểu được những điều này, nên đã dành cho nông nghiệp nói chung và cho cây lúa nói riêng những nghi lễ hết sức trọng thể.

°°°

Muốn gieo trồng được cây lúa nước thì người ta phải có các yếu tố – điều kiện cụ thể như sau:

1. Phải có đất. Lúc đầu đất là đất hoang hoá, nên muốn có đất gieo trồng thì phải khai phá (chặt cây, phát cỏ), làm cho đất thành thục (cày, bừa, cuốc, sới), rồi phải bón phân (làm cho đất màu mỡ).

2. Phải có nước. Nước phải vừa đủ – không thừa mà cũng không thiếu. Muốn vậy, ở phạm vi hẹp (từng thửa ruộng) phải be bờ giữ nước. Ở phạm vi rộng hơn (làng xã, liên làng xã) phải có hệ thống kênh mương tưới tiêu. Ở phạm rộng hơn nữa (địa phương, vùng lãnh thổ) phải có hệ thống đê điều cùng hệ thống kênh mương.

3. Phải gieo cấy và thu hoạch đúng thời vụ.

4. Phải có hạt giống, và hạt giống phải tốt, thích hợp với từng loại đất.

5. Phải chăm bón thường xuyên (làm cỏ, bón phân, tháo nước khi úng, tát nước khi cạn).

Trong 5 yếu tố kể trên thì đấtnước là hai yếu tố cơ sở. Nó vừa là yếu tố tự nhiên, nhưng lại vừa là yếu tố xã hội. Quá trình con người tác động lên đất đai, việc điều hoà lượng nước vừa đủ cho cây lúa phát triển, là quá trình lao động vất vả cực nhọc của nhiều người, nhiều thế hệ trong điều kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt (nhiệt đới gió mùa, lắm nắng nhiều mưa, một năm có hai mùa nóng – lạnh rõ rệt). Quá trình này, trong suốt tiến trình lịch sử, đã để lại những nhận thức sâu sắc, những kinh nghiệm quý báu mang ý nghĩa trao truyền.

Tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc thông qua tìm hiểu tâm thức người dân về đấtnước, tức là xem xét đến quan niệm, hành vi ứng xử và tâm tư tình cảm của người dân với từng yếu tố, được biểu hiện ra thành phong tục tập quán, tín ngưỡng, thành các lễ tiết, lễ hội và cuối cùng, khi đất và nước đã thành một tổng thể (“quê hương đất nước”) thì tâm thức dân gian và bản sắc văn hóa dân tộc ấy sẽ là như thế nào? có giá trị gì? Sức mạnh và cả những bất cập của một dân tộc được biểu hiện trong nền văn hoá (vật thể, phi vật thể) của dân tộc ấy, nhưng vấn đề sẽ trở nên rõ ràng hơn khi ta đi sâu lý giải được những vấn đề thuộc về nền tảng bền vững mà trên cơ sở đó nền văn hoá phát triển. Quan hệ của con người với đấtnước và với đất nước, theo chúng tôi, là những vấn đề thuộc về nền tảng như thế.

°°°

Về mối quan hệ giữa con người với đất đai ở thời Việt cổ đã được sách Bách Việt triệu tổ cổ lục ghi lại như sau (bản dịch):

“Trải qua 7 nghìn năm, họ ta đi đến đâu cũng trồng cây đa lấy bóng mát, lấy quả làm gia vị và thức ăn độn, lấy da thú làm áo mặc, lấy lá cọ che mưa che nắng.

Bên cạnh cây đa thì đắp một cái hang và đào một cái giếng. Khi chết cũng được chôn ở đấy, các di tích đến nay vẫn còn khắp đất nước.

Họ trồng đa lúc sống, lúc chết chôn ở gốc đa, nên gọi là họ Phục Hy.

Người khởi xướng ra việc này gọi là vua Phục Hy.

Việc trồng đa để dễ tìm họ hàng và người cùng họ có trách nhiệm giúp nhau. Cuối đời Phục Hy do một người quản gia tổ chức quân đội làm phản chiếm đoạt trang điền, đuổi con cháu trong dòng trưởng đi, xưng là Hoàng đế Hiên Viên. Dòng họ trưởng còn sót lại một người đến bộ Vũ Ninh nay thuộc Chợ Rồng đất (Chương Mỹ) làm con nuôi họ Vũ, gọi là Vũ Hồn.

Ông lớn lên chăm chỉ chuyển hướng lúa nương sang trồng lúa nước, trồng dâu, dệt the, nếm cây thảo dược làm thuốc chữa bệnh, nên người trong nước gọi là vua Thần nông.

Được lòng người cho nên dân trong nước đánh đuổi Hoàng đế Hiên Viên khôi phục cơ nghiệp cho ông ở làng Sở. Đổi tên gọi là Sở Minh Công.

Ông chăm lo việc cày cấy, ông đến đất tương nay là làng Thanh Lãm huyện Thanh Oai.

Ông mất ở đây vào ngày mồng mười tháng mười, an táng ở đất Tiên La, mộ ông gọi là gò Sở đến nay vẫn còn. Cả ngôi mộ của bà nữa. Hàng năm, cứ đến ngày mồng một tháng sáu làm lễ hạ điền, nhân dân quan viên đến làm lễ tạ khu đất này.

Thời bình các vua quan cũng về làm lễ. Lễ thượng điền (sau khi cày cấy xong) và lễ cơm mới sau khi gặt. Khắp nơi trong nước đều có lệ làm những lễ này, gọi là lễ Thần nông”(1).

°°°

Những điều cần giải thích:

1. Đoạn ghi chép trên là của Quảng Oai hầu La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp sao lục lại từ các sách thời trước vẫn được truyền giữ trong dòng họ nhưng có chỉnh lý các địa danh cho hợp với thời đang ghi chép. Còn thời điểm ghi chép là vào khoảng cuối thời Tây Sơn đầu thời Nguyễn tức là giai đoạn cuối đời của ông (1800 – 1804).

Nguyễn Thiếp là Trưởng tộc họ Nguyễn, đồng thời cũng là Hương quận công (Quận công trông nom việc thờ cúng, quản lý 2.400 mẫu ruộng và làm chủ tế ở “Nam thiên thất thập nhị từ”) kế thế đời thứ 45, kể từ thời Đinh (đã dẫn ở chương I). Những ghi chép của Nguyễn Thiếp hay của các vị tộc trưởng họ Nguyễn khác về họ Nguyễn cũng chính là những ghi chép về Thuỷ tổ của Bách Việt, rồi kế đó là về thời các vua Hùng và các vị có công đối với đất nước ở các giai đoạn lịch sử về sau.

2. “Trải qua 7 nghìn năm…” là tính từ cuối thời “Cực Lạc” đầu thời “Viêm Bang” đến khi Nguyễn Thiếp sao lục một số phần của bộ Bách Việt triệu tổ. Như chúng tôi đã giải thích ở chương I: Cuối thời Cực Lạc, từ địa bàn chân núi Ba Vì, người Việt cổ đã toả đi các hướng để khai phá vùng đồng bằng và các miền đất khác, mà trong đó hướng chính (hướng về sau sẽ là các vua Hùng) thì về khu vực Phượng Châu – Tiên Lữ – Thổ Ngoã (có tên nôm là vùng So – Sở) ngày nay.

3.Về vấn đề “họ ta”. Trong phần ghi chép trên, Nguyễn Thiếp dùng hai chữ này mà không dùng hai chữ khác (như: dân ta) là do thực tế lúc bấy giờ đã khác trước (thời Việt cổ) rất nhiều. Vả lại, sách ông viết ra chỉ với mục đích để truyền cho con cháu trong họ biết chứ không truyền ra ngoài, cho nên mới dùng chữ “họ ta”.

Thực ra, vấn đề “họ ta” và “ dân ta” vốn có mối quan hệ gắn bó. Theo Bách Việt triệu tổ cổ lục thì ở cuối thời Cực Lạc đầu thời Viêm Bang (xem chương I), người Việt cổ đã đặt họ cho mình. Họ đầu tiên, họ của những người đứng đầu được đặt là Nguyễn ( ). Theo cách triết tự về chữ Nguyễn ( ) này thì bộ “liễu leo” ( ) bên trái mang biểu tượng “rồng” ngự trên cột chống trời ( ), do vậy mà ( ) là biểu tượng của “vua”, của “người đứng đầu”. Còn chữ “nguyên” ( ) bên phải là khởi nguyên, khởi phát, khởi thuỷ, nếu triết tự nữa thì gọi là nhất ( ) ghế ( ) tức cũng chỉ vị trí đầu tiên hay địa vị đứng đầu. Cả chữ Nguyễn ( ) do vậy, để chỉ những người đứng đầu ở giai đoạn khởi thuỷ. Từ họ Nguyễn ban đầu này toả đi các hướng. Ngành trưởng từ Hạ Lôi – Bằng Trù xuống Phượng Châu, từ đó kế thế làm “vua”, còn các ngành thứ và những người khác, tất cả chín vị, thì lấy đặc điểm vùng đất hoặc đặc điểm của phương thức tồn tại để làm tên đệm. Giai đoạn này, được gọi là giai đoạn cửu tộc. Về sau dân số phát triển thêm, đặt ra 72 họ, rồi từ 72 họ lại đặt ra các họ tiếp… Vì vậy, ở giai đoạn cửu tộc, giai đoạn 72 họ và thời Việt cổ nói chung, hai khái niệm “họ ta” và “dân ta” vốn có ý nghĩa tương đương.

4. Các tên gọi Phục Hy, Thần Nông ở đoạn ghi chép trên cùng những tên gọi khác như Đế Viêm, Đế Tiết, Đế Minh… ở chương I, đều để chỉ tên hiệu của người đứng đầu Bách Việt. Còn Hoàng đế Hiên Viên, theo một đoạn ghi chép khác trong Bách Việt triệu tổ cổ lục thì là người tỉnh Thiểm Tây phía bắc sông Dương Tử, đến phương Nam (nước ta) ở thời Đế Viêm để học nghề luyện kim (rèn đúc đồng, sắt). Lúc đầu ông ta được giao chức Quản gia, rồi về sau khi học xong nghề thì làm phản, xưng là Hoàng đế. Con của Đế Viêm, được các bộ tộc trong nước ủng hộ, sau đó đã đánh đuổi được Hiên Viên về phương Bắc (Trong khi chạy về phương Bắc, Hiên Viên đã bắt cả Đế Viêm đi theo, nên Đế Viêm bị chết ở phương Bắc – tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc) khôi phục lại cơ nghiệp của nước cũ. Cũng vị Hoàng đế Hiên Viên này, theo Tri thức văn hoá Trung Quốc, sách dịch và biên soạn lại theo các sách của Trung Quốc, Nxb. Hội nhà văn, xuất bản năm 2000, ở trang 530 ghi: “Cách thành phố Tân An 3 giờ ô tô chạy là Kiều Sơn – nơi có Lăng tẩm Hoàng đế Hiên Viên – thuỷ tổ của dân tộc Trung Hoa”.

5. Các tên gọi:

  • “bộ Vũ Ninh” là tên gọi từ thời nước Văn Lang (được ghi trong Bách Việt triệu tổ cổ lục, ở một đoạn khác), nay thuộc khoảng địa bàn các huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức (Hà Tây) và Lương Sơn (Hoà Bình).
  • “Chợ Rồng đất”, “làng Thanh Lãm”, “huyện Chương Mỹ”, “huyện Thanh Oai”, “làng Sở”, “đất Tiên La”, “gò Sở”, – là những tên làng, tên đất ở thời Nguyễn Thiếp sao lục Bách Việt triệu tổ. Những tên làng, tên đất ấy nay vẫn còn và vẫn được gọi như thế, nhưng có khác đôi chút: Chợ Rồng đất chỉ còn gọi là chợ Rồng.
  • “Đất tương” là đất phù sa mới được bồi đắp nên còn lầy lội. Đó là vùng Thanh Lãm và xung quanh, nơi Đế Tiết từ So, Sở (Tiên Lữ – Thổ Ngõa) chuyển xuống.

°°°

Ngoại trừ những vấn đề lịch sử mà chúng tôi sẽ trình bày vào một dịp khác, còn ở đây chỉ xin đề cập tới mối quan hệ của người Việt cổ với vùng đất (đồng bằng) mà họ đang khai phá. Từ những ghi chép trong Bách Việt triệu tổ cổ lục, ta có thể rút ra năm vấn đề về mối quan hệ ấy:

Thứ nhất, đất đai với tính cách là nơi của con người. Ở thời Việt cổ, họ Nguyễn (dòng trưởng của Bách Việt) đánh dấu nơi ở của mình bằng việc “trồng một cây đa”: “Đa cho bóng mát” và “lấy quả làm gia vị và thức ăn độn”…

Như ta biết, đa là loại cây cổ thụ, dễ trồng, sống hàng nghìn năm tuổi hoặc lâu hơn nữa và cho bóng mát quanh năm (không bị rụng lá vào mùa đông). Đặc tính này, như trong ghi chép, cho thấy ngay từ thời Việt cổ tổ tiên ta đã hiểu và đem ứng dụng nó. Tục trồng đa đánh dấu nơi ở mới, do vậy và từ đấy, đã trở thành phong tục tập quán, thấm vào tâm thức của người dân nước ta, biểu hiện ra thành tục ngữ, ca dao, thành lời ca tiếng hát. Việc các vị lãnh đạo nước ta đi đến một số nơi thường trồng một cây đa có thể đã liên quan tới phong tục tập quán này.

Quả đa chín ăn vào có vị chát nhưng không độc hại. Ở thời bây giờ không ai ăn, nhưng ở thời Việt cổ dùng nó làm gia vị và thức ăn độn thì ta có thể hiểu được: quả đa nấu lẫn với cá chắc chắn sẽ làm cho cá mất mùi tanh…

Bên cạnh cây đa, tổ tiên ta còn “đắp một cái hang và đào một cái giếng”. Điều này cho thấy đất đai với tính cách là nơi của người Việt cổ đã được xác định. Cũng trong Bách Việt triệu tổ cổ lục ở một đoạn ghi chép khác, viết về cái hang này như sau (bản dịch):

“Hang hình chữ Vạn ( ) tức là hai đường thẳng vuông góc với nhau nhưng bốn cửa lại đắp vuông ra nữa để tránh mưa hắt, gió rét lùa. Hang đắp nổi trên mặt đất, ở phía trong lấy từng đoạn thân cây gạo và tre tươi can liền lại, ở bên ngoài thì đổ đất thành gò rồi nện chặt, trên cùng thì trồng cỏ”.

Điều ghi chép này cho thấy: khi bắt đầu khai phá vùng đồng bằng tổ tiên ta đã đắp hang để ở, rồi sau đó mới làm nhà. Hang được đắp nổi (ở những nơi cao) để tránh ngập lụt. Người ở trong hang mùa hè thì mát, mùa đông thì ấm – rất thích hợp với thời quần áo chỉ bằng da thú và những tàu lá cọ ghép lại (được ghi trong Bách Việt triệu tổ cổ lục, ở một đoạn khác). Ngoài ra, ban đêm ngủ trong hang sẽ không bị thú dữ (hổ, báo) đến tấn công bất ngờ. Các vật liệu (thân gạo, tre tươi) để làm hang và cách thức làm hang (đất nện và trồng cỏ) cho thấy tổ tiên ta đã rất am hiểu đặc tính của cây cối, đất đai và nguyên lý nước ngấm, nước chảy. Đặc biệt, về hình dáng – cấu tạo của hang và cửa hang, cho thấy “các cụ” đã rất khoa học và tâm lý: Hang có 4 ngách là để cho các gia đình nhỏ (trong một gia tộc lớn) thuộc mấy thế hệ có thể ở riêng mà không bị “mắc cỡ”, còn cửa hang làm thêm một đoạn gấp khúc để tránh nước mưa hắt và gió rét lùa thẳng vào thì quả là hợp lý, không còn cách nào khác. Nhân đây chúng tôi cũng xin nói ngay rằng: chữ vạn (nghĩa: để chỉ dấu hiệu lành, điều lành và cũng là biểu tượng của Đạo Phật) về sau được viết ra là căn cứ vào hình dáng, cấu tạo cùng tính chất, ý nghĩa của cái hang để ở đầu tiên này, chứ không phải cái hang được làm ra theo sự “gợi ý” của chữ vạn!

°°°

Thứ hai, đất đai với tính cách là nơi an nghỉ của con người sau khi họ qua đời. Ở thời Việt cổ, như trong ghi chép của Nguyễn Thiếp, “khi chết cũng được chôn ở đấy”, tức là ở bên cạnh cây đa (đánh dấu nơi ở), cái hang (nơi ở) và giếng nước ăn (sẽ nói ở phần sau). Điều ghi chép này, theo nhận xét của chúng tôi là hoàn toàn hợp lý, hợp tình ở vào thời bấy giờ: người ta không thể và cũng không muốn đem người chết đi chôn ở xa. Hợp lý, vì vào thời bấy giờ, khi mùa mưa đến nước lụt ngập tràn mênh mông, nơi ở là những gò đống hoặc vùng đất cao, lại có nhiều gia tộc cùng ở, vậy nên chôn người chết cũng phải ở ngay gần đấy (nơi ở) chứ không có cách nào khác. Còn hợp tình, thì đó chính là một đặc tính cố hữu của người Việt (“nặng tình”) kể từ thời ấy và được thể hiện trong câu: “Con cái đâu, cha mẹ đấy” (thành ngữ), đến nay vẫn còn lưu truyền.

Việc người Việt cổ nằm nghỉ ngơi dưới gốc đa khi đang sống, lại an nghỉ vĩnh viễn (chết) cũng ở dưới gốc đa này bên cạnh con cháu, được quan niệm là một sự sung sướng của con người, của đời người, vì vậy người đời sau dùng chữ Phục Hy để ám chỉ là hoàn toàn có cơ sở.

Cũng trong Bách Việt triệu tổ cổ lục ở một đoạn khác, đề cập đến việc dòng họ Nguyễn Đỗ ở cuối thời “Cực Lạc” (vùng chân núi Ba Vì) đến vùng Lôi Cáo (nay là Xuân Đỉnh – Hà Nội) bên bờ hồ Mây mù (tức hồ Tây bây giờ) sinh sống, thì trồng cây gạo để đánh dấu nơi ở của mình. Trong tiếng Việt cổ, gạo được gọi là kháo. Vì thế hồ Mây mù, Dâm đàm hay hồ Tây sau này, lúc đầu đã được gọi là “hồ xác kháo” tức là để chỉ ở ven bờ và cả mặt nước hồ rụng đầy hoa gạo. Lâu dần, chữ kháo đọc biến âm đi thành chữ cáo, rồi thành cái hang và con cáo chín đuôi ở ven hồ này theo như một câu chuyện truyền thuyết (“Truyện hồ tinh” trong Lĩnh nam chích quái).

Nhân đề cập đến việc dùng cây để đánh dấu nơi ở (và cả nơi mất) của người Việt cổ, chúng tôi cũng xin nói rằng câu thành ngữ dân gian “Thần cây đa, ma cây gạo” là có nguồn gốc từ tục lệ này, tức là từ thời Việt cổ. Dòng trưởng họ Nguyễn từ chân núi Ba Vì xuống vùng Phượng Châu – Tiên Lữ – Thổ Ngõa (thuộc Hà Tây ngày nay) thì làm vua và trồng cây đa, còn dòng thứ (Nguyễn Đỗ = họ Nguyễn ở vùng đất trồng nhiều đỗ) làm dân thì trồng cây gạo. Vua sau khi chết là Thần, còn dân sau khi chết là ma, do vậy mà có “Thần cây đa, ma cây gạo”. Còn cái thành phần chắp sau câu này: “Cú cáo cây đề, tinh cây sung” (hoặc “tinh cây si”) thì chỉ là của đời sau, dùng để chế giễu sự mê tín quá đáng.

°°°

Cái hang hình chữ vạn đắp trên mặt đất để ở của người Việt cổ khi họ mới xuống khai thác vùng đồng bằng, đến nay vẫn còn để lại nhiều dấu tích, đặc biệt ở địa bàn làng Đa Sĩ, nay thuộc phía nam thị xã Hà Đông (tỉnh Hà Tây). Vì thế, làng này ngày xưa vốn có tên là Đa Sứ, rồi sau có nhiều sĩ tử đến trọ học, đi thi, mới đổi thành Đa Sĩ. Đây là cả một câu chuyện dài, chúng tôi sẽ giải thích vào một dịp khác, còn ở đây chỉ trình bày thêm một vài công dụng nữa của cái hang hình chữ vạn.

Có thể ngay từ thời “Cực Lạc” ở chân núi Ba Vì, tổ tiên ta đã biết làm những ngôi nhà bằng tre, gỗ, lá đơn sơ (vì vật liệu dễ kiếm, kỹ thuật cũng không khó). Tuy nhiên, khi xuống đồng bằng, giữa hai phương án làm hang và làm nhà, thì tổ tiên ta đã chọn phương án làm hang, vì nó “khả thi” và có nhiều lợi thế hơn. Đất ở đồng bằng là đất phù sa nên dễ đào, dễ đắp và không phải vận chuyển xa. Ở trong hang, vào thời vật che thân bằng lá cọ, thì mùa đông sẽ tránh được cái lạnh ghê người. Hơn nữa, ở trong hang thì tránh được thú dữ (hổ, báo) đến tấn công bất ngờ (khi đang ngủ)…

Tuy nhiên, một khi đã định cư lâu dài ở vùng đồng bằng, thì phương án làm nhà sẽ phải thay cho phương án làm hang. Bởi vì vào những năm nước về nhiều, hang sẽ bị ngập lụt. Lại nữa, khi nghề trồng dâu nuôi tằm đã phát triển đủ để có quần áo mặc, thì người ta phần nhiều cũng khắc phục được cái rét mùa đông. Đồng bằng được khai phá trên địa bàn rộng, thú dữ sẽ bị tiêu diệt hoặc phải tránh xa con người. Hơn nữa, ở trong nhà chắc chắn sẽ thoáng đãng hơn là ở trong hang.

Tất nhiên, giữa ở nhà và ở hang đã có một thời gian giao thời nhất định. Đến một lúc nào đó người ta ở hẳn trong nhà, thì những hang đã có sẽ được đặt tử thi của người chết, rồi người ta lấp cửa hang lại. Như vậy, cái hang để ở của giai đoạn đầu, đến giai đoạn cuối đã trở thành huyệt mộ.

°°°

Thứ ba, đất đai được thể hiện với tính cách là nơi giao lưu tình cảm và nơi người Việt cổ giúp đỡ lẫn nhau. Việc trồng cây đa, cây gạo đánh dấu nơi ở chính là một cách để “tìm họ hàng và gặp gỡ họ hàng” như Bách Việt triệu tổ cổ lục đã chép. Ở một đoạn khác trong Bách Việt triệu tổ cổ lục có viết thêm rằng ở xung quanh nơi ở (cây đa, hang đất và giếng nước) người ta còn trồng khoai lang và lạc. Đây là những loại cây mà củ và lá (khoai lang) đều có thể ăn ngay được (ăn sống hoặc ăn chín), đã từng là cây lương thực chính trước khi trồng lúa nước và để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm thức người Việt cổ (nước Văn lang, lang – chàng, người đàn ông. Lạc Việt, Âu Lạc). Việc trồng cây khoai lang, cây lạc khi đã xuống đồng bằng như vậy là nhằm vào yêu cầu dự trữ lương thực. Khi chủ nhân của những nơi ở này đi vắng hay chuyển đi nơi khác, thì ruộng khoai lang, ruộng lạc xung quanh vẫn được để lại, dành cho những người đến sau hoặc những người lỡ độ đường. Đây chính là “trách nhiệm giúp đỡ nhau” như Bách Việt triệu tổ cổ lục đã viết, và có thể nói, chính bằng hình thức cưu mang giúp đỡ này mà quá trình khai phá vùng đồng bằng đã diễn ra thuận lợi và được đẩy nhanh tốc độ.

°°°

Thứ tư, đất đai với tính cách là đối tượng lao động cho ra đời sản phẩm nuôi sống và thoả mãn các nhu cầu của con người. Điều này được thể hiện ở hai câu mà Bách Việt triệu tổ cổ lục đã chép: “Ông lớn lên chăm chỉ chuyển hướng lúa nương sang cấy lúa nước, trồng dâu, dệt the, nếm cây thảo dược làm thuốc chữa bệnh, nên người trong nước gọi là vua Thần nông” “ông chăm lo việc cấy cày, ông chuyển đến đất tương nay là làng Thanh Lãm huyện Thanh Oai”.

Qua hai đoạn trên, có thể thấy ở thời vua Thần nông các nhu cầu về ăn, ở, mặc, chữa bệnh đã được giải quyết một cách khá đồng bộ. Đất đai, vì thế, từ chỗ là “vật tự nó” đến giai đoạn này đã trở thành “vật cho ta”, và mang đầy những quan hệ xã hội, như ở các phần trước đã nói tới.

Trong Thần, người và đất Việt Tạ Chí Đại Trường viết: “Như nhiều người đã biết, tài liệu cổ về tập đoàn dân tộc sinh sống trên đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Cả ngày nay là của người Trung Quốc để lại” (17/18). Đó là một nhận xét hoàn toàn chính xác, và ở đây chúng tôi xin trích một đoạn chép trong cuốn Di vật chí của Dương Phu (thế kỷ I): “Lúa Giao Chỉ mỗi năm trồng hai lần về mùa hè và mùa đông”, còn một đoạn khác, chép trong Giao Châu ngoại vực (thế kỷ IV) rồi được dẫn lại trong Thuỷ kinh chú (thế kỷ VI): “Ngày xưa, Giao Chỉ khi chưa chia thành quận huyện, ruộng đất có ruộng lạc, ruộng đó theo nước thuỷ triều lên xuống, dân khẩn ruộng đó mà ăn nên gọi là dân lạc”.

Hai đoạn văn trên, chép ở hai thời điểm khác nhau của người phương Bắc, đều nói về một thực tế ở thời Việt cổ dân ta cấy lúa nước. Điều đó chứng tỏ những điều Nguyễn Thiếp chép trong Bách Việt triệu tổ cổ lục là hoàn toàn có cơ sở. Hơn nữa, đó còn là những ghi chép chính xác nếu đem so với những ghi chép của người phương Bắc. Câu “ruộng đó theo nước thuỷ triều lên xuống” trong Giao Châu ngoại vực chứng tỏ tác giả mới chỉ quan sát thoáng qua chứ chưa nghiền ngẫm kỹ, bởi vì theo đó, chẳng lẽ cây lúa lại có thể sinh trưởng được cả ở vùng nước mặn, nước lợ hay sao? Lại nữa, một khi đã gọi là có “thuỷ triều lên xuống” được thì phía trước nó không thể có bờ che chắn, vậy làm cách nào để chủ động điều hoà lượng nước (tháo ra khi úng, lấy vào khi cạn) được? Rõ ràng người ghi chép đã không hiểu rõ thực tế. Đúng ra, cái “nước thuỷ triều” mà tác giả Giao Châu ngoại vực chép, chỉ là nước ngọt, tức là nước từ thượng lưu của các con sông đổ về đồng bằng trong mùa mưa, tạo nên một biển nước mà thôi.

°°°

Thứ năm, đất đai còn mang tính cách là đối tượng được tôn thờ, thể hiện trong các lễ hạ điền, thượng điền và cơm mới (hay “thường tân”) như Bách Việt triệu tổ cổ lục đã chép. Tuy nhiên, đấy chỉ là những quan hệ gián tiếp, còn quan hệ trực tiếp là để người Việt cổ tạ ơn vua Thần nông – người đầu tiên cấy lúa nước hay là người hướng dẫn cho dân cách thức trồng cấy lúa nước. Điều quan trọng trong các ghi chép này của Nguyễn Thiếp ở chỗ đã cho thấy các nghi lễ nông nghiệp của ta có nguồn gốc bản địa và xuất hiện từ thời Việt cổ. Cũng như vậy, các danh hiệu Phục Hy, Thần Nông, Đế Viêm, Đế Tiết, Đế Minh… là chỉ người đứng đầu nước ta (Bách Việt) ở thời ấy và do người nước ta đặt, chứ không phải có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc, như lâu nay nhiều người vẫn lầm tưởng!

Như vậy, tâm thức của người Việt cổ về đất đai đã được nâng lên thành ý thức tôn giáo – tín ngưỡng mà trong đó bao hàm cả hai phương diện: biết ơn đất đai và biết ơn những người đã làm ra những sản vật từ đất đai. Đến các giai đoạn phát triển về sau, ý thức này càng được nâng cao thêm: những anh hùng cứu nước, những người “khai sơn phá thạch” – khai hoang lập ấp, những vị tổ nghề… tức là những người có công giữ đất, những người khai phá đất, những người mở ra một phương cách làm ăn mới… đã được dân chúng tôn thờ (trong các đình, chùa, đền, miếu…).

Ý thức ấy ăn sâu vào nếp nghĩ của người dân, kể từ thời Việt cổ trở đi, để trở thành tiềm thức, thành nguyên tắc trong ứng xử, trong lối sống của họ: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, và đó là một nét văn hoá đẹp, có nguồn gốc bản địa và mang dấu ấn dân tộc rõ rệt.

°°°

Với tính cách là đối tượng được tôn thờ trực tiếp, đất đai còn hiện ra trong tư thế một vị Thần mà theo đó ta thấy xuất hiện các Thần như Thần gò đống, Thổ thần, Thổ địa, Thổ kỳ… Quan niệm vạn vật hữu linh (tức là mọi vật đều có linh hồn như con người) có thể đã xuất hiện từ thời Việt cổ hoặc sớm hơn nữa (giai đoạn ở trong rừng) với việc tôn thờ các vị Thần như Thần đá, Thần cây, Thần sông và các hiện tượng tự nhiên mây, mưa, gió, sấm, chớp… Tuy nhiên, việc thờ cúng một vị Thần đất theo quan niệm như thế, ta chỉ thấy xuất hiện kể từ sau thời Việt cổ tức là từ thời phong kiến manh nha trở đi, đã được ghi lại trong Việt điện u linh với các vị Thần cụ thể, như: Thần thổ địa chùa Kiến Sơ, Thần thổ địa ở Đằng Châu, Thần núi Tản Viên… Các vị Thần đất nói chung này được dân chúng quan niệm là vị Thần cai quản cõi âm (dưới mặt đất) và bảo vệ (“dương trợ âm phù”) cho một cộng đồng người trong một địa bàn nhất định (gia đình, xóm ngõ, làng nước). Rõ ràng đây là một quan niệm và hành vi ứng xử mang tính cách tôn giáo – tín ngưỡng thuần tuý.

°°°

Như vậy, từ những ghi chép trong Bách Việt triệu tổ cổ lục ở trên, ta thấy được những vấn đề cơ bản trong quan hệ của con người với đất đai đã được xác lập ngay từ thời sơ sử (Việt cổ) đã trở thành những quan niệm, hành vi ứng xử và tình cảm bền vững trong lòng người dân, kể từ thời đó trở đi.

Tất nhiên, cùng với tiến trình lịch sử, những quan niệm, hành vi ứng xử và tâm tư tình cảm ấy của người dân đã không dừng ở đấy, mà tiếp tục có sự phát triển theo chiều hướng ngày càng bám sát hiện thực, trong đó có những mặt được đào sâu, nâng cao, nhưng cũng có những mặt sẽ bị cải biên hoặc thậm chí biến dạng so với lúc ban đầu, nhất là khi có sự xâm nhập của yếu tố văn hoá ngoại lai tác động vào.

Những quan hệ của con người với đất đai kể từ sau giai đoạn Việt cổ, tức là từ thời phong kiến manh nha trở đi chắc chắn đã diễn ra ngày càng phức tạp, bởi vì từ đó, quan niệm tư hữu và nhiều quan hệ xã hội mới đã được xác lập và được thể chế ra dưới nhiều hình thức:

Nơi ở của con người ở vùng đồng bằng, từ chỗ là những cái hang đã được thay bằng những cái nhà, và mỗi cái nhà như vậy sẽ “ngự trị” trên một khoảnh đất nhất định. Có nhiều ngôi nhà kế tiếp nhau trong một làng xóm, vậy nên các hàng rào ra đời, bởi vì mỗi nhà là một đơn vị kinh tế riêng, một quan hệ thân tộc riêng.

Quan niệm làm nhà của người dân nước ta ở vùng đồng bằng phổ biến là theo hướng nam (“Lấy vợ đàn bà làm nhà hướng nam” – tục ngữ), để tránh gió rét mùa đông và đón gió mát mùa hè. Trước nhà bao giờ cũng có một khoảnh đất (về sau được lát gạch) để làm sân phơi, còn xung quanh nhà thì trồng cây, nhưng phổ biến là “chuối sau cau trước” (tục ngữ), sau đó thì đến giai đoạn “nhà ngói cây mít” (tục ngữ). Các nhà quan, nhà giàu thì “kín cổng cao tường” (tục ngữ), trong khi đó các nhà dân thì “cách nhau có dậu mồng tơi xanh rờn” (thơ Nguyễn Bính) v.v…

Đất đai với tính cách là nơi an nghỉ vĩnh viễn của con người sau khi qua đời được người dân bình thường quan niệm và thực hành cũng thật giản dị: “đào sâu chôn chặt” (tục ngữ), “mồ yên mả đẹp” (tục ngữ), còn khi cải táng thì được gọi là: “sang nhà mới” (thành ngữ). Trong khi ấy thì các gia đình “thế gia vọng tộc” và vua chúa lại xây cất “lăng tẩm” – một số trong họ rất xứng đáng, nhưng một số khác thì không, bởi vậy dân gian mới chế giễu những người này: “Ông to mả lớn” (thành ngữ) – được cải biến từ “Ông to bà lớn” (thành ngữ) v.v…

Tục chôn người chết (xuống đất) của nước ta có từ thời sơ sử, như được phản ánh trong những ghi chép trong Bách Việt triệu tổ cổ lục (đã dẫn trên), khi ấy quan tài được làm bằng thân cây cọ hay cây búng báng lớn, ở trong khoét rỗng để đặt thi thể cùng một số đồ tuỳ táng (đồ dùng, đồ trang sức) vào, mà ngày nay người ta khai quật còn thấy được. Do chỗ đạo Sa môn – đạo tu thân, tích thiện và thờ cúng ông bà, tổ tiên đã ăn sâu bén rễ vào trong dân chúng ngay từ thời Việt cổ (người khởi xướng tu hành theo đạo này là Hương Vân Cái Bồ Tát, mẹ của Kinh Dương Vương), mà những quan niệm của họ về nơi an táng người thân của mình, càng trở nên có vị trí thiêng liêng, đặc biệt. Đến khi thuật phong thuỷ ra đời, thì thuật này liền được áp dụng vào việc tìm huyệt mộ (qua hình thế sông núi, đất đai, hướng gió…) để an táng cho người thân đã chết, nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi những ai tin vào thuật này và có đủ tiền bạc để thuê thầy địa lý tìm huyệt đất…

Tục chôn người chết, cải táng, đặt ruộng kỵ… của người dân nước ta ở thời phong kiến, một mặt có những điểm được bảo lưu từ thời Việt cổ, nhưng mặt khác có những điểm do yếu tố văn hoá ngoại lai (phương Bắc) xâm nhập vào, đã trở thành một hiện tượng xã hội phức tạp gây ra không ít tranh chấp, phiền hà, nhưng dầu sao thì đó cũng còn là những phong tục tập quán và tín ngưỡng, mà ngày nay nhiều nơi dân chúng vẫn còn theo:

  • Khi có người mới chết, “đoạn trải chiếu xuống đất, đưa người xuống một lát (lấy nghĩa người ta bởi đất sinh ra thì khi chết lại về với đất), rồi lại đem lên giường” (9/29). Tục lệ này, theo nhận xét của chúng tôi, đến nay hầu như đã không còn, tuy nhiên thời gian trước năm 1945, nó đã từng là một tục lệ tương đối phổ biến.
  • Khi đi đưa ma (còn gọi là phát dẫn), “con gái con dâu thì lăn đường cho cha mẹ mới là con có hiếu” (9/31). Tục lệ này đến nay hầu như cũng không còn nhưng thời trước ở một vài địa phương, nó đã từng được áp dụng.
  • “Lúc hạ huyệt có tế thổ thần ở nơi đó. Có ông thầy địa lý phân kim gióng hướng, đợi đến giờ tốt (giờ Hoàng đạo) thì hạ huyệt. Ở nhà quê thì các vãi chờ khi lấp đất xong, mỗi người cầm một nắm hương tụng kinh niệm Phật đi chung quanh mộ rồi mỗi người cầm một hòn đất ném vào mộ, gọi là dong nhan” (9/33). Tục lệ này đến nay nhìn chung vẫn còn phổ biến, chỉ có phần “ông thầy địa lý phân kim gióng hướng” là không đem áp dụng mà thôi. Nhìn chung, các việc tiến hành khi hạ huyệt vừa thể hiện tín ngưỡng tôn kính thần linh (tế thổ thần, niệm Phật) vừa thể hiện ý nghĩa văn hoá – nhân bản sâu sắc (sự chia tay lần cuối với người đã khuất của dân làng và của các tín đồ đạo Phật), cho nên vẫn còn là một phong tục tập quán tốt đẹp.
  • “Viếng mộ đắp mộ: Trong ba ngày sau khi mới chôn, mỗi buổi chiều con cái đem cơi trầu đến chỗ mả khóc lóc, gọi là viếng mộ. Tục ta thường để đến hôm ba ngày mới sửa sang lại mộ cho tốt đẹp, hoặc làm nhà mộ…” (9/34). Tục lệ này, đến nay vẫn còn phổ biến. Tuy nhiên, ở một số địa phương, thân nhân của người chết thường chỉ ra mộ viếng một lần thay vì cho ba lần như trước kia. Việc làm nhà mộ cũng chỉ có một vài nơi áp dụng. Tục lệ viếng mộ đắp mộ này thể hiện sự tiếc thương của người thân với người quá cố… cho nên vẫn còn được duy trì.
  • “Cải táng: Người mất sau ba năm đoạn tang rồi hoặc một vài năm nữa, thì con cái lo việc cải táng. Trước hôm cải táng, làm lễ cáo từ đường. Đến hôm táng, lại làm lễ khấn thổ công chỗ để mả mới táng.
    Trước khi khai mả, nhặt lấy xương xếp vào một cái tiểu sành, rẩy nước vang vào, rồi che đậy thật kín, không cho ánh sáng mặt trời lọt vào…” (9/38).
    “Trước khi hung táng thì đắp hình vuông, đến lúc cải táng thì đắp hình tròn…” (9/39).

Tục cải táng ở nước ta, đến nay vẫn còn phổ biến, mà cách thức cơ bản, đúng như học giả Phan Kế Bính đã viết:

“Ruộng kỵ: Một họ hoặc một chi, đã có nhà thờ thì có ruộng kỵ. Ruộng kỵ ấy là hương hoả của tổ tông để lại hay là trong họ chung nhau mà tậu, hay là của người trong họ cúng để lấy hoa lợi mà chi về việc tế tự… Họ nào không có ruộng kỵ thì mỗi kỳ cúng tế phải đóng tiền góp gạo với nhau” (9/22).

Đạo thờ cúng ông bà, tổ tiên của người dân nước ta, như đã nói, có nguồn gốc từ thời Việt cổ. Vậy nên, đến nay, tuy ruộng kỵ của các họ và chi họ không còn, nhưng việc tổ chức cúng giỗ hàng năm để tưởng nhớ tổ tiên của các dòng họ, chi họ vẫn diễn ra (dưới hình thức “đóng góp” như Phan Kế Bính đã viết), và đó là một hình thức thực hành văn hoá – tín ngưỡng đáng được trân trọng, giữ gìn. Tuy nhiên, cũng cần hạn chế đến mức thấp nhất những sự cố không hay, xảy ra trong khi thực hiện.

Trên đây là những phong tục tập quán, và phần nào cả tín ngưỡng, của người dân nước ta xung quanh việc chôn cất, tế tự… có liên quan đến đất. Liên quan đến đất còn có nhiều phong tục tập quán khác nữa nhưng lại mang ý nghĩa “văn hoá – ứng xử”:

Tục “chôn nhau cắt rốn”: “… Đến lúc sinh sản, mời bà tắm đến đỡ, con xổ ra rồi thì cắt rốn chôn nhau. Chôn nhau phải sâu, nếu chôn nông thì con hay chớ; mà phải tránh chỗ giọt gianh kẻo về sau con chốc đầu toét mắt” (9/7,8).

Cắt rốn chôn nhau chắc là điều mà ở nhiều dân tộc khác người ta cũng phải làm. Tuy nhiên, cách thức chôn nhau ở đâu và như thế nào, thì phong tục nước ta lại có sự kiêng khem khá cụ thể.

Tục “xông đất ngày mồng một Tết”: “Hôm ấy ăn nói phải giữ gìn, sợ nói bậy thì giông đi cả năm. Nhiều nhà nhờ một người phúc hậu dễ tính, sáng sớm đến xông đất, để cho cả năm được bán đắt, buôn may” (9/44).

Ngoại trừ phần “bán đắt, buôn may” nghe có vẻ lý tài, thì tục xông đất chúc cho nhau sống lâu, may mắn… của người dân nước ta là một nét văn hoá đẹp, thể hiện tình cảm đầm ấm, chan hoà trong quan hệ cộng đồng (làng xóm).

v.v… (Xem thêm phụ lục 2).

°°°

Đất đai trong tâm thức dân gian với tính cách là đối tượng lao động để từ đó cho ra nhiều lúa gạo và sản phẩm hoa màu, được thể hiện trên rất nhiều phương diện, từ hiện thực đời sống đến hiện thực tâm lý, từ kỹ thuật canh tác đến kinh nghiệm canh tác mà so với thời Việt cổ, rõ ràng đã là một bước tiến:

Trước hết là kỹ thuật làm đất hay kỹ thuật canh tác, trồng trọt nói chung, đã được dẫn ở chương trước: “Nhai kỹ no lâu, cày sâu lúa tốt” (tục ngữ), “Thứ nhất cày ải, thứ nhì rải phân” (tục ngữ). Nhưng để cày sâu, cày ải hay lao động ngoài trời nói chung dưới cái nắng cháy da hay cái lạnh ghê người, thì quả là cực nhọc, nhiều khi vượt quá sức chịu đựng của con người. Những câu ca dao thuộc loại hay nhất, giàu tính nhân văn nhất, là những câu nói về thực tế này:

Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Những lúc ấy người nông dân chỉ còn biết bầu bạn với con trâu, chia sẻ nỗi niềm tâm sự với con trâu:

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta
Cày cấy vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Nhìn ở địa bàn rộng, những sản vật quý được định danh bởi tên đất, tên làng, và đó là kết quả của điều kiện tự nhiên cộng với công sức lao động:

“Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét” (tục ngữ).

“Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm
Cá rô Đầm Sét, Sâm cầm Hồ Tây” (ca dao).

“Cam Bố Hạ, bưởi Đoan Hùng” (tục ngữ), v.v…

Quá trình đối diện với đất đai làm ra sản phẩm của người dân nước ta, mặc dù là quá trình lao động vất vả, nhưng cũng còn là quá trình tạo dựng niềm vui và sự tương thân tương ái trong “tình làng nghĩa xóm”, và điều đó góp phần lý giải rõ thêm về điều mà ta gọi là “sức sống dân tộc”:

Rủ nhau đi cấy đi cày
Bây giờ khó nhọc mai ngày phong lưu
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa (ca dao).

Nhờ trời mưa thuận gió hoà
Nào cầy nào cấy, trẻ già đua nhau
Chim, gà, cá, lợn, cam, cau
Mùa nào thức nấy giữ màu chân quê (ca dao).

Điều quan trọng nhất khi tiếp xúc với đất đai, là người dân nước ta đã nhận thức được giá trị của đất đai và quý trọng đất đi:

Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu (ca dao).

°°°

Sau đây chúng tôi xin đề cập tới mối quan hệ giữa con người với nước, kể từ thời Việt cổ.

Khác với đất mang những đặc tính là nơi ở, nơi an táng, đối tượng canh tác, v.v… thì nước chỉ có hai đặc tính: nuôi sống con người trực tiếp (ăn, uống) và nuôi sống con người gián tiếp thông qua việc nuôi sống các giống cây trồng, vật nuôi. Thế nhưng, chính từ hai đặc tính này mà nước có vị trí vô cùng quan trọng, và những ghi chép trong Bách Việt triệu tổ cổ lục về giai đoạn Việt cổ, nước được nhắc đến cũng không nằm ngoài hai đặc tính ấy:

“Bên cạnh cây đa thì đắp một cái hang và đào một cái giếng”.

“Ông lớn lên chăm chỉ, chuyển hướng lúa nương sang trồng lúa nước”.

Nước trong mối quan hệ trực tiếp với lấy nước ăn, tắm giặt, rửa ráy là một nhu cầu ngay khi đến định cư ở một nơi nào đó. Ở giai được đào đắp theo cách thức cũng không khác con người: đào giếng, đào ao để thiết yếu mà người ta phải làm đoạn Việt cổ, cái giếng và cái ao ngày nay là mấy, nhưng về tính chất, mục đích sử dụng thì lại khác rất nhiều. Ao và giếng bây giờ tuy có bờ, nhưng bờ đều thấp, hoặc thậm chí không có bờ (đối với một số ao). Còn theo Bách Việt triệu tổ cổ lục, thì ao và giếng thời Việt cổ đều có bờ và bờ rất cao. Để qua được cái bờ ấy một cách an toàn và giữ nước sạch sẽ, người ta phải làm cầu bằng cách xếp đá ong (đá ong là một loại đất tự nhiên đặc biệt, đào lên để khô sẽ thành đá lỗ chỗ).

Sở dĩ người ta phải đắp bờ cao và làm cầu ao, cầu giếng như vậy là do thời ấy chưa có đê, đến mùa mưa lũ nước tràn về đồng bằng mênh mông, kéo theo nhiều vật trôi nổi bẩn thỉu và phù sa đục ngầu kéo dài hàng mấy tháng, làm cho người ta không thể ăn uống, tắm rửa trực tiếp được. Vậy nên, bờ ao bờ giếng phải được đắp cao để nước phù sa, nước bẩn bên ngoài khỏi tràn ngập vào. Ao và giếng khi ấy, do vậy, được gọi là ao vượt, giếng vượt. Đến thời người phương Bắc cai trị họ viết Việt = Vượt ( ), là một cách ám chỉ: người Việt là người sống ở vùng đồng bằng có nhiều nước, phải vượt lên trên nước, kể cả đào ao đào giếng cũng vậy.

°°°

Nhu cầu sử dụng nước (ăn uống, tắm giặt, rửa ráy) của con người ở đâu và thời nào cũng đều giống nhau, nhưng do ở gần hay ở xa nguồn nước mà đã có những cách thức xử lý (tạo nguồn) khác nhau. Trên kia là nói ở nơi xa nguồn nước tự nhiên, người ta phải đào ao đào giếng, còn những nơi gần dòng sông, gần ao hồ tự nhiên, thì người ta chỉ cần đào giếng. Bên bờ dòng sông, bờ ao hồ tự nhiên ở thời Việt cổ, người ta cũng làm những bến và xếp đá ong làm bậc lên xuống, tuy nhiên, để làm một bến đá ong như thế ở vào thời ấy, thì không phải là một công việc dễ dàng, và không phải nơi nào cũng có điều kiện để làm. Bến đá ong ở vào thời ấy là một vật quý hiếm cũng như bây giờ biệt thự thì giá trị hơn nhà cấp bốn vậy.

Do vậy, việc ở vùng kinh đô của thời Bách Việt và các vua Hùng bên cạnh dòng sông Hát đã có một số bến đá ong xuất hiện, thì đó là điều hoàn toàn dễ hiểu, và nó được gọi là bến ong. Bến ong sau đó trở thành tên riêng của vùng đất này. Đến khi người phương Bắc tràn sang đô hộ, thì họ viết là Phong Châu, tức là dịch vừa theo âm vừa trực tiếp: ong = phongbến = châu (đã nói ở chương I).

Những bến nước ven sông như thế, dù là được xếp hay không được xếp đá ong, là nơi diễn ra các sinh hoạt thường nhật của cả cộng đồng. Để có bóng mát, người ta cũng trồng đa ở hai bên bờ. Đấy cũng là nơi người ta neo đậu thuyền bè, lập thành bến đò để chở người qua lại hai bên bờ sông. Cũng như “cây đa, giếng nước” là nơi ở, nơi an nghỉ của con người, thì “cây đa, bến nước” ở đây, lại là nơi diễn ra các sinh hoạt thường ngày của họ, vì thế, cũng là nơi mọi người gặp gỡ, bàn soạn công việc, trao đổi tâm tình, kể cả việc hẹn hò trao duyên nam nữ. Những việc ấy không phải diễn ra trong ngày một ngày hai, mà diễn ra trong nhiều đời, nhiều thế hệ và nhiều thế kỷ. Đến thời Lê (thế kỷ thứ XV) thì hàng loạt những ngôi đình ở nước ta xuất hiện, để thay thế hoặc bổ sung cho những ngôi đền, ngôi miếu ở các giai đoạn trước kia. Cũng từ đấy, lễ hội hàng năm được tiến hành ở nhiều nơi rồi trở thành một hiện tượng phổ biến, hầu như ở làng nào cũng có. Sân đình là nơi diễn ra các trò vui chơi trong lễ hội của dân làng, cũng là nơi mà mọi người gặp gỡ, trao đổi tâm tình, và nhiều đôi nam nữ đã nên duyên vợ chồng từ đấy…

Địa điểm của những ngôi đình (và cả sân đình) như thế thường ở bên một “cây đa, giếng nước” đã có từ trước kia, hoặc nếu không, khi làm đình thì đồng thời người ta cũng trồng đa và đào giếng mới, vì đó là những điều kiện tối thiểu (lấy nước và lấy bóng mát) ở một nơi công cộng.

“Cây đa – giếng nước – sân đình” hay “cây đa – bến nước – sân đình” như vậy, đã trở thành những chứng nhân lịch sử của người Việt nếu không kể từ thời Việt cổ thì ít nhất cũng là từ thời Lê trở đi. Những chứng nhân lịch sử này vừa là mồ hôi, công sức của dân làng góp lại, nhưng cũng vừa là nơi mà mỗi người tự bộc lộ mình với tính cách một thực thể văn hoá đối với cả cộng đồng, do vậy, những chứng nhân lịch sử ấy đã trở thành “một mảnh đời thiêng liêng” trong suốt cuộc đời của mỗi người dân nước Việt.

°°°

Từ chỗ chỉ là những vật bình thường, nhưng do đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài gắn bó với con người, gắn bó với những kỷ niệm thiêng liêng của họ, mà “cây đa – giếng nước – sân đình” hay “cây đa – bến nước – sân đình” đã trở thành một biểu tượng về quê hương đất nước, sống mãi trong lòng mỗi người dân và biểu hiện ra thành ca dao, tục ngữ, thành lời ca tiếng hát… Do vậy mà những ai phải xa nước, xa quê dù chỉ một lần, thì ít nhất họ cũng có dịp được trải nghiệm bản thân qua những vật cụ thể vừa nhắc, để hiểu thế nào là quê hương đất nước!

Đến đây chúng tôi thấy cần được giải thích lại câu thành ngữ quen thuộc “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn” mà chúng tôi quan niệm dù đấy là câu ghép đẳng lập hay hai câu tách biệt thì chúng cũng đều có nghĩa hàm giống nhau – tức là đều nói về chuyện tình nghĩa, ơn nghĩa của con người.

Đối với câu trên (hay vế trên) “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” thì ai ai cũng hiểu và dễ dàng giải thích được, nhưng đối với câu dưới (hay vế dưới) mà nhiều người, kể cả tác giả Từ điển lại giải thích là nước có nguồn từ suối, từ lòng đất… thì quả là không ổn. Giải thích như thế thì không thấy được chuyện ơn nghĩa của con người và cũng không phù hợp với câu trên (hay vế trên) vốn chúng có sự tương đồng với nhau về nghĩa.

Qua những điều ghi chép trong Bách Việt triệu tổ cổ lục: “Bên cạnh cây đa thì đắp một cái hang và đào một cái giếng. Khi chết cũng được chôn ở đấy” – thiết tưởng ai ai cũng đều có thể hiểu được nghĩa của câu “Uống nước nhớ nguồn” ấy là như thế nào rồi. Đó là việc người ta khi uống nước thì phải nhớ đến công ơn của người đã tạo ra nguồn nước, ở đây tức là người đào giếng, cũng tức là những thế hệ đi trước (tổ tiên) đang an nghỉ ở ngay cạnh đấy. Khái niệm “vệ sinh” = cách ly hẳn nơi chôn cất tử thi với nơi tạo ra nguồn nước, là khái niệm chưa có ở thời tiền sử, sơ sử, mặc dù người ta đã biết đến việc đắp bờ ao bờ giếng thật cao để ngăn không cho nước phù sa tràn vào. Hơn nữa, như chúng tôi đã trình bày ở mục trước, việc chôn cất tử thi phải tiến hành ở gần nơi ở vừa là bắt buộc nhưng cũng vừa là ý nguyện của người Việt cổ (được ở gần con cháu).

Hai vế (hay hai câu) trên lúc đầu chỉ xuất phát từ những bối cảnh cụ thể và mang nghĩa cụ thể (“có trồng cây đào giếng thì mới có quả ăn nước uống, cho nên ăn quả uống nước phải nhớ công lao của những người đã trồng cây đào giếng”), nhưng về sau, trong quá trình sử dụng, nghĩa đã được mở rộng để nói về chuyện ơn nghĩa nói chung tức là chuyện đối nhân xử thế phải có trước có sau của con người. Căn cứ vào những điều ghi chép trong Bách Việt triệu tổ cổ lục, từ hai câu (hay hai vế của một câu) trên có thể cho rằng chúng có nguồn gốc xuất xứ từ thời Việt cổ, và do vậy, bản sắc văn hoá dân tộc đã có thêm một cơ sở chứng lý quan trọng.

°°°

– Nước trong mối quan hệ gián tiếp đối với con người:

Nước trực tiếp nuôi sống cây trồng, vật nuôi để rồi qua đó mà nuôi sống con người. Tuy nhiên, đối với người Việt cổ, ngoài việc đào giếng lấy nước ăn, thì chỉ có nước để cấy lúa mới là mối quan tâm hàng đầu của họ. Điều này cũng dễ hiểu vì cây lúa là cây lương thực chính – mất mùa là mất tất cả. Do vậy mà trong Kho tàng tục ngữ ca dao của người Việt, hầu như chỉ thấy đề cập đến nhu cầu cần nước đối với cây lúa mà thôi.

Như đã biết, lúa là loại cây mà trong quá trình sinh trưởng lúc nào cũng phải cần nước. Tuy nhiên, ở từng thời kỳ, lượng nước lại chỉ cần vừa đủ – thiếu hay thừa cũng đều bất lợi cả. Cũng chỉ có một công việc là điều hoà lượng nước cho cây lúa này thôi, vậy mà bao nhiêu thế hệ người Việt đã phải vất vả, lao tâm khổ tứ, kể từ thời sơ sử cho đến tận bây giờ!

Cần cho cây lúa sinh trưởng, nước đã đến từ hai nguồn: thiên tạo và nhân tạo. Thiên tạo là nước mưa từ trời cao đổ thẳng xuống ruộng, còn nhân tạo là con người phải dùng sức để tháo nước từ nơi cao xuống nơi thấp và tát nước từ nơi thấp lên nơi cao. Muốn giữ được nước, do vậy, nhất thiết phải có bờ vùng, bờ thửa. Muốn tháo được nước, tát được nước nhất thiết phải có hệ thống kênh mương. Còn việc ngăn không cho nước sông tràn vào đồng ruộng thì hai bên bờ nhất thiết phải đắp đê cao.

Đương nhiên, với những công việc như thế thì ở thời Việt cổ, tổ tiên ta mới chỉ có khả năng be bờ giữ nước và làm một vài con kênh mương nhỏ. Do vậy mà trong tâm thức của người dân, chủ yếu là phải trông cậy vào lượng nước trời được thể hiện trong những bài ca dao – đồng dao thật là nôm na, mộc mạc:

Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cầy
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp.

Đấy không phải là tâm lý ỷ lại, mà do ở thời bấy giờ, tổ tiên ta có muốn làm thuỷ lợi lớn thì cũng “lực bất tòng tâm”.

Các nghi lễ cầu mưa có thể cũng đã xuất hiện từ thời kỳ này, nhưng đến nay, không ở đâu còn để lại bằng chứng vật chất. Những ghi chép trong Cổ lôi ngọc phả truyền thư về việc cúng thần nước có thể sẽ cung cấp một số thông tin ít ỏi về vấn đề này (bản dịch):

“Dọc theo sông Bạch Hạc(1), ở hai bên bờ thỉnh thoảng làm một cái quán để cúng thần nước, cầu mong cho mưa thuận gió hoà. Quán dựng bằng cột tre, ở trên lợp lá gồi, phía trong đặt cái bàn bằng tre, trên bàn có mâm bằng gỗ. Trên mâm đặt bát phù hương cũng bằng gỗ và bày các đồ cúng, gồm cơm, canh, cháo, bỏng, thức ăn (thịt, cá, cua, ốc…) trầu nước và hoa quả. Về sau, cũng vẫn làm quán như thế, nhưng mái thì lợp bằng cót, còn đồ cúng thì có xôi gà, trầu rượu, hoa quả và vàng mã. Cúng xong, mọi người chia nhau cùng hưởng lộc, còn vàng mã thì đem đốt lấy tro mang về lạch nước ở trong Kinh đô (tức Kinh đô Nghĩa Lĩnh – chúng tôi thêm vào) đổ xuống một chỗ. Chỗ ấy gọi là Kim Khê cứu” (huyệt Kim Khê).

Như vậy, qua địa điểm và cách thức thờ cúng này, cho thấy ở thời Việt cổ quan niệm về một vị thần làm mưa đã xuất hiện và xuất hiện theo lối trực cảm. Nghĩa là giống như ở dưới trần mỗi người đều làm một công việc gì đấy thì ở trên trời hay ở một nơi nào đó, cũng phải có một vị Thần để làm ra mưa. Quan niệm này, tuy đơn giản, nhưng đã thành bất di bất dịch kể từ thời Việt cổ trở đi. Chỉ có cách thức làm quán và đồ thờ cúng thì mới có sự khác nhau giữa các thời kỳ, theo chiều hướng càng về sau thì càng “sang trọng”.

Nơi trú ngụ của các vị thần làm mưa dần dần được quan niệm là ở ven các dòng sông, rồi sau đó ở cả những vùng ven biển. Điều này thật dễ hiểu, vì thần làm ra nước thì tất phải ở gần sông nước. “Chức năng” của Thần từ chỗ làm mưa, về sau cũng được mở rộng thêm: Thần còn kiêm cả công việc bảo hộ cho cả con người tránh được các loài thuỷ quái gây hại, tránh được sóng to gió lớn làm lật thuyền…

Đến nay, đi dọc ven hai bờ của các dòng sông, thỉnh thoảng mọi người còn bắt gặp những ngôi miếu nhỏ cổ kính rêu phong ẩn hiện dưới tán của một cây cổ thụ (thường là đa hoặc si), thì đó chính là những ngôi miếu thuỷ thần, có niên đại từ vài trăm đến hàng nghìn năm tuổi. Các ngôi miếu này là sự kế tục của các ngôi quán bằng cọc tre lợp lá của thuở ban đầu.

°°°

Mặc dù các vị Thuỷ thần đã được thờ cúng để cầu xin mưa xuống, nhưng tổ tiên ta, ngay từ thời Việt cổ, đã không ỷ lại, trông chờ. Bằng kinh nghiệm của nhiều đời, nhiều thế hệ, họ đã rút ra được một số quy luật vận hành của trời đất – tức là những dấu hiệu tự nhiên để biết trước có nắng hay có mưa, từ đó mà chủ động gieo trồng đúng thời vụ, cũng như chủ động trong sinh hoạt hàng ngày.

Đọc Kho tàng tục ngữ ca dao của người Việt, do vậy, chúng ta thấy yếu tố khí hậu, thời tiết đã chiếm một tỷ lệ lớn (các ví dụ đã được dẫn ở chương I). Điều đó chứng tỏ khả năng trí tuệ, vừa thực tế vừa nhìn xa trông rộng của các thế hệ tổ tiên chúng ta.

Để tát được nước vào ruộng (từ nơi thấp lên nơi cao) ở thời Việt cổ người ta phải làm dụng cụ bằng mo cau hay mo búng báng gập khum khum lại gọi là “bồ đài”. Cái bồ đài bằng mo cau ngày nay còn thấy ở một số vùng (khu bốn, miền núi), nhưng dùng để múc nước sinh hoạt. Sau thời “bồ đài” thì đến thời dùng nan tre mỏng chẻ to bản để đan thành các loại “khau” mà công dụng cũng giống như “bồ đài” ở thời Việt cổ. Đến giai đoạn đắp đê ngăn lũ và đào kênh mương lớn để dẫn nước và tưới tiêu, thì cũng là lúc dân tộc đã bước vào tuổi trưởng thành, có đủ nhân tài, vật lực để chế ngự lại thiên nhiên một cách có hiệu quả.

Nhìn chung, cách thức mà người dân nước ta ứng xử với vấn đề nước canh tác cũng thật đa dạng, vừa nhờ cậy thần linh mà cũng vừa nhờ cậy vào chính sức mình, làm tất cả những gì có thể để có nước và điều hoà được lượng nước. Hệ thống đê điều đồ sộ ở đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ có từ hàng nghìn năm nay đã nói lên sức sống mãnh liệt của dân tộc và trong công việc tát nước chống hạn nặng nhọc tưởng chừng khô khan ấy, lại thấy toát lên niềm lạc quan yêu đời, hiện ra cái mầm non tơ (tình yêu) nhưng bất diệt của sự sống:

– Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi (ca dao).

– Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc nón trên cành hoa sen… (ca dao).

Và đó là một nét đẹp, góp phần hoàn thiện thêm bản sắc văn hoá dân tộc.

Nhân đề cập tới cái bồ đài múc nước ở thời Việt cổ, chúng tôi thấy cũng cần đề cập thêm một vài công dụng và ý nghĩa khác của nó. Ở thời Việt cổ, bồ đài dùng để tát nước, nhưng cũng còn dùng cả cho việc che nắng che mưa trên đầu của mọi người. Nó là vật dễ kiếm dễ làm và dùng cũng khá bền, lại thuận tiện. Vì thế bồ đài đã trở thành vật thông dụng, đi vào tâm thức của mọi người, và do vậy, khi đạo Sa môn ra đời đã dùng hai chữ Bồ Tát để chỉ những vị chân tu đắc đạo. Đó là một từ ghép đẳng lập gồm hai thành phần đã được rút gọn là bồ đài tát nước. Điều ấy có nghĩa là những vị chân tu đắc đạo vừa được ví như chiếc bồ đài múc nước tát nước đem lại sự sống, lại vừa được ví như chiếc bồ đài che nắng che mưa trên đầu mọi người như một sự “cứu khổ cứu nạn” thực sự.

°°°

Ngoài hai mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp đối với con người mà chúng tôi vừa trình bày, trong tâm thức dân gian người Việt, nước còn được mang những quan niệm tôn giáo – tín ngưỡng cũng thật thiêng liêng. Đó là nước khi được dùng vào việc thờ cúng ông bà, tổ tiên, thần linh và nước được dùng để làm lễ mộc dục (tắm tượng và rửa bài vị thần) ở các đình, chùa…

Tại mỗi gia đình, khi có người đi ra ngoài làm một việc gì đó hệ trọng mà cảm thấy không an tâm, thì trước lúc khởi hành, họ thường thắp một nén hương, dâng một chén nước lên bàn thờ ông bà, tổ tiên để cầu xin sự phù hộ độ trì. Nếu chuẩn bị kịp, thì bên cạnh chén nước còn phải có thêm cơi trầu nữa. Tại các miếu thổ công, thổ kỳ (ở đầu các ngõ xóm), người ta cũng thường làm như vậy (đôi khi còn bày thêm cả hoa quả) vào các ngày sóc vọng (mồng một và rằm hàng tháng – âm lịch). Đó là những lễ cúng đơn giản nhất. Nén hương được quan niệm là lời thỉnh cầu ông bà, tổ tiên, thần linh về chứng giám. (Khói hương bốc lên cao là sự tương thông giữa hai nơi: cõi trần và cõi trời cõi tiên, mà trong đó cõi trời cõi tiên được coi là nơi các linh hồn đang trú ngụ). Còn chén nước, cơi trầu được quan niệm là “dương sao âm vậy” tức là xuất phát từ thông lệ đã thành tập quán của người dân nước ta: mỗi khi có khách đến nhà thì trước tiên là phải mời nước (thủ tục tối thiểu) rồi sau đó thì mời trầu, mời thuốc, v.v… tuỳ ý. Chén nước cúng ấy không phải là thứ nước nào khác, mà nhất thiết phải là chén nước mưa, múc từ bể nước ăn hàng ngày được hứng từ cây cau, cây dừa hay từ mái ngói của mỗi gia đình (trường hợp gia đình không dùng nước mưa mà dùng nước giếng khơi thì cũng có thể chấp nhận được).

Cũng tại mỗi gia đình và các đền đài miếu mạo, mỗi khi có cúng tiệc mặn, thì trước lúc hạ cỗ từ bàn thờ xuống, người ta phải đặt một chén nước lên. Chén nước này cũng vẫn là nước mưa, được quan niệm là để thần linh súc miệng, uống nước sau khi ăn (“dương sao âm vậy”).

Vấn đề đặt ra là hàng ngày mọi người vẫn uống nước chè, nước vối, v.v… chứ không ai trực tiếp uống nước lã (chưa đun sôi), thì tại sao lại đem cúng thần linh như vậy? Chúng tôi cho rằng việc thờ cúng chén nước mưa như thế là đã xuất phát từ các quan niệm sau đây:

  • Đó là một cách gợi nhớ về quá khứ xa xôi, từ khi con người mới xuất hiện. Khi ấy người ta trực tiếp uống nước từ các khe suối, hốc cây… nhưng đã có sự phân biệt đâu là nước sạch, đâu là nước bẩn, và người ta đã uống nước sạch.
  • Nước mưa từ trời cao đổ xuống được coi là nước tinh khiết nhất. Đó cũng là nước khởi thuỷ để từ đó tạo ra sự sống, tạo ra con người, trong đó có các vị thuỷ tổ của dân tộc, thuỷ tổ của các dòng họ… rồi đến những thế hệ đã khuất gần nhất, của những người đang sống. Việc những người thân mất đi, được dân gian quan niệm là về với tổ tiên, tức là về với nơi khởi nguồn đã sinh ra con người, và điều này được phản ánh cả trong các từ ngữ chúng ta vẫn dùng hàng ngày. Đó là chữ Thuỷ (nghĩa là nước) trong hai khái niệm Thuỷ tổKhởi thuỷ, đều được dùng để chỉ sự khởi đầu của một dòng họ nói riêng, của loài người nói chung và của các sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội. Do vậy, việc dùng chén nước tinh khiết để cúng, thì chén nước ấy là một cách trực tiếp thỉnh cầu tổ tiên, thần linh… của những người đang sống, nhưng đồng thời chén nước ấy cũng lại là hình ảnh tượng trưng cho sự tồn tại của tổ tiên, thần linh… đang hiện diện trước mặt các con cháu. Chính vì vậy, theo quan niệm dân gian, khi cúng phải dùng nước mưa, cùng lắm là nước giếng khơi, chứ không thể dùng các thứ nước uống thông thường được. Ngay cả rượu, mặc dù cũng được dùng để cúng, nhưng đó không phải là nước khởi thuỷ tức nước tượng trưng cho sự hiện diện của tổ tiên và thần linh. Rượu dùng để cúng cùng với thức ăn hay để cúng chay (trầu, rượu) thì đó là theo quan niệm thông thường “dương sao âm vậy”.

°°°

Cũng cùng là nước, nhưng đối với con người thì có nước ăn, nước uống, đồng thời còn có cả nước để tắm giặt, rửa ráy. Do vậy mà đối với thế giới thần linh, có nước dùng để cúng, nhưng cũng có nước dùng để tắm tượng, lau rửa bài vị thần và các đồ thờ cúng trong các dịp lễ hội tại các làng xã, được gọi là nước để làm lễ “mộc dục” (tắm rửa tượng, thần vị).

Lễ mộc dục tại các chùa, được tổ chức hàng năm vào ngày Phật đản mồng 8 tháng 4 âm lịch. Đó là ngày sinh của Hương Vân Cái Bồ Tát – người đầu tiên tu hành đạo Sa môn, ở nước ta (theo Bách Việt triệu tổ cổ lục). Lễ này chỉ do nhà sư trụ trì và các già (tức các bà vãi) trong chùa thực hiện, chứ không có sự tham gia của dân làng. Nước dùng làm lễ lấy từ bể nước mưa hoặc giếng nước trong chùa, pha thêm nước ngũ vị cho có mùi thơm. Trước khi làm lễ, nhà sư dâng hương hoa oản quả thỉnh cầu Hương Vân Cái Bồ Tát và các đức Phật, còn sau khi làm lễ thì dùng cỗ chay để cúng. Nhìn chung, lễ mộc dục ở các chùa thủ tục tiến hành cũng đơn giản, cốt thể hiện sự thành tâm, chứ không cầu kỳ.

Trong khi đó thì tại các đình, đền (cũng của mỗi làng) lễ mộc dục được tiến hành vào ngày hôm trước ngày làng vào đám (chính hội). Có làng tổ chức lễ mộc dục vào buổi sáng, nhưng cũng có làng tổ chức vào lúc nửa đêm, còn thành phần tham dự thời trước là các ông chức dịch, chủ tế, bồi tế và thủ từ. Nước dùng để làm lễ mộc dục, nhiều làng lấy từ bể nước mưa pha thêm nước ngũ vị như đối với lễ mộc dục ở chùa, nhưng cũng có một số làng lấy nước từ các dòng sông hoặc các giếng nước ở xa và do vậy, có thêm nghi lễ rước nước cũng thật long trọng. Trong sách Nếp cũ hội hè đình đám (quyển hạ), Toan Ánh có nhắc đến nghi lễ rước nước ở làng Đồng Nhân (Hà Nội), làng Thị Cầu (Bắc Ninh) và miêu tả khá kỹ nghi lễ này ở làng Tự Nhiên (Thường Tín – Hà Tây). Trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, một số tác giả cũng đã miêu tả nghi lễ ấy ở các làng Đa Hoà, Chử Xá, Dạ Trạch, Khương Tự, v.v…. Còn ở vùng Thanh Oai (Hà

Tây) mà chúng tôi có dịp điền dã, thì thấy ở Bối Khê và một số làng ven sông Đáy. Chúng tôi sẽ dẫn chứng để minh hoạ rõ hơn ở phần phụ lục về nghi lễ rước nước này, còn câu hỏi đặt ra ở đây: Có phải các làng kể trên đã tự đặt ra cho mình một nghi lễ mới? Tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi được biết nghi lễ rước nước đã có xuất xứ từ thời các vua Hùng. Khi ấy, trước ngày làm lễ tế Kinh Dương Vương (hay Ngọc Hoàng Thượng đế) ở đền Thượng, “ông Trưởng tộc (Bách Việt) cùng các quan viên ngồi trên thuyền (có người chèo lái) ra giữa sông Bạch Hạc, thả một vòng song xuống, đợi một lát cho nước trong, rồi dùng vò múc lấy, mang về. Trong khi đi thuyền, dừng thuyền (lấy nước) và ra về, đều có cử hành lễ nhạc” (theo Bách Việt triệu tổ cổ lục, bản dịch).

Từ thành phần tham dự đến việc tấu lễ nhạc cho thấy nghi thức rước nước từ thời Việt cổ đã được tiến hành một cách trọng thể. (Tất nhiên là không thể long trọng và rầm rộ như ở thời phong kiến). Việc “thả một vòng song xuống nước để cho nước trong” vừa là thủ thuật (vòng song được làm bằng một thứ sợi dây nào đó mà chúng tôi chưa khảo cứu được, có khả năng tiết ra nhựa để làm cho nước trong), nhưng cũng vừa là hình thức tượng trưng: vòng tròn là biểu thị của Trời (quan niệm của thời ấy: “trời tròn đất vuông”). Lấy nước ở trong vòng tròn, tức là lấy nước của Trời, từ Trời. Chỉ có nước của trời như vậy mới được coi là nước tinh khiết, nước khởi nguyên để dùng vào việc tắm tượng, tức là xoá bỏ đi những thứ tồn lưu cũ kỹ bên ngoài, để rồi qua đó mà hình hài của Ngài lại được hiện ra như vẻ mới ban đầu, từ đó tiếp tục hành hoá và phù hộ độ trì cho các thế hệ cháu chắt trong một vận hội mới…

Như vậy, việc một số làng có nghi lễ rước nước, thì mặc dù không phải là một hiện tượng phổ biến, nhưng đó lại là một hình thức ghi nhớ về thuở xa xưa mà giá trị văn hoá – tín ngưỡng ở đấy thật đáng trân trọng và cần được ghi nhận.

°°°

Nếu như sân đình là chỗ để dân làng của nhiều nơi tổ chức các trò vui chơi trên cạn trong lễ hội hàng năm, thì mặt sông mặt hồ cũng là nơi mà một số làng dùng để tổ chức các trò vui chơi dưới nước.

Có thể kể đến các trò vui chơi dưới nước, mang tính chất sân khấu – văn nghệ như rối nước, mang tính chất thể thao như bắt cá, bắt vịt, bơi, đua thuyền…

Như nhiều người biết, trò rối nước đòi hỏi phải có sự chuẩn bị “đạo cụ” (các con rối) công phu và tập luyện kỹ càng (căn cứ vào tích chuyện và các động tác kỹ thuật điều khiển con rối), nên tuy là một loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc hấp dẫn, nhưng không phải làng nào cũng làm được. Trong khi đó thì các loại hình vui chơi thể thao lại có tính chất phổ biến hơn, và gần với đời thường hơn. Đúng ra, đấy chính là những công việc hàng ngày được “biểu diễn” lại trong các lễ hội, và do vậy, mang tính chất ganh đua rõ rệt. Trò bắt cá, bắt vịt đòi hỏi người tham gia phải lặn sâu xuống dưới nước, thời gian càng lâu càng tốt. Trò thi bơi đòi hỏi phải khoẻ, nhanh và có kỹ thuật. Trò đua thuyền phải vừa khoẻ, nhanh, đúng kỹ thuật lại vừa phải có sự hợp tác chặt chẽ của những người tham gia v.v… Nói tóm lại, các trò vui chơi thể thao này đã thể hiện sức khoẻ và sự tài khéo của con người trên sông nước. Đó là một điểm mạnh, một “tố chất” cơ bản của người dân nước ta. Tuy nhiên, những tố chất ấy trong suốt thời kỳ phong kiến chỉ được phát huy trong những phạm vi nhỏ hẹp, mà không vươn tới được tầm xuyên quốc gia: hàng hải, ngoại thương và ngay cả thuỷ quân của ta đều kém phát triển. Đó là một hạn chế, không phát huy được tố chất con người sẵn có và một vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi như nước ta (đường biển dài, lắm sông nhiều hồ)…

°°°

Trở lên, chúng tôi đã xem xét đến tính chất các mối quan hệ cụ thể của người dân nước ta, nhất là ở giai đoạn Việt cổ, đối với hai yếu tố cơ sở tạo nên sự sống, là đấtnước. Trên thực tế thì đấtnước luôn luôn có mối quan hệ gắn bó: nước chỉ tồn tại khi có đất bao chứa và làm giá đỡ, còn đất chỉ trở thành đất hữu cơ nuôi sống con người khi trong lòng nó có chứa nước.

Tất nhiên, làm nên sự sống, làm nên con người còn phải có hai yếu tố nữa là ánh sáng và không khí, nhưng vì bản thân chúng chỉ là những vật vô hình không cần chủ sở hữu, cho nên từ xưa đến nay không ai đặt vấn đề phải tìm hiểu ánh sáng và không khí với tính cách là một thực thể mang cả hai tính chất tự nhiên và xã hội, như đối với đấtnước.

Do đặc điểm của đấtnước như đã trình bày, cho nên trong khi xem xét các mối quan hệ của con người đối với từng yếu tố, một mặt chúng tôi thực hiện việc phân xuất ra cho rõ vấn đề hơn, nhưng mặt khác cũng chú ý thích đáng đến mối quan hệ tự nhiên, gắn bó giữa chúng. Đúng là đấtnước khi đã tạo thành một thực thể làm nên sự sống được phản ánh vào trong nhận thức của con người, thì ý nghĩa của nó đã không dừng lại ở các giá trị vật chất trước mắt mà còn vươn lên, đến các giá trị phi vật thể – tinh thần lâu dài. Điều này, trong nhận thức của con người đối với từng yếu tố tuy cũng đã xảy ra, nhưng đấy phần lớn mới chỉ là những nhận thức cảm tính và ở phạm vi hạn hẹp. Và chính từ những nhận thức hạn hẹp ấy mà trong cuộc sống thường ngày, không ít người chỉ chú ý tới những quyền lợi cụ thể, trước mắt có liên quan trực tiếp đến bản thân mình, còn những quyền lợi chung của cả quốc gia, cộng đồng, thì lại hay sao lãng. Đó là một thực tế, cần được nhắc nhở và thường xuyên rút kinh nghiệm.

°°°

Đất nước gắn bó với mỗi con người trong một phạm vi hẹp (xóm, làng, xã, huyện, tỉnh) thì được gọi là quê hương, còn trong phạm vi toàn quốc gia thì được gọi là… đất nước. Mỗi người sinh ra trên cõi đời này, do vậy, đều có một quê hương và một đất nước cụ thể. Sự nhận thức của mỗi con người, theo thời gian, là đi từ gia đình đến quê hương, rồi đến đất nước. Gia đình ở trong lòng quê hương, quê hương ở trong lòng đất nước, do vậy, khi nói đến đất nước là đã bao hàm cả gia đình và quê hương.

Khi con người sinh ra, thì việc đầu tiên là phải “cắt rốn chôn nhau” – đấy là kỷ niệm đầu đời có liên quan tới đất đai mà khi lớn lên mỗi con người sẽ tự hiểu. Tiếp đến, có nhận thức đôi chút, thì người ta tiếp xúc với môi trường – cảnh quan xung quanh: đường làng, ngõ xóm, bờ tre, cây đa, giếng nước, sân đình, cánh đồng, dòng sông, con đê… Sự tiếp xúc được lặp đi lặp lại không ngừng đã in sâu dấu tích vào trong tâm trí của mỗi người và đó là những hình ảnh đầu tiên về quê hương đất nước. Những hình ảnh ấy tự nó đã mang tính chất là những kỷ niệm, nhưng những kỷ niệm này càng trở nên sâu sắc khi nó được gắn với con người, mà cuộc sống thì đương nhiên, đã luôn luôn diễn ra như thế.

Do vậy mà hình ảnh cùng những ứng xử của người thân, của bà con chòm xóm, của dân làng… luôn luôn được hiện về trong trí nhớ của mỗi người, để trở thành một chủ thể thứ hai không thể thiếu, về quê hương đất nước.

Môi trường – cảnh quan của nông thôn (và đó cũng là môi trường – cảnh quan chung trên đất nước ta) thì tươi đẹp, luôn chứa sẵn trong lòng nó “chất thơ”, mà trong đó màu xanh – màu chủ đạo của bức tranh làng quê – lại luôn gợi nhớ sự êm đềm, thư thái, và cả sự hạnh phúc mà ai ai cũng phải cần đến, còn con người thì hiền hoà, trung hậu, chịu thương chịu khó, sẵn lòng giúp đỡ người khác (bản chất người nông dân). Đó cũng là những hình ảnh cụ thể về quê hương đất nước, mà trong nhận thức của mỗi người dân nước ta khi nghĩ về “cái nôi” đã sinh ra mình, dù hiện tại họ đang ở đâu và làm gì. “Quê cha đất tổ” (thành ngữ), “tình làng nghĩa xóm” (thành ngữ)… vì thế đã trở thành hành trang tinh thần không thể thiếu trong cuộc đời của mỗi con người.

Sự gắn bó của con người với quê hương đất nước như vậy, là sự gắn bó vừa mang tính chất tự nhiên lại vừa mang tính chất xã hội.

°°°

Quá trình khai phá đất đai, điều hoà lượng nước ở tầm vi mô và vĩ mô xảy ra từ thời sơ sử (Việt cổ) rồi được tiếp tục cho đến tận ngày nay, là một quá trình đấu tranh gian khổ, mà trong đó, không biết bao nhiêu mồ hôi, công sức và cả trí tuệ của các thế hệ người Việt đã phải đổ ra trên mảnh đất của mình (điển hình: “Cầy đồng đang buổi ban trưa. Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cầy”(ca dao)). Quá trình ấy không thể là quá trình của một gia đình hay một dòng họ, mà là quá trình của toàn dân bao gồm rất nhiều thế hệ kế tiếp nhau cùng “chung lưng đấu cật” (thành ngữ), cùng “đồng cam cộng khổ” (thành ngữ) để thực hiện mục tiêu chung.

Quá trình ấy, vì thế, còn là quá trình của sự “cưu mang đùm bọc”, “chia ngọt sẻ bùi”, “tắt lửa tối đèn có nhau” (thành ngữ) trong “tình làng nghĩa xóm” và trong “tình làng nghĩa nước” (thành ngữ) của người dân nước ta. Do vậy, mỗi khi gặp hoạn nạn thì tình cảm cộng đồng liền được thức tỉnh và được phát huy: “lá lành đùm lá rách”, “chị ngã em nâng” (thành ngữ), “thương người như thể thương thân”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no” (tục ngữ).

Tình cảm cộng đồng cũng trở thành nề nếp trong giao tiếp, ứng xử:

– Kim vàng ai nỡ uốn câu

Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời (ca dao).

– Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi

Người khôn ai nỡ nặng lời làm chi (ca dao).

Do vậy, cũng là cái “chuẩn” để từ đó phê phán những người, những hiện tượng vi phạm: “qua sông phụ đò”, “vạch lá tìm sâu”, “bới bèo ra bọ” (thành ngữ)…

Cũng từ đó, sự tu dưỡng của mỗi người, ngoài tâm niệm “ở hiền gặp lành” (thành ngữ) còn là để nhằm vào mục tiêu củng cố sự đoàn kết cộng đồng càng thêm gắn bó “Một sự nhịn bằng chín sự lành” (tục ngữ), “Bán anh em xa mua láng giềng gần” (tục ngữ), “Thương người như thể thương thân” (tục ngữ), “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” (ca dao), “Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước thì thương nhau cùng” (ca dao).

Như vậy, với người Việt, quá trình xây dựng đất nước cũng là quá trình nảy sinh và thử thách những tình cảm gắn bó cộng đồng, để từ đó trở thành chuẩn mực chung trong quan niệm, ứng xử và trong tâm tư tình cảm của mỗi người. Có thể xem đó là một truyền thống, một nét văn hoá mang đầy tính nhân văn, góp phần bồi dưỡng thêm tình yêu quê hương đất nước ở mỗi thành viên.

°°°

Song song với quá trình xây dựng, còn là quá trình chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ đất nước mà trong suốt tiến trình lịch sử, dân tộc ta đã không ít lần phải trải qua. Quá trình ấy cũng là quá trình hun đúc thêm truyền thống yêu nước sẵn có, đi vào tâm thức của mỗi người dân: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” (tục ngữ), “còn cái lai quần cũng đánh” (lời chị Út Tịch – anh hùng thời chống Mỹ), để rồi mỗi khi có giặc ngoại xâm thì liền được huy động, trở thành một sức mạnh hùng hậu, làm nên những chiến thắng huy hoàng mà lịch sử dân tộc đã từng ghi nhận.

Quan niệm về lòng yêu nước của nhân dân ta được thể hiện tập trung rõ rệt nhất trong phong tục tập quán và cả trong tín ngưỡng về sự thờ phụng, tôn vinh các vị anh hùng văn hóa khai mở cơ đồ dân tộc tạo dựng nên các nghề nghiệp mới và các vị anh hùng dân tộc – những người có công đầu trong các cuộc chiến tranh vệ quốc (bảo vệ đất nước), và đó là một nội dung quan trọng, chúng tôi sẽ trình bày ở chương sau.

CHƯƠNG III
CÁC VỊ THẦN ĐƯỢC TÔN THỜ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CÁC LỄ TIẾT, LỄ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT

Lâu nay trong giới nghiên cứu khoa học xã hội nhiều người đã quen với nhận định cho rằng các vị thần ở thời cổ đại được sinh ra là từ nỗi sự hãi của con người đứng trước giới tự nhiên rộng lớn chứa đầy hiểm hoạ và trước các hiện tượng tự nhiên kỳ bí mà họ chưa thể nhận thức được. Tuy nhiên, theo nhận xét của chúng tôi, lời nhận định ấy mới chỉ đúng một phần và phần đó thuộc về “bản thể luận”. Đúng là ở vào thời cổ đại, những câu hỏi lớn mà chưa có câu trả lời như: các vật thể và hiện tượng tự nhiên do đâu mà có? Con người từ đâu mà ra? v.v…. đã làm cho con người choáng ngợp, không thể hiểu nổi. Do vậy mà các vị thần đã ra đời như một lời giải thích về thế giới tự nhiên, và các vị thần được tôn thờ thì đó là sự suy phục của kẻ yếu trước kẻ mạnh: xin các vị hãy ra ơn làm phúc, bớt đi phần giáng hoạ (đá đổ, cây đè, sét đánh, lũ cuốn, v.v…) cho con người!

Thế nhưng còn một phương diện khác – và điều này mới thật sự quan trọng – thuộc phần “nhân cách luận” trong nghiên cứu về con người nói chung (“Khoa học Nhân học”) mà nếu đem áp dụng lời nhận định kia vào thì lại tỏ ra không thích hợp. Bởi vì theo đó, chẳng lẽ ở thời cổ đại bản thân con người lại chỉ chứa nỗi sợ hãi thôi hay sao? Chúng tôi cho rằng chẳng cứ ở thời hiện đại mà ngay từ thời cổ đại, lao động đã trở thành động lực để phát triển của con người và xã hội rồi. Chữ “lao động” ở đây được dùng với hai nghĩa: lao động (làm lụng) để duy trì sự sống và “lao động sáng tạo” tức là những sáng chế phát minh thúc đẩy xã hội loài người phát triển. Vậy nên, theo chúng tôi, nhận định trên cần phải được điều chỉnh lại: Ngay từ thời cổ đại đứng trước giới tự nhiên con người vừa sợ lại vừa không biết sợ. Họ vừa tin mà cũng vừa không tin vào các vị thần, do vậy mà một mặt thì thờ cúng, cầu xin, nhưng mặt khác họ cũng tác động trực tiếp vào giới tự nhiên để mang lại và duy trì sự sống của mình. Đặc tính “nước đôi” này, dường như vẫn còn đi mãi với con người ngay cả ở thời hiện đại. Vì vậy mà Nguyễn Du mới viết trong truyện Kiều: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”, thì cũng là căn cứ vào cái lý tự nhiên đã có từ thời xa xưa ấy!

Các vị thần đá, thần cây, và thần của các hiện tượng tự nhiên mây, mưa, gió, sấm, chớp… có thể đã xuất hiện từ thời cổ đại hay còn gọi là thời tiền sử và sơ sử. Đó là những vật thể và hiện tượng tự nhiên nhiều khi trực tiếp đe doạ tới tính mạng của con người thời đó khi họ vừa bước ra khỏi trạng thái nguyên thuỷ. Tuy nhiên, như chúng tôi đã nói, tuy sợ thì có sợ nhưng họ vẫn hàng ngày bới đất tìm củ, hái lượm các loại hoa quả và dùng hòn đá, cành cây săn bắt chim thú… để duy trì sự sống của mình. Việc thờ các sinh thực khí, theo chúng tôi, có thể cũng đã xuất hiện ở cuối thời kỳ này. Khi ấy, với câu hỏi “bản thể luận – khởi nguyên” (“loài người do đâu mà có?”) tuy chưa có câu trả lời, nhưng với câu hỏi “bản thể luận – cá thể” (“sự ra đời của từng con người cụ thể”) thì họ đã tìm thấy lời đáp ở ngay bản thân và trong giới động vật: Từ các sinh thực khí – tức là từ cơ quan sinh dục của cả hai phái nam và nữ, hay từ hai phía đực và cái nói chung.

Thờ sinh thực khí, do vậy, không phải là thờ một vị thần để ám chỉ việc này, mà là thờ hai con người cụ thể thuộc hai giới được mô phỏng theo cả hình dáng và động tác, để cầu xin sự sinh sôi phát triển của con người cùng các giống cây trồng, vật nuôi nói chung, mà ở các thời về sau người ta gọi một cách văn hoá và cũng khái quát hơn là “Sự giao hoà âm – dương”.

Ở thời cổ đại – giai đoạn đầu tiên của sự phát triển loài người – nhu cầu sinh sôi (của con người và các giống cây trồng, vật nuôi) hiển nhiên đã là nhu cầu bức xúc hơn lúc nào hết, do vậy mà hình ảnh “giao hoà âm – dương” kia được nâng lên ở địa vị trang trọng nhất như đã thấy trên nắp Thạp đồng Đào Thịnh, và cùng với nó, các nghi lễ thờ cúng chắc chắn cũng được “phổ” vào theo trong đời sống xã hội của thời bấy giờ.

Đến nay, trải thời gian hàng mấy nghìn năm, cả sơ sử và lịch sử, những dấu tích của tục thờ đá, thờ cây, thờ các hiện tượng tự nhiên và thờ sinh thực khí của người Việt cổ tuy cũng vẫn còn, nhưng cố nhiên đã bị biến dạng và số lượng của chúng cũng thật ít ỏi. Thần Thạch Khanh ở Bạch Hạc – Phú Thọ được ghi trong sách Việt Điện u linh đến nay chỉ còn tên gọi (“chàng Đá”), mà bản thân thần thì đã biến thành một trong hai vị thần bảo hộ của vùng đất ấy rồi. Tượng hòn đá cụt đầu ở am Bà Chúa ở Cổ Loa (Hà Nội), thì tuy mang hình hài là đá cũng khá tự nhiên (ít có sự gia công chế tác) nhưng lại là chứng tích cho một lỗi lầm hay một nỗi oan khiên, tuỳ theo cách đánh giá của từng người. Còn những bát phù hương ở thân và gốc của một vài cây cổ thụ mà vào những ngày sóc vọng những người buôn bán thường hay đến lễ bái, thì đấy không phải là tục thờ thần cây của người cổ đại, mà là tục thờ “thần tài” của người hiện đại, được họ quan niệm là đang trú ngụ ở trong cây cổ thụ đó.

Việc thờ cúng các vị thần của các hiện tượng tự nhiên mây, mưa, gió, sấm, chớp cũng xảy ra tương tự – nghĩa là chỉ còn thấy ở phần quan niệm. Những quan niệm ấy đã được “hoá thân” vào các ngôi chùa (thờ Phật) để rồi những ngôi chùa này được mang tên là một trong năm hiện tượng kể trên mà theo đó ta có Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Phong, Pháp Lôi, Pháp Điện, như còn thấy ở một vài địa phương thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

Còn tục thờ sinh thực khí, thì cho đến nay vẫn có một vài nơi thực hành nghi lễ rước sách và nghi lễ “tính giao” (chữ dùng của Engels), như các làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) và Khúc Lạc, Dị Nậu (Phú Thọ). Tuy nhiên, ở các làng này, sinh thực khí và động tác “giao hoà âm – dương” đã không còn ở địa vị tối thượng (vì đã có vị thần của làng ở địa vị này rồi!), mà chỉ còn là đồ tế lễ và nghi lễ rước sách, thực hành, sau đó được đem “hoá” (đốt) hoặc tung ra cho dân làng “cướp” (với quan niệm: Ai cướp được thì trong năm sẽ gặp nhiều may mắn).

°°°

Sau giai đoạn ở phía đông của chân núi Ba Vì, những người Việt cổ toả đi các hướng và xuống khai phá vùng đồng bằng với thuyền bè và các công cụ, vũ khí trong tay bằng kim loại… Bấy giờ, mặc dù họ đã “mạnh” hơn rất nhiều so với thời kỳ còn ở trong rừng, nhưng với những gì bất cập, rủi ro gặp phải trên bước đường chinh phục mới, thì những thứ họ đang có trong tay kia, cũng không dễ gì có thể khắc phục ngay được. Những vật thể tự nhiên mà họ tiếp xúc hàng ngày như đất đai, sông nước, vì thế, lại trở thành các vị thần, và đó là thần đất, thần sông – đến giai đoạn sử dụng âm Hán – Việt thì được gọi là thổ thần, thuỷ thần. Tuy nhiên, các vị thổ thần, thuỷ thần này càng về sau lại càng mang nhiều cấp độ, mặc dù tựu trung thì cũng vẫn là thổ thần, thuỷ thần cả.

Như ở trên đồng đất của mỗi làng thì tại mỗi xứ đồng có một vị thần thổ địa, cai quản. Vậy nên ở trong dân gian, khi khấn mời vong linh tổ tiên hay người thân đã khuất về nhà hưởng lễ, thì người ta phải khấn xin phép vị thần thổ địa ở nơi ấy (xứ đồng) trước. Còn ở trong làng xóm, nơi định cư của dân làng, ngoài một vị thổ thần được thờ cúng chung tại chùa, thì ở các ngõ xóm lại có những miếu thổ kỳ để thờ các vị thổ thần của ngõ xóm nữa. Nhưng đây mới chỉ là nhìn chung, còn cá biệt vẫn có những làng lại thờ thổ thần ở ngay tại đình, cùng với việc thờ ở chùa và các ngõ xóm. Trong phạm vi mỗi gia đình, thổ thần cũng là vị thần được tôn thờ phổ biến nhưng dưới tên gọi thổ công, bên cạnh việc thờ thần bếp, mà dân gian gọi một cách nôm na là “ông công ông táo”, hàng năm được tổ chức cúng lễ vào ngày 23 tháng chạp âm lịch. Nhìn chung, dù ở gia đình, ở xóm ngõ hay ở làng, thì các vị thổ thần cũng đều được người dân quan niệm là những vị thần bảo hộ cho họ ở cõi âm, canh giữ không cho quỷ sứ đến xâm phạm, và phù hộ độ trì cho họ được an cư lạc nghiệp…

Các vị thuỷ thần cũng được người dân quan niệm tương tự như các vị thổ thần kể trên, chỉ khác ở chỗ: một bên ở dưới nước còn một bên ở trên cạn. Do vậy mà ở các làng ven sông, bên cạnh dòng chảy, thỉnh thoảng người ta lại lập một miếu thờ thuỷ thần, để cầu mong sự phù hộ độ trì: làm cho mưa thuận gió hoà tránh những rủi ro trên sông nước và đánh bắt được nhiều tôm, cá… Thuỷ thần còn có tên gọi khác là Hà Bá, tức cũng để chỉ một vị thần đứng đầu cai quản một dòng sông hay một khúc sông nào đó.

Việc thờ thổ thần, thuỷ thần của người dân nước ta như vậy là có xuất xứ từ thời sơ sử do quá trình người dân gắn bó với môi trường tự nhiên – địa bàn sinh thái nhân văn của họ mà thành, chứ tuyệt nhiên không phải là những vị thần được du nhập từ phương Bắc sang, mặc dù về tên gọi đã có sự pha trộn: vừa gọi theo “Nôm” (thần đất, thần sông), lại vừa gọi theo âm Hán – Việt (thổ thần, thuỷ thần).

°°°

Việc thờ cúng nhân thần với tính cách là những linh hồn của ông bà, tổ tiên của người dân nước ta cũng đã bắt đầu có từ thời sơ sử mà bằng chứng là đạo Sa môn – với người khởi xướng là Hương Vân Cái Bồ Tát ở thời Kinh Dương Vương cách ngày nay khoảng 5000 năm, như được ghi trong Bách Việt triệu tổ cổ lục, trong Kinh Khâm thiên giải ách Ngọc Hoàng cốt tủy trong Kinh Ngũ bách danh và trong nhiều bộ Kinh cổ khác của nước ta.

Theo Bách Việt triệu tổ cổ lục, đạo Sa môn lúc đầu chỉ là đạo tu thân tích thiện, mà người khởi xướng là Hương Vân Cái Bồ Tát, nhưng ngay sau đó thì kiêm luôn cả việc thờ cúng ông bà, tổ tiên và nhanh chóng trở thành một phong tục tập quán, tín ngưỡng phổ biến của nước ta ở ngay từ thời Bách Việt và các vua Hùng.

Sự ra đời của đạo Sa môn, theo quan niệm của chúng tôi, đã có từ hai nguồn gốc:

1. Ấn tượng về thời “Cực Lạc” ở chân núi Ba Vì xảy ra trước đó vẫn còn in dấu ấn mạnh mẽ lên tâm tư các thế hệ về sau. Đó là một thời mà mọi người cùng ăn, cùng ở, cùng vui chơi, sinh hoạt, và ý thức cộng đồng có từ thời tiền sử vẫn luôn luôn được duy trì và đề cao ở thời kỳ này.

2. Cảm thức ơn nghĩa đã thấm nhuần trong tâm tư các thế hệ người Việt ngay từ thời sơ sử, mà cảm thức này được hình thành từ trong quá trình khai phá vùng đồng bằng của họ, trong đó sự bàn giao mang ý nghĩa trao truyền giữa các thế hệ đã luôn luôn được vun đắp một cách liên tục (“đi đến đâu cũng trồng cây đa, đắp các hang, đào giếng nước và trồng ruộng khoai lang, ruộng lạc bên cạnh, khi đi nơi khác thì để lại cho những người đến sau” – trích Bách Việt triệu tổ cổ lục, bản dịch), từ đó tạo thành nét tâm lý phổ biến mang tính truyền thống của cả cộng đồng (“Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”).

Theo Bách Việt triệu tổ cổ lục ghi lại, đối chiếu với hệ thống các bức tượng Phật trong chùa của chúng ta hiện nay, thì chúng tôi thấy, đó chính là các vị tổ tiên từ thời thượng cổ, thời Bách Việt và các vua Hùng và các vị anh hùng cứu nước tiêu biểu ở thời Hai Bà Trưng. Hệ thống ấy cũng phù hợp với hệ thống các bức tượng được thờ ở khu vực đền Thượng, đền Trung (sẽ nói đến ở phần sau) trong khu “Nam thiên thất thập nhị từ” ở vùng tổng Sốm trước đây. Và như vậy có thể thấy đạo Sa môn – đạo tu thân tích thiện và thờ cúng ông bà tổ tiên, như được ghi trong Bách Việt triệu tổ cổ lục, đến ngày nay vẫn còn hiện diện một cách trọn vẹn trong đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt. Tuy một số vị trong đó có mang những sự tích khác với sự tích được ghi trong Bách Việt triệu tổ cổ lục, thì đó chỉ là những câu chuyện Phật thoại được một số nhà nho biên soạn ở các giai đoạn lịch sử về sau, nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của các thế lực thống trị ngoại bang các thời (Trung Hoa, Pháp) mà thôi.

Đây là một vấn đề văn hóa – tín ngưỡng lớn, chúng tôi sẽ trình bày kỹ trong một công trình khác, còn ở đây, chỉ xin nhấn mạnh: Đạo Sa môn – đạo tu thân tích thiện và thờ cúng ông bà tổ tiên của người dân nước ta đã có ngay từ thời Việt cổ, và đó là kết quả của sự chuyển hoá từ tôn giáo nguyên thuỷ (thờ đá, thờ cây) sang phía con người, tức là từ chỗ lấy tự nhiên làm đối tượng tôn thờ đã tiến tới chỗ lấy chính con người làm đối tượng để tôn thờ. Tuy nhiên, theo sự tìm hiểu của chúng tôi, ý nghĩa của đạo Sa môn không chỉ dừng lại ở đó, mà sâu xa hơn, đây còn là một đạo mang ý nghĩa văn hoá và nhân văn rất cơ bản. Điều này được thể hiện ở chỗ: các ông bà, tổ tiên được các thế hệ con cháu ở thời Việt cổ tôn thờ thì đó cũng chính là những người khai sơn phá thạch, những người mở ra một nghề nghiệp mới tức là những anh hùng văn hoá theo đúng nghĩa mà người của thời hiện đại hiểu về từ này. Các vị tổ tiên như Phục Hy, Đế Viêm, Thần Nông, Kinh Dương Vương, các vua Hùng (như đã trình bày ở hai chương trước) ngay từ thời sơ sử đã được các thế hệ người Việt xếp vào hàng các vị Liệt thánh, Liệt tổ, được cả cộng đồng tôn thờ, và chính điều này đã nhen nhóm mãi niềm tự hào dân tộc, vượt qua được thử thách gần một nghìn năm Bắc thuộc. Tuy nhiên, trong điều kiện bị đô hộ của gần một nghìn năm ấy, tổ tiên ta chỉ duy trì sự tôn thờ này dưới hình thức khiêm tốn là “thờ cúng ông bà, tổ tiên”, và do vậy, đã vượt qua được sự soi mói của kẻ thù – đúng như Tạ Chí Đại Trường đã đặt vấn đề nghi vấn trong Thần, người và đất Việt.

Sự tôn thờ các vị Liệt tổ, Liệt tông của dân tộc được duy trì mãi từ thời sơ sử cho đến tận thời Đinh Tiên Hoàng, với hình thức “thờ cúng ông bà, tổ tiên”. Tuy nhiên, sau khi thống nhất được đất nước (968), thì vua Đinh liền chính thức hoá hình thức thờ cúng ấy cho đúng với tầm vóc của nó: Phong cho vị tộc trưởng họ Nguyễn, tức là người mà theo huyết thống vẫn trông nom phần mộ và thờ cúng các vị tổ tiên của dòng họ nhưng đồng thời cũng là tổ tiên chung, chức Quốc công (mặc dù ông không lập chiến công trận mạc nào), được quyền quản lý 2.400 mẫu ruộng ở vùng Kinh đô của thời Bách Việt và các vua Hùng, hàng năm tổ chức nghi thức cúng lễ trọng thể nhất (có nhà vua về dự). Đó là sự thờ cúng các Đức quốc tổ của dân tộc! Tình trạng này được duy trì mãi cho đến tận cuối thời vua Thành Thái (1907) nhà Nguyễn, tức là trong suốt 940 năm.

Sự phát triển của đạo Sa môn kể từ thời Kinh Dương Vương trở đi, đã được phân ra thành hai hướng: một hướng là hệ thống các đức Phật được thờ trong chùa và một hướng là các vị nhân thần được thờ tại các đền, miếu và đến thời Lê sơ thì được thờ cả ở trong đình. Nhưng dù là Phật hay là thần thì các vị cũng đều xuất phát từ một gốc và gốc đó chính là các anh hùng văn hoá, anh hùng cứu quốc của dân tộc. Nhiều vị trong số đó mang cả hai tư cách, vừa là Phật vừa là thần – được thể hiện trong câu thành ngữ “Đi thần về Phật” tức là một vị có công lao đã được thờ ở quê (nơi sinh) làm Phật, nhưng lại được nhiều nơi khác thờ làm thần (tức là thờ ở nơi xa quê).

Sự thờ cúng các nhân thần là các anh hùng cứu quốc, anh hùng văn hoá thời gian đầu (thời Đinh và Tiền Lê) được tập trung ở vùng Kinh đô cũ của thời Bách Việt và các vua Hùng, là tổng Đại Lôi và vùng lân cận gồm 7 tổng mang chữ Đại, rồi sau đó được các triều đại trước kia thừa nhận là 7 tổng đứng đầu cả nước: Đại Thành, Đại Ơn, Đại La, Đại Lôi, Đại Lõi, Đại Hữu, Đại Mỗ – nay thuộc vào địa bàn các huyện Chương Mỹ – Quốc Oai – Hoài Đức – Thanh Oai (Hà Tây), Từ Liêm – Thanh Trì (Hà Nội). Sau đó, dưới các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn, sự thờ cúng này được lan truyền ra cả nước và danh sách các vị nhân thần là anh hùng cứu quốc, anh hùng văn hoá, cũng được bổ sung và nối dài thêm: Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn cùng nhiều danh tướng, nhiều nhân vật lịch sử và các vị khai sơn phá thạch, các vị tổ các nghề nghiệp mới v.v…

Nếu kể về nhân thần, thì ngoài các vị anh hùng kể trên, còn có những người mà lúc sống thì thân phận nhỏ bé (đánh dậm, hót phân…), lúc chết lại ở trong hoàn cảnh thương tâm (chết đường chết chợ, chết đói chết khát, phải nhảy xuống giếng xuống sông tự tử hoặc bị đánh chết…) nhưng cũng được người dân một số làng lập làm thần Thành hoàng và tôn thờ. Đây là hiện tượng tín ngưỡng tự phát của một bộ phận dân chúng, do tin vào chỗ các vị kể trên chết vào giờ thiêng nên linh hồn có thể gây hại cho dân làng, do vậy họ phải tôn thờ để tránh những điều rủi ro tương tự. Các triều đại phong kiến trước đây đều coi đó là các tà thần, dâm thần và đã tiến hành nhiều đợt thanh trừng, tuy nhiên hiện tượng ấy vẫn còn sống dai dẳng trong các làng này, được thể hiện ra bằng các tục hèm vào đầu năm mới hoặc trong các lễ hội hàng năm của họ. Đây là một hiện tượng tín ngưỡng đặc biệt, đòi hỏi sự kiến giải hợp lý, hợp tình, nên sự suy xét cũng phải hết sức thận trọng…

Đương nhiên, một khi trong dân chúng đã có sự tôn thờ các vị nhân thần làm đại diện tinh thần cho mình và một khi hiện tượng này trở thành một hiện tượng phổ biến (thờ các anh hùng văn hoá, anh hùng cứu quốc) thì địa vị của các thần ban đầu (nhiên thần, thiên thần) cũng có sự thay đổi đáng kể. Một số vị nhiên thần, thiên thần được thay thế bằng các nhân thần. Một số khác thì chuyển xuống hàng thứ yếu (thổ công, thổ kỳ). Một số ít khác vẫn giữ nguyên…

Mối quan hệ giữa các vị nhiên thần, thiên thần với nhân thần nhiều khi cũng khá đặc biệt: nhiên thần, thiên thần báo mộng cho nhân thần khi các vị này còn tại thế, vì vậy, về sau dân làng thờ là thờ cả hai. Điều đáng chú ý là khi báo mộng, các vị nhiên thần, thiên thần lại hiện lên trong hình dáng, ngôn ngữ của nhân thần tức hình dáng, ngôn ngữ của con người.

* Theo nhiều nhà nghiên cứu, lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng – văn hoá có xuất xứ từ thời tiền sử. Khi ấy, trước và sau lúc săn bắn tập thể, người ta thường tiến hành những nghi lễ cầu xin (ma thuật) và cảm tạ thần linh, còn sau đó thì ăn uống và múa hát xung quanh đống lửa trại dùng để nướng chim thú, diễn tả lại các động tác trong lúc săn bắn…

Với người Việt cổ những lễ hội như thế ở thời tiền sử hiện nay không còn để lại dấu vết, nhưng những lễ hội ở thời kỳ sơ sử thì có thể tìm thấy một phần trong các hình trạm khắc trên mặt và tang trống đồng, thạp đồng của thời kỳ văn hoá Đông Sơn – tương đương với thời trị vì đất nước của các vua Hùng – mà khi nhìn vào ta có thể phỏng đoán được. Đó là hình ảnh của một đám rước hay của một cuộc dâng lễ diễn ra trên hai chiếc thuyền nối nhau được khắc trên tang trống đồng Ngọc Lũ mà trong đó một thuyền là lễ vật còn một thuyền là nhân vật được kính trọng, vì cả hai đều được “ngự” trên giá cao. Đằng trước đằng sau xung quanh lễ vật và nhân vật kính trọng, còn có rất nhiều người khác nữa tay cầm những vật trang trí bằng lông chim với động tác diễn tả sự hân hoan vui mừng. Trên tang của thạp đồng Đào Thịnh ta cũng thấy một hình ảnh hai chiếc thuyền tương tự, nhưng đây có thể là một cuộc biểu dương lực lượng ra đi làm một công việc gì đó bằng thuyền trên sông nước… Còn các hình ảnh khác, như hai người giã gạo hay những người nhảy múa, đánh trống, đánh chiêng, bắn cung… được khắc trên mặt của nhiều trống đồng cho thấy đó vừa là những hình ảnh lao động thường ngày, nhưng lại vừa là hình ảnh xảy ra trong các kỳ lễ hội…

Tựu trung lại, từ những hình ảnh ấy cho ta hình dung khá rõ cái không khí lễ hội xảy ra ở thời sơ sử mà trong đó nội dung chính là thuộc về các lễ hội nông nghiệp và các sinh hoạt (kể cả lễ hội) xảy ra trên sông nước.

Thời sơ sử ấy còn bảo lưu rất nhiều hình thức thờ cúng và lễ tiết, lễ hội dân tộc cổ truyền, tuy phải trải qua gần một nghìn năm Bắc thuộc nên ít nhiều có bị mai một đi, nhưng khi đất nước vừa giành được độc lập và thống nhất, thì nhanh chóng phục hồi để trở thành những hình thức thực hành tín ngưỡng – văn hoá độc đáo mang đầy bản sắc dân tộc, được phản ánh rất rõ trong Bách Việt triệu tổ cổ lục.

Chúng tôi sẽ trình bày tỉ mỉ những hình thức thực hành tín ngưỡng – văn hoá này trong một công trình khác, còn ở đây, chỉ xin nhắc qua.

Trước hết phải kể đến tín ngưỡng thờ “Tam phủ công đồng”, “Tam tòa thánh mẫu” và “Tứ phủ thần linh” tức là thờ những vị tổ có công khai mở địa bàn sinh tụ của cư dân Bách Việt, bao gồm phần đất từ phía nam sông Dương Tử (Trung Quốc) cho đến tận vùng Quảng Nam (Việt Nam).

“Tam phủ công đồng” là thờ ba vị cũng là ba anh em làm vua ở thời mở đầu của nước Xích Quỷ: Thái Khương công Nguyễn Minh Khiết tức Đế Minh làm vua bản quốc (sau là Văn Lang), Nguyễn Nghi Nhân tức Đế Nghi làm vua nước Sở, Nguyễn Long Cảnh hay còn gọi “Ba công đại vương” làm vua nước Đại Lý (thuộc miền đồi núi phía tây của nước Xích Quỷ). Ba vị này được dân gian các đời sau gọi là “Ba vị đức Chúa” hay Đế Thiên và Nam Tào, Bắc Đẩu. Theo quan niệm có từ thời cổ thì chúa còn ở trên vua.

“Tam tòa thánh mẫu” là thờ ba vị: Thiên tiên thánh mẫu (Hương Vân Cái Bồ Tát) vợ của Thái Khương công Nguyễn Minh Khiết, Mẫu Thượng Ngàn (tức bà Hồng Đăng Ngàn) vợ của Kinh Dương Vương Nguyễn Lộc Tục, Mẫu Thủy (hay Mẫu Thoải tức bà Âu Cơ) vợ của Lạc Long Quân Nguyễn Lâm.

“Tứ phủ thần linh” là thờ bốn đời tổ kế tiếp làm vua và đứng đầu Bách Việt: Thái Khương công Nguyễn Minh Khiết, Kinh Dương Vương Nguyễn Lộc Tục, Lạc Long Quân Nguyễn Lâm, Hùng Quốc Vương (tức Hùng vương thứ nhất) Nguyễn Lân.

“Tứ vị chầu Bà” là thờ bốn vị: Đệ nhất Thiên tiên (bà Đỗ Thị Ngoan tức Hương Vân Cái Bồ Tát), Đệ nhị Thượng Ngàn (bà Hồng Đăng Ngàn), Đệ tam Thủy phủ (bà Âu Cơ), Đệ tứ Khâm sai (vợ Hùng Quốc Vương, nguyên là con gái Lạc tướng huyện Chu Diên).

Tín ngưỡng thờ “Tam phủ công đồng”, “Tam tòa thánh mẫu”, “Tứ phủ thần linh” và “Tứ vị chầu Bà”, vốn được bảo lưu trên đất Kinh đô cũ (tổng Đại Lôi) của các vua Hùng qua gần suốt một nghìn năm Bắc thuộc (dưới danh nghĩa là thờ cúng ông bà, tổ tiên), đến thời Đinh thì được chính thức hoá thành “quốc lễ”, rồi từ đấy, trong các triều đại kế tiếp, được toả ra khắp cả nước, từ ngoài Bắc đến trong Nam, từ miền xuôi đến miền ngược. Chỉ đến khi thực dân Pháp tàn phá xong “Nam thiên thất thập nhị từ” vào cuối thời Thành Thái (1907) thì các hình thức tín ngưỡng thờ cúng này mới bị biến dạng, nhưng nhiều dấu tích đến nay vẫn còn thấy rất rõ, như tượng Ba vị đức Chúa, Ngọc Hoàng Thượng đế, Hương Vân Cái Bồ Tát… được đặt ở trong tất cả các ngôi chùa.

Tiếp đến phải kể đến tín ngưỡng thờ “Bát bộ Kim Cương” tức là thờ 8 vị tổ của nghề rèn sắt, đúc đồng, và chế tạo gốm sứ mà địa điểm cũng ở tổng Đại Lôi cũ. Tám vị “Kim Cương” có tên Đỗ Xương, Đỗ Triệu, Đỗ Hiệu, Đỗ Cường, Đỗ Chương, Đỗ Dũng, Đỗ Bích và Đỗ Trọng, đều là em của Hương Vân Cái Bồ Tát, có công giúp anh rể là Đế Minh và cháu là Kinh Dương Vương đánh giặc, rèn đúc vũ khí, trống đồng, các công cụ, vật dụng bằng kim loại, và các vật dụng sinh hoạt bằng sành sứ.

Tiếp nữa là thờ “Ngũ vị tôn ông” tức là thờ 5 người con của Kinh Dương Vương, được tôn là 5 vị thần của các hiện tượng tự nhiên: gió – mây – mưa – sấm – chớp, Nguyễn Nghiêm = Thần gió, Nguyễn Quyền = Thần mây, Nguyễn Bé (chết trẻ) = Thần mưa, Nguyễn Lâm (hay Nguyễn Khoản tức Lạc Long Quân) = Thần sấm, Nguyễn Huề = Thần chớp.

Tiếp nữa là thờ “Tứ phủ công đồng” tức là thờ bốn người con Kinh Dương Vương (Nguyễn Nghiêm, Nguyễn Quyền, Nguyễn Lâm, Nguyễn Huề) mà khi sinh thời đã có rất nhiều công lao đối với dân chúng, giúp vua cha trị vì đất nước, mở mang bờ cõi, ổn định các mặt đời sống.

Tiếp nữa là thờ một trăm vua Hùng với đầy đủ tên hiệu, trong đó có 18 vị vua thống nhất được đất nước. Ở tổng Đại Lôi cũ, hiện nay vẫn còn 9 ngôi miếu thờ 18 vua Hùng kể trên, và đều được ghi là Thần ( ).

Tiếp nữa là thờ các vị như: Phù Đổng Thiên Vương, Tản Viên Sơn Thánh, Tiên Dung – Chử Đồng Tử, Thục An Dương Vương, Triệu Vũ Đế (Nguyễn Thận), Tiền, Hậu Lý Nam Đế và Triệu Quang Phục.

Tiếp nữa là thờ Hai Bà Trưng, vợ chồng cụ Hùng Định (cha mẹ của Hai Bà Trưng), vợ chồng cụ Đỗ Năng Tế (thầy dạy học của Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh), 12 bà mẹ và 36 tướng lĩnh trong cuộc khởi nghĩa mang tên Hai Bà.

Trên đây là khái quát về các vị thần được thờ tại tổng Đại Lôi cũ – Kinh đô của thời Bách Việt và các vua Hùng, được bảo lưu trong suốt thời kỳ Bắc thuộc và trở thành “quốc lễ” từ thời Đinh đến tận cuối thời Thành Thái nhà Nguyễn. Cuối thời Thành Thái, do âm mưu triệt phá văn hoá của thực dân Pháp, nên các đền thờ ở khu vực này mới bị dỡ bỏ, chuyển đi các nơi khác. Đây là cả một câu chuyện dài, xin được trình bày vào dịp khác, còn phần chúng tôi muốn đề cập ở đây, là những lễ tiết, lễ hội được định hình và thực hành ở vùng này rồi từ đó đã lan toả ra khắp cả nước.

Trước hết, xin nói qua về hệ thống đền thờ ở vùng tổng Đại Lôi cũ trước khi thực dân Pháp triệt phá. Hệ thống này gồm có 72 ngôi đền, gọi là “Nam thiên thất thập nhị từ”, được chia ra làm 3 hệ thống nhỏ, và mỗi hệ thống ấy gồm 3 đền, ở ba khu vực tách biệt, gọi là khu đền Thượng, khu đền Trung và khu đền Hạ.

Ở khu vực đền Thượng thờ: – Kinh Dương Vương và thuỷ tổ của dòng họ đứng đầu Bách Việt bao gồm các đời từ Phục Hy, Đế Viêm, Thần Nông, Đế Tiết, Đế Thừa, Đế Minh đến Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và 100 vua Hùng (trong đó có 18 đời vua thống nhất đất nước).

  • “Tam phủ công đồng”.
  • “Tam tòa Thánh Mẫu”.
  • “Tứ phủ thần linh”.
  •  “Tứ phủ công đồng” và “Tứ vị chầu Bà”.
  • “Ngũ vị tôn ông”.
  • Thuỷ tổ cửu tộc (9 họ đầu tiên) và Thuỷ tổ các dân tộc ít người.
  • Phù Đổng Thiên Vương, Tản Viên Sơn Thánh, Tiên Dung – Chử Đồng Tử tức “tứ vị bất tử”.

Đền Thượng là khu vực quan trọng nhất, do vị tộc trưởng họ Nguyễn (“Quốc công”, “Quốc phụ”, “Hương Quận công” – tuỳ theo các triều đại trước kia phong chức tước) trực tiếp quản lý, làm chủ tế và có hệ thống chức sắc giúp việc, có “vệ đô“ và quân lính triều đình canh gác đêm ngày. Các vị được thờ tại đền Thượng mang cả hai tư cách: vừa là Thần vừa là Phật, nên khi cúng, dâng cả cỗ mặn và cỗ chay.

  • Khu vực đền Trung: các vị thần được thờ là Kinh Dương Vương, Thủy tổ Bách Việt và Thủy tổ cửu tộc, nhưng trọng tâm là thờ Hai Bà Trưng, vợ chồng cụ Hùng Định, vợ chồng cụ Đỗ Năng Tế, 12 bà mẹ và 36 vị tướng trong cuộc khởi nghĩa mang tên Hai Bà. Quản lý khu vực này là chức sắc của ba làng Văn Nội, Nhân Trạch và Trinh Lương. Cỗ cúng là cỗ mặn vì các vị thờ ở đây được quan niệm là “Thần”.
  • Khu vực đền Hạ: các vị thần được thờ cũng là Kinh Dương Vương, Thủy tổ Bách Việt và Thủy tổ cửu tộc, nhưng trọng tâm là thờ Thục An Dương Vương, Triệu Vũ Đế, Tiền, Hậu Lý Nam Đế và Triệu Quang Phục. Quản lý khu vực này là chức sắc các làng Bác Lãm, Thượng Mạo, Động Lãm (ở xung quanh khu Thành Ốc và Phong Khê cũ). Cỗ cúng là cỗ mặn như ở đền Trung, vì các vị được thờ là “Thần”.
    (Hai khu vực đền Trung, đền Hạ đều thuộc quyền quản lý chung của Hương Quận công)
  • Đền thờ “Bát bộ Kim Cương” ở riêng một khu vực và có tục lệ cúng lễ riêng.

Từ thời Đinh đến cuối thời Lê, vào ngày sinh, ngày hoá của các vị thần chính trong các vị thần kể trên đều có tổ chức cúng lễ và đón Hội đồng tộc biểu cả nước về dự. Đến đầu thời Nguyễn, vua Gia Long định lại lệ: tổ chức giỗ chính vào tháng 3 và tháng 8 (âm lịch) hàng năm, gọi là “Tháng 8 hội cha tháng 3 hội mẹ”, số người về dự đông từ 3 đến 5 nghìn người, mỗi người được tiếp đãi trong 7 ngày… Riêng với Hương Vân Cái Bồ Tát – người khởi đầu tu hành đạo Sa môn, có ngày sinh 8 tháng 4 và ngày hoá rằm tháng 7 (âm lịch), được gọi là ngày “Phật đản” và ngày “xá tội vong nhân” (xuống âm phủ ân xá cho các linh hồn tội lỗi). Hai ngày này chẳng những được tổ chức “quốc lễ” tại khu vực Kinh đô cũ, mà trong cả nước, dân chúng đâu đâu cũng tổ chức (vì làng nào cũng có chùa thờ Phật).

Ngày giỗ của một số vị thần khác cũng được tổ chức quốc lễ và tổ chức trong dân chúng như:

  • Ngày 3 tháng 3 âm lịch là ngày “hóa” của bà Hồng Đăng Ngàn (hay Mẫu Thượng Ngàn), cỗ cúng là bánh trôi bánh chay.
  • Ngày 5 tháng 5 âm lịch là ngày “hóa” của bà Âu Cơ (hay Mẫu Thoải), quốc lễ gọi là “đoan dương tiết” hay tết Đoan ngọ, cỗ cúng cũng bằng bánh trôi bánh chay.
  • Ngày rằm tháng 8 âm lịch là ngày sinh của Kinh Dương Vương, sau khi “hóa” được tôn là Ngọc Hoàng Thượng đế. Đêm hôm ấy có tổ chức rước đèn kéo quân của các cháu thiếu nhi để cầu mong Ngọc Hoàng Thượng đế lại được đầu thai xuống cõi trần.
  • Ngày 23 tháng chạp âm lịch mà dân gian gọi là “tết ông Công”, là căn cứ vào sự tích và quan niệm: Ngày 25 tháng chạp là ngày “hoá” của Kinh Dương Vương tức Ngọc Hoàng Thượng đế, mà Ngọc Hoàng Thượng đế là người cai quản bách thần. Vậy nên, ngày 23 là ngày các nơi trong cả nước “thỉnh” các vị Đức ông – Bản Cảnh thành hoàng của làng mình, để ngày 24 các vị tắm gội và ngày 25 các vị về chầu Ngọc Hoàng Thượng đế. (Được thể hiện trong câu ca dao: Hai ba là tết ông Công. Hai bốn tắm gội, hai lăm về chầu).

Hai ngày 4 tháng 4 và 4 tháng 7 (âm lịch) tại các đền thờ ở tổng Đại Lôi và trong cả nước có tổ chức lễ “vào hè”, “ra hè” để cúng ôn, bộ đạo lộ thần quan mà trong đó các vị quan ôn quan bộ chính là các vị Lạc hầu Lạc tướng ở thời dựng nước.

Sở Minh Công (cha của Đế Minh, ông của Kinh Dương Vương) có công chuyển hướng lúa nương sang lúa nước, dệt the, nếm thảo dược nên được dân chúng suy tôn là vua Thần Nông, đại diện cho các vị vua Thần Nông ở các đời trước (xem lại chương II). Các ngày lễ của vua Thần Nông trong một năm vừa được tiến hành quốc lễ vừa được tiến hành trong dân chúng, như:

Mồng 1 tháng 6 (âm lịch): ngày sinh vua Thần Nông, là lễ hạ điền.

Khi cày cấy xong (tuỳ theo từng nơi): lễ thượng điền.

Và ngày 10 tháng 10 (âm lịch) gọi là “lễ thường tân” là ngày mất của vua Thần Nông.

Chúng tôi điểm qua một số ngày “giỗ chung” trong một năm (âm lịch) như vậy để thấy rằng chúng đều có nguồn gốc xuất xứ từ bản địa, và đó chính là những ngày giỗ của các Đức quốc tổ và cũng là của các Anh hùng văn hoá của dân tộc đã có từ thời dựng nước. Do chỗ từ khi ghi chép và soạn thảo đến nay, Bách Việt triệu tổ cổ lục chỉ lưu hành giữa các đời tộc trưởng họ Nguyễn ở tổng Đại Lôi, chứ không truyền ra ngoài, nên trong dân chúng rộng rãi, kể cả nhiều nhà nghiên cứu, đã lầm tưởng rằng chúng (các ngày lễ) có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc hoặc mới có niên đại từ thời Trần, thời Lê, hoặc thời Nguyễn.

Trong các lễ tiết, lễ hội hàng năm có xuất xứ từ thời Bách Việt và các vua Hùng, thời Hai Bà Trưng và thể chế hoá từ thời Đinh được tổ chức ở vùng tổng Đại Lôi cũ, có thể kể đến các hình thức văn hóa – nghi lễ như sau:

  • Lễ rước nước: lấy nước về làm lễ mộc dục, đã dẫn ở chương II.
  • Hát chầu văn, trống quân… trên 9 chiếc thuyền ghép lại trên một khúc sông Hát ở trước đền Thượng vào tháng 8 (âm lịch) đã dẫn và giải thích ở chương I.
  • Đua thuyền dọc theo sông Hát. Bến đích là bến ngự để vua quan xem (khu vực đình làng Quang Lãm thuộc xã Phú Lãm ngày nay).
  • Đấu vật ở dưới sông Hát, trên 9 chiếc thuyền ghép lại, trên thuyền có ván ghép. Người xem đứng trên bờ.
  • Đấu roi, đánh cờ: ở các tụ điểm dân chúng vui chơi, như chợ, cửa đền, cửa chùa trong vùng Đại Lôi.
  • Rước đèn kéo quân (vào rằm tháng 8 âm lịch) từ các làng trong tổng Đại Lôi kéo đến khu vực trung tâm (đền Thượng – ở giữa Văn Nội và Quang Lãm hiện nay). Làm đèn nhất thiết phải có (theo thứ tự): một đèn con cóc (“cậu ông trời” tượng trưng có các vị “Kim Cương” – cậu của Kinh Dương Vương) bằng giấy trong thắp nến, do một vị cao tuổi có đức hạnh vác đi đầu. Tiếp đến là đèn con cò (“Bạch Hạc” – tượng trưng cho vùng đất Kinh đô ở thời dựng nước có nhiều cò trắng đến đậu) cũng do một vị cao tuổi có đức hạnh vác. Tiếp đến nữa là các loại đèn xếp, đèn kéo quân, đèn con cá v.v… của các cháu thiếu nhi. Các làng rước đi khắp các nơi trong vùng, rồi quay về “Hát Môn” (cũng là cửa đền Thượng) ở đấy được chăng đèn kết hoa lộng lẫy, để xem hát chầu văn, trống quân và các trò vui trên 9 chiếc thuyền ghép. “Hát Môn” ở trên bãi “Trường Sa Châu”, có “bến ong” (hay Phong Châu), đấy là nơi ngày xưa Hai Bà Trưng làm lễ tế cờ trước khi đánh Tô Định. Một trong những ý nghĩa của rước đèn kéo quân là “kéo quân” (quân các nơi về) từ thời ấy, đồng thời cũng là sự thể hiện tâm nguyện của dân chúng các thời: cầu mong Ngọc Hoàng Thượng đế lại được mau chóng tái thế.

Từ thời Đinh, vào các ngày giỗ chính ở tổng Đại Lôi, người người khắp nơi trong nước kéo về (có quy định đón tiếp bằng văn bản, còn “kinh phí” thì lấy từ số ruộng đất 2.400 mẫu, được chia ra: ruộng mã, ruộng lễ, ruộng chiếu v.v…), nên ở đây có hai khu gọi là “bãi Hoan châu” và “bãi Ái châu”. Bãi Hoan châu (ở khu tập thể trường Cao đẳng Thương Mại Trung ương hiện nay) để người trong nước gặp gỡ, tìm họ hàng nên có tổ chức hát “quan họ”, do vậy, cũng là nơi trai gái các nơi được tìm hiểu nhau theo nguyên tắc “đồng thuận”. Còn bãi Ái châu (khu vực chợ Sốm và nghĩa trang liệt sĩ xã Phũ Lãm hiện nay) là để những cặp “đồng thuận” có quan hệ như vợ chồng, được luật lệ bảo vệ lại được cấp chiếu (từ những gia đình cấy ruộng “tịch điền” tức là ruộng chiếu) để rải nằm và chống rét. Luật lệ chỉ nghiêm cấm những trường hợp “cưỡng bức”, nhưng thời gian “đồng thuận” ấy tối đa không quá 7 ngày.

Có thể khẳng định, đây chính là một “tàn dư”, “vang bóng” của thời “Cực Lạc” (ở chân núi Ba Vì) còn được bảo lưu lại một phần trong dịp lễ hội với ý nghĩa cầu mong sự phồn thực của con người, cây trồng, vật nuôi. Và “tục lệ” này cũng lại là tiền đề của tục “rã La” có từ thời Lý ở khu vực tổng Đại La, và ở một vài làng khác, như Toan Ánh đã chép trong Nếp cũ hội hè đình đám, quyển hạ.

Cũng từ thời Đinh, ở khu vực chợ Bắc Ninh (ở cửa đình làng Văn Nội hiện nay) có tục gọi hồn người chết vào các dịp lễ hội lớn hàng năm, được tổ chức vào ban đêm. Ai muốn gọi hồn người thân đã khuất thì phải nhờ ông đồng bà đồng đánh “đồng thiếp” và làm người trung gian, rồi từ đó sẽ hỏi han, chuyện trò với người quá cố… Chợ, do vậy, còn có tên là chợ “âm phủ”.

Tục chọi trâu được tổ chức ở khu vực đền Hạ, sau đó con trâu thắng cuộc sẽ được tế thần, nhưng dùng “nỏ thần” (ở Thành Ốc cũ) để bắn hạ.

v…

Sau thời gian khu vực “Nam thiên thất thập nhị từ” bị thực dân Pháp triệt phá (vào cuối đời Thành Thái, 1907), các ngôi đền ở đây được dỡ đi, chuyển cho nhiều làng ở nhiều địa phương, nhưng chủ yếu là các tỉnh gần Hà Đông cũ. Các tục lệ (kể trên) theo nghi lễ, cũng chuyển cho các làng được nhận các ngôi đền này, và việc ấy do Hội đồng tộc biểu toàn quốc bàn soạn và quyết định. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa tất cả các đền đài và các lễ hội ở các địa phương khác là có xuất xứ từ vùng tổng Đại Lôi cũ chuyển đến. Trên thực tế, ở cùng thời điểm với tổng Đại Lôi, thì tại nhiều địa phương, công việc thờ cúng và làm đền đài cũng được tiến hành, nhưng theo danh sách các vị thần đã kể (ở đoạn trên), thì ở Đại Lôi mới là nơi thờ chính, còn các nơi khác chỉ là thờ vọng. Chúng tôi sẽ liệt kê tỉ mỉ sự di chuyển và hiện tượng thờ cúng này trong một công trình khác, vì trên thực tế danh sách đã rất dài, còn ở đây chỉ xin nhấn mạnh rằng: làm đền đài và thể thức tế lễ, rước sách… ngày xưa là một công việc rất hệ trọng, ở Kinh đô thì do nhà vua và bộ Lễ quy định, còn ở các địa phương, sự quy định của triều đình chỉ là thể chế chung, còn cụ thể ra sao thì lại do Hội đồng tộc biểu (toàn quốc và tỉnh) ấn định. Và như chúng tôi đã nói ở đoạn trước: ngoài những vị thần sáng nghiệp, mở đầu cho vận hội và cơ đồ của dân tộc và các vị có công đối với đất nước được thờ ở vùng Kinh đô thời Bách Việt và các vua Hùng, thì ở các địa phương, các anh hùng, danh tướng, các vị khai sơn phá thạch một vùng đất mới, các vị tổ nghề v.v, tức là những người có công với dân với nước ở các đời sau, cũng được tôn làm thần Thành hoàng làng, và đó là một hiện tượng phổ biến, nhất là từ thời Lê sơ trở đi, như ngày nay khi đọc các thần tích thần phả và xem kiểu kiến trúc của các đình, đền, còn cho thấy.

Vì là một hiện tượng nảy sinh có tính chất đồng loạt theo một chủ trương thống nhất của các nhà nước thời phong kiến, cho nên từ quy cách làm đình, đền đến trang trí nội thất, đồ tự khí và các nghi thức tế lễ, rước sách… ở các địa phương là có sự giống nhau, gần như tuyệt đối: mỗi vị thần Thành hoàng là một vị “vua” về mặt tâm linh (phần lớn các vị đều có sắc phong “Đại Vương”) ở địa phương, còn đình, đền là một triều đình thu nhỏ của vị “vua” đó, và các nghi thức tế lễ, rước sách… dành cho thần thì cũng là phiên bản của các nghi thức tế lễ, rước sách đã dành cho “vua”.

Tuy nhiên, trên thực tế có xảy ra như vậy, nhưng trong tâm thức của mỗi người dân bình thường khi đến lễ hội, lại không hoàn toàn bị ràng buộc bởi quan hệ vua – tôi, mà bao trùm hơn, qua những gì họ chứng kiến, lại là cảm thức về sự “đền ơn đáp nghĩa”, “có trước có sau” của con người – vốn là một vấn đề thuộc nền tảng cho sự phát triển của xã hội. Hơn nữa, đến lễ hội, còn là nơi mọi người gặp gỡ, trao đổi tâm tình, và thưởng thức nhiều khi đến “hết mình” những trò vui chơi dân dã nữa. Đấy là còn chưa kể, trong chiều sâu tâm thức của nhiều người, những ước mơ nguyện vọng tích tụ qua năm tháng sẽ có cơ hội tìm thấy lời giải đáp khi họ được trực tiếp giao cảm, tiếp xúc với thần linh. Và bao trùm hơn, khi tổ chức lễ hội, thì ở bất cứ địa phương nào dù thờ thần là anh hùng cứu quốc hay anh hùng văn hoá, cũng đều có chung một nguyện vọng – ấy là cầu mong sao cho mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, tránh được thiên tai, hạn hán, lụt lội, sâu bệnh… dưới sự bảo trợ của Thần! Và tâm nguyện chung ấy, được thể hiện hầu như thống nhất trong các lễ hội qua các nghi lễ, lễ vật, lời khấn cầu, và qua hàng loạt những hiện vật mang tính biểu tượng như trống, chiêng, cờ, kiệu, rồng… mà ở lễ hội nào cũng có. Chính đặc điểm ấy nói lên tính chất nông nghiệp và sự trường tồn của lễ hội nước ta, dù ngay cả ở trường hợp các vị thần được thờ không chính thức là thần nông nghiệp.


CHƯƠNG IV
BẢN SẮC VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT THỂ HIỆN TRONG CÁC LỄ TIẾT VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN CỔ TRUYỀN

Tâm thức dân gian về đấtnước và về quê hương đất nước thể hiện bản sắc văn hóa người Việt được thể hiện rất rõ trong các lễ hạ điền, thượng điền và cơm mới có nguồn gốc từ thời Sở Minh Công hay còn gọi là thời vua Thần nông, xảy ra trước thời Hùng Vương thứ nhất đến 6 đời (theo Bách Việt triệu tổ cổ lục), tiếp đến là những lễ tiết khác trong năm rồi các cuộc tế lễ, rước cầu đảo (cầu mưa) mỗi khi có hạn hán kéo dài, xảy ra ở nhiều địa phương trong thời phong kiến và cuối cùng là các lễ hội như đang diễn ra hiện nay.

Lễ hạ điền (bắt đầu cấy lúa) hầu như được tổ chức thống nhất trong cả nước vào ngày 1 tháng 6 âm lịch, đó cũng là ngày sinh của vua Thần Nông (theo Bách Việt triệu tổ cổ lục). Trên thực tế, tại mỗi địa phương, thậm chí tại mỗi gia đình trong một địa phương, thời gian người ta chuẩn bị các điều kiện cho việc cấy lúa (làm đất, bón phân lót, lấy nước vào ruộng) là không giống nhau, thế nhưng khi cấy cây mạ xuống thì lại phải có sự thống nhất: sau lễ hạ điền. Có thể nói, đây chính là yếu tố mùa vụ đã được thể thế hoá vào trong một lễ tiết, và để có được lễ tiết này, ngay từ thuở xa xưa, tổ tiên ta đã phải quan sát, rút kinh nghiệm từ rất nhiều hiện tượng và chu kỳ khí hậu, thời tiết. Điều đó nói lên mối quan hệ gắn bó của con người với mảnh đất và môi trường tự nhiên mà họ đang sinh sống. Hơn nữa, tổ chức lễ hạ điền cũng vào đúng ngày sinh của vua Thần Nông, thì đó còn là một cách thiết thực để người dân nhớ về vị tổ – người đầu tiên đưa đến cho họ một nghề nghiệp mới, hay chính xác hơn, là một thời đại mới – thời đại của việc cấy trồng cây lúa nước!

Lễ thượng điền (cấy lúa xong), khác với lễ hạ điền, không quy định ngày tháng rõ rệt. Đó là vì căn cứ từ thực tế: có làng nhiều ruộng, có làng ít ruộng, vậy nên thời điểm hoàn thành việc cấy lúa là không giống nhau. Thường tình, có thể xem lễ thượng điền như một cuộc liên hoan sau khi mọi người đã hoàn thành một công việc nặng nhọc. Tuy nhiên, với người dân, thì đây còn là một thời điểm quan trọng, vậy nên lễ thượng điền có thể được hiểu như một cuộc bàn giao trong tâm thức của con người đối với thần linh (thổ thần, thuỷ thần và vua Thần Nông): Đấy, bao nhiêu công sức con cháu bỏ ra, bây giờ sẽ “nhờ cậy” vào sự “phù hộ độ trì” của các vị để mùa màng khỏi thất bát! Đương nhiên, sau đó, mọi người còn phải ra đồng để làm cỏ, bón phân, tát nước…, nhưng một sự “nhờ cậy” như thế vào thần linh hẳn không phải là thừa trong tâm thức của người dân lúc bấy giờ.

Lễ cúng cơm mới được tổ chức vào đúng ngày “hoá” của vua Thần Nông (theo Bách Việt triệu tổ cổ lục), 10 tháng 10 âm lịch. Điều này thật có ý nghĩa vì nó thấm sâu đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của người dân nước ta.

Mấy chục năm gần đây, do bị hai yếu tố “năng suất” và “hàng hoá” chi phối, cho nên việc cấy cây lúa nếp ở mỗi gia đình và ở mỗi địa phương đã không trở thành một việc làm bắt buộc trong mỗi mùa vụ. Còn ở thời trước, dù giàu, dù nghèo thế nào miễn là có ruộng, thì mỗi gia đình đều dành riêng ra một khoảnh để cấy lúa nếp. Tại khoảnh ruộng cấy lúa nếp này, đến khi lúa vừa chín (vỏ hạt hãy còn xanh nhưng bên trong hạt đã chắc) thì người ta cắt lấy dăm bảy bó (nhiều ít là tuỳ mỗi gia đình), đem về làm “cốm”. Trước hết, người ta phải dùng đũa tuốt lúa ra khỏi bông, sau đó cho vào nồi luộc vừa chín tới, tiếp đến, đổ lúa ra phơi. Phơi xong (không cho già quá) đem vào say giã rồi giần sàng để trở thành những hạt cốm. Những hạt cốm này sẽ được đồ lên thành xôi, gọi là xôi cốm (vỏ hạt xôi hãy còn màu xanh), hoặc đem rang lên thành “bỏng”.

Thời trước, trong lễ cúng cơm mới tại mỗi gia đình và mỗi địa phương (cúng ở đình) ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, thì “xôi cốm” là một thứ không thể nào thiếu được. Đó là một tục lệ, được truyền lại từ thuở xa xưa, và rất có thể còn trước cả thời Bách Việt và các vua Hùng, vì ở vào thời đó, lúc đầu do nhu cầu sử dụng lương thực là trực tiếp lấy từ ruộng về, nên khi lúa vừa chín tới đã được thu hái rồi chế biến ngay, và như thế, một cách ngẫu nhiên tổ tiên ta đã phát hiện ra độ “ngon” của thứ lúa này!

Qua cách thức làm “cốm” để dâng cúng lên các vị thần bảo trợ và tổ tiên như vậy, lại một lần nữa cho thấy sự gắn bó của người dân nước ta với mảnh đất tự nhiên mà họ đang sinh sống, và hơn thế nữa, sự gắn bó ấy còn trở thành một nhu cầu tâm linh, thể hiện sâu sắc cái ý thức “ơn nghĩa” của mỗi người.

Trải thời gian, cùng với nhiều biến động lịch sử, mà “độ bảo lưu” của các cách thức thờ cúng các vị thần nông nghiệp kể trên tại mỗi địa phương, ít nhiều đều đã có những biến đổi, như học giả Phan Kế Bính đã viết trong Việt Nam phong tục:

“Các ngày ấy (hạ điền, thượng điền, trùng thập… – chúng tôi thêm vào) đều có lễ, tuỳ tục làng và tuỳ năm phong khiểm, hoặc dùng bò, lợn hoặc dùng gà, xôi, nơi thì tế, nơi thì lễ. Lễ thượng điền, hạ điền về làng nào có ruộng mới tế lễ, mà nhiều làng chỉ tế lễ vào ngày hạ điền mà thôi. Lễ ấy có làng tế Phúc thần có làng chỉ lễ thần Tiên nông. Tục thường kén một ông bô lão hiền lành phúc hậu mà hai vợ chồng còn song toàn để làm lễ hạ điền. Nghĩa là ông ấy phải xuống cấy vài nắm mạ trước, rồi từ đó trở đi cả xã mới cấy” (9/83).

Đoạn ghi chép trên đây của cụ Phan nằm trong mục “Việc tế tự” trong phần “Nói về phong tục hương đảng”, còn ở phần “Nói về phong tục trong gia tộc” trong mục “Tứ thời tiết lập”, không thấy cụ nhắc đến “lễ hạ điền và thượng điền” mà theo sự tìm hiểu của chúng tôi, hai lễ này ở mỗi gia đình trước kia đều có chứ chẳng cứ gì ở làng (xã). Còn về lễ hạ điền của các làng (xã), thì tục lệ diễn ra đúng như cụ Phan đã viết, nhưng ở đoạn sau cần được bổ sung vào cho đầy đủ hơn. Ấy là việc sau khi tiến hành nghi lễ (cúng hoặc tế) hạ điền ở trong đình ra, thì dân làng tập trung ở xung quanh đám ruộng trước cửa đình để xem một cụ bô lão hiền lành phúc hậu (do làng chọn) hoặc một số vị đương cai, thường là 4 vị (cũng do làng chọn) cấy những dảnh mạ đầu tiên trong năm đó (ngày trước phần lớn chỉ cấy một vụ).

Khoảnh ruộng trước cửa đình này đã được chuẩn bị từ trước (cày bừa, tát nước…), ở giữa có cắm một cây nêu là một cây tre tươi to còn để ngọn và buộc thêm giấy ngũ sắc, dưới gốc nêu có một vòng phên thưa rộng hơn miệng một cái nong. Mạ được nhổ lên mang đến từ trước. Cụ bô lão hoặc 4 vị đương cai bước vào trong vòng phên, cấy những dảnh mạ xuống. Cấy xong thì bước ra ngoài, rửa ráy chân tay. Một số nơi còn đặt ra lệ: sau khi cấy xong các vị đương cai còn phải lấy bùn ném vào nhau cho thật lấm bẩn mới thôi.

Cây nêu và vòng phên sau đó vẫn được giữ nguyên trạng, đến khi bắt đầu gặt hái mới được hạ xuống. Lúc ấy, ông Trương tuần đem một lễ vào khấn ở trong đình, sau đó trở ra thì hạ cây nêu xuống. Đấy cũng là dấu hiệu để cả làng bắt tay vào gặt hái, còn nếu ai gặt hái trước khi hạ cây nêu thì đều bị coi là vi phạm luật lệ, và phải nộp phạt. Đây có thể được xem là một biện pháp bảo vệ mùa màng hữu hiệu chung của các làng (xã) thời trước…

Ngoài ba lễ hạ điền, thượng điền và cơm mới vừa kể, trong nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ nói riêng và cả nước nói chung, từ trước đến nay còn có các lễ 3 tháng 3, 5 tháng 5, rằm tháng 7 và rằm tháng 8 (âm lịch), ít nhiều đều có liên quan tới nông nghiệp, tức là ít nhiều đều thể hiện mối liên hệ của người dân với môi trường mà họ đang sinh sống, và cả sự ghi nhớ công ơn của tổ tiên nữa.

° Tết mồng 3 tháng 3 còn được gọi là tết “trùng tam”, mà lễ vật chủ yếu trong ngày hôm ấy mọi gia đình đều cúng là bằng bánh trôi bánh chay đã để nguội. Nhiều người, kể cả các học giả thời trước (như cụ Phan Kế Bính) đều cho rằng tết này có nguồn gốc từ Tàu ở thời Xuân Thu với tích Giới Tử Thôi cắt thịt đùi cho vua Tấn Văn Công ăn, về sau không được báo đáp, đã đem theo mẹ vào ổ trong rừng. Sau đó Tấn Văn Công hối hận, cho người đi tìm nhưng Giới không ra, Văn Công sai đốt rừng, Giới vẫn không ra, nên cuối cùng bị chết cháy…

Tích truyện nghe có vẻ hợp với phong tục, tuy nhiên, khi đem áp dụng vào nước ta, thì lại là gán ghép.

Nguyên ngày 3 tháng 3 ở nước ta, thời dựng nước, là ngày “hoá” của bà Hồng Đăng Ngàn tức bà Xích hậu, vợ của Kinh Dương Vương, nguyên là con gái của Động Đình Quân ở vùng Động Đình Hồ, lấy Kinh Dương Vương khi Ngài đi đánh giặc Ma Mạc.

Theo Bách Việt triệu tổ cổ lục, bà Xích hậu là người đã dạy dân nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt the lụa, sồi đũi, vì vậy, sau khi bà “hóa” được các đời sau suy tôn là “Mẫu Thượng Ngàn”, “Bà Chúa Tằm” hay “Bà Chúa Lĩnh”.

Về nghề chăn tằm dệt lụa, nhất là chăn tằm, như nhiều người biết nhiều khi phải quên ăn mất ngủ (“Làm ruộng ăn cơm nằm, chăn tằm ăn cơm đứng” – tục ngữ), cơm canh thường để nguội, vì lúc ăn thì đã quá bữa rồi. Do vậy, trong dân chúng các đời sau, đến ngày giỗ của Bà đã lấy bánh trôi bánh chay để nguội để cúng, là một cách tưởng nhớ vừa thiết thực lại vừa mang đầy ý nghĩa nhân văn và văn hoá.

° Tết mồng 5 tháng 5 hay còn gọi là tết Đoan ngọ. Trong tết này có mấy tục lệ đáng ghi nhớ: trẻ con nhuộm móng chân móng tay, sáng sớm mọi người ăn hoa quả gọi là “giết sâu bọ”, còn trưa chiều thì ăn bánh trôi bánh chay, ngoài ra còn có tục lệ hái các loại lá vào lúc chính ngọ (giữa trưa), để về sau dùng làm lá nấu nước uống…

Theo học giả Phan Kế Bính thì tục hái lá là lấy từ tích Lưu Thần, Nguyễn Triệu ở đời Tấn, ngày 5 tháng 5 vào rừng Thiên Thai hái thuốc gặp tiên, còn tục làm bánh trôi là để kỷ niệm Khuất Nguyên ở thời Xuân Thu, vì can ngăn vua Sở Hoài Vương không được đã ôm đá nhảy xuống sông Mịch La tự vẫn, vào ngày 5 tháng 5.

Cũng giống như tích Giới Tử Thôi vào ngày 3 tháng 3, hai tích kể trên vào ngày 5 tháng 5, cũng vẫn là cách giải thích ngoại lai và gán ghép. Theo Bách Việt triệu tổ cổ lục, thì ngày 5 tháng 5 là ngày “hoá” của bà Âu Cơ, vợ của Lạc Long Quân, bà “là người hiền đức kế nghiệp mẹ chồng (bà Xích Hậu) dạy dân nghề chăn tằm dệt vải”. Bà được các đời sau suy tôn là “Mẫu Thoải”, “bà Chúa Lính” – vì “sinh thời Bà thường chăm sóc cho các gia đình binh lính” tức là các gia đình có người thân theo Lạc Long Quân đi diệt trừ các loài thủy quái gây hại. Do vậy, việc dùng bánh trôi bánh chay – một thứ thức ăn nguội để cúng trong ngày giỗ của Bà thì cũng giống như đã cúng “Mẫu Thượng Ngàn”, tưởng cũng không có gì khó hiểu. Hơn nữa, nếu tính về thời gian giữa lễ “vào hè” (ngày 4 tháng 4) và “ra hè” (vào ngày 4 tháng 7), thì lễ cúng bánh trôi và các thức ăn ngọt vào giữa hè với người ở xứ nóng như nước ta, hẳn cũng là hợp khẩu vị, và do vậy hợp lý, chứ sao lại bảo là từ tích Khuất Nguyên ở xứ ôn và lạnh bên Tàu?

Còn việc trẻ con nhuộm móng chân móng tay vào ngày này, thì hẳn cũng không xa lạ với tục “săm mình”, “nhuộm răng” của người nước ta mà nhiều sách vở đã đề cập đến, cũng ở thời điểm ấy. Và tục lệ “hái lá” để dùng làm nước uống, thì đã có từ trước thời Lạc Long Quân – Âu Cơ, như còn ghi trong Bách Việt triệu tổ cổ lục: Sở Minh Công (vua Thần Nông) thường “nếm cây thảo dược làm thuốc chữa bệnh”.

° Rằm tháng 7 còn gọi là tết Trung nguyên, hay là ngày “xá tội vong nhân” như nhiều người nói, là lấy tích từ Đạo Phật với việc ngài Mục Liên nghe lời Phật dạy, đã sắm sửa hoa thơm quả ngọt để vào chiếc chậu Vu Lan mang đến cúng dâng chư tăng, để từ đó cứu được mẹ già thoát khỏi cảnh bị quỷ sứ hành hạ.

Tuy nhiên, theo Bách Việt triệu tổ cổ lục thì rằm tháng 7 là ngày “hoá” của Hương Vân Cái Bồ Tát, người khởi xướng việc tu hành đạo Sa môn. Còn trong kinh Khâm thiên giải ách Ngọc Hoàng cốt tuỷ thì mở đầu là lời bạch đức Hương Vân Cái Bồ Tát, sau đó mới bạch đến các đức Phật khác…

Vì rằm tháng 7 là ngày “hoá” của Hương Vân Cái Bồ Tát, nên dân gian mới quan niệm đấy là ngày đức Bồ Tát xuống âm phủ xá tội cho các linh hồn tội lỗi, để các linh hồn ấy đều được trở về cõi Phật. Theo nhận xét của chúng tôi, quan niệm này “nhân bản” và “toàn diện” hơn câu chuyện Mục Liên mà mọi người hay nhắc, vì đằng sau câu chuyện ấy, đã ngụ ý rằng việc mọi nhà cúng vào rằm tháng 7 chỉ là một hành vi “bắt chước” người nước ngoài mà thôi. Cúng rằm tháng 7 tưởng nhớ Hương Vân Cái Bồ Tát, theo như quan niệm được rút ra từ Bách Việt triệu tổ cổ lục, rõ ràng cho thấy cảm thức tôn giáo của người dân nước ta đã thể hiện lòng nhân ái và chủ trương nhân đạo một cách rất cơ bản.

Rằm tháng 8 còn gọi là tết Trung thu hay tết của trẻ em. Về tết này, trong Việt Nam phong tục tác giả Phan Kế Bính có nêu một vài giả thiết, như cho rằng treo đèn bày cỗ là do điển tích Đường Minh Hoàng tổ chức lễ sinh nhật, rước đèn cá chép là có từ đời Tống với tích Bao Công trừ yêu tinh, v.v…

Tuy nhiên, vì chính cụ cũng không tin cho lắm, nên mới đặt thành giả thiết như thế. Còn trong Bách Việt triệu tổ cổ lục thì rằm tháng 8 là ngày sinh của Kinh Dương Vương tức Ngọc Hoàng Thượng đế. Việc tổ chức rước đèn kéo quân, như chúng tôi đã trình bày ở chương III, là để nhớ về ngày tụ nghĩa đánh giặc Tô Định ở thời Hai Bà Trưng, nhưng sâu xa hơn, với việc rước đèn con cóc (tượng trưng cho Bát bộ Kim Cương tức là ngụ ý các cậu đi đón cháu) đi đầu, lại là để cầu mong Kinh Dương Vương, người mà theo quan niệm dân gian, sau khi “hóa”đã trở về cõi trời làm Ngọc Hoàng Thượng đế, sẽ được đầu thai xuống cõi trần.

Việc để cho các cháu thiếu nhi rước đèn vui chơi trong dịp này, tức là thể hiện một sự đón rước, và đồng thời là một sự mong đợi, rằng trong cuộc đời hiện tại, sẽ có ngày lại được đón một vị Ngọc Hoàng Thượng đế tái thế.

Ngoài ra, với việc tổ chức tết rằm tháng 8, còn là một dịp để mọi người cùng nhau ngắm trăng, vừa để thưởng thức một vẻ đẹp tự nhiên diệu kỳ nhưng đồng thời cũng còn là một cách dự đoán về khí tượng thời tiết, xem trong năm đó sẽ lụt lội hay hạn hán thế nào, để từ đó mà chủ động đề phòng, vì ở thời điểm này cây lúa cũng đang ở thì con gái…

Ngoài những lễ tiết trong năm kể trên, còn phải kể đến lễ tiết vào đầu năm mới tức tết Nguyên Đán. Tuy nhiên, lễ tết này chủ yếu mang tính chất gia tộc (thờ cúng tổ tiên) và một số quan hệ xã hội cơ bản (“mồng một ăn tết nhà, mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy”), còn sự chúc tụng nhau trong dịp này thể hiện tình thân trong quan hệ thân tộc, cộng đồng làng xã…

°°°

Vì cây lúa là thứ cây lương thực chính, cho nên đối với người dân nước ta kể từ thời Việt cổ trở đi, nỗi lo về sự lụt lội hay hạn hán, bao giờ cũng là nỗi lo thường trực nhất. Đối với lũ lụt xảy ra đột ngột mà con người bất khả kháng, thì lúc đó người dân chỉ còn cách dìu díu nhau mau mau xa chạy cao bay đến những chỗ cao ráo cho thoát thân, và đem theo được một vài thứ thiết yếu nhất… Lúc ấy, trong lòng mọi người đều đã rối bời, nên chẳng còn ai nghĩ đến việc phải tổ chức lễ cầu đảo để cho mưa ngừng, nước rút. Làm công việc này, lúc ấy, hoạ chăng chỉ còn những vị tu hành, đã tụng kinh niệm Phật trong các ngôi chùa, để cầu mong Trời Phật phù hộ độ trì, ngăn không cho các Thiên lôi, quỷ sứ giáng hoạ xuống…

Thế nhưng, đối với việc hạn hán, thì trong tâm thức dân gian lại có những phản ứng khác. Một mặt thì họ vẫn ra sức tát nước chống hạn, nhưng mặt khác họ lại tha thiết mong ngóng ngày đêm cốt sao có một trận mưa rào đổ xuống thật to, và đến khi ngay cả các nguồn nước đã cạn kiệt thì nỗi mong ngóng lại càng trở nên da diết hơn, và chính cái tâm thức chung ấy đã tạo nên những cuộc tế lễ rước sách thật rầm rộ, còn lưu giữ trong ký ức của rất nhiều người, mặc dù hiện nay cái thời cầu đảo, rước sách ấy đã đi qua.

Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày khái quát về sự tích của các vị thần và sau đó là hai cuộc tế lễ và rước cầu đảo diễn ra ở vùng Thanh Oai (Hà Tây) từ thuở xa xưa cho đến trước thời điểm năm 1945. Có thể xem hai cuộc tế lễ và rước cầu đảo này là tiêu biểu cho cả vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, bởi quy mô “hoành tráng” và bởi thời gian tồn tại lâu dài, trong suốt nhiều thế kỷ của nó.

* Sự tích ông Cộc ông Dài, Thánh phụ Thánh mẫu được thờ ở đền hàng Tổng và việc tế lễ, rước cầu đảo ở đền này:

Thuở xưa, ở làng Đại Từ thuộc xã Lam Điền huyện Chương Mỹ (Hà Tây) bên bờ sông Đáy, có một chàng trai nghèo khó chuyên sống bằng nghề đánh giậm, đã đứng tuổi rồi mà vẫn còn vò võ một thân.

Trước đó, ở bãi Kim Bài thuộc Thanh Oai (Hà Tây) cách Đại Từ khoảng 5 cây số đường sông, có một nhánh nước của sông Đáy chảy ra, là nơi có nhiều tôm, cá, cua, ốc. Chàng trai từ Đại Từ xuống tận đây đánh giậm, rồi sau đó lấy được một bà cũng đứng tuổi như chàng, làm nghề mò cua bắt ốc. Hai ông bà dựa vào nhau mà sống rồi làm tạm một cái lều lợp bằng lá sen, và họ không có con cái gì, nên mọi người gọi là “ông Bõ bà Bõ”.

Một hôm ông đi đánh giậm, ba lần liền nhặt được một đôi trứng rắn, cho là sự lạ, bèn đem về nhà ấp ủ. Mấy ngày sau đôi trứng nở thành đôi rắn, rồi được chăm sóc, đôi rắn lớn dần, ngày đêm quấn quýt bên ông bà như con cái. Đôi rắn giúp cho hai ông bà đánh bắt được nhiều tôm, cá, cua, ốc. Cuộc sống khấm khá dần, họ vào làng Kim Bài xin đất làm nhà.

Một hôm ông đến nhà hàng xóm, hai chàng rắn đi theo, một chàng bị con chó dữ của gia chủ đớp mất khúc đuôi, nhưng sau đó, được hai ông bà chăm sóc nên đã tai qua nạn khỏi, từ đó hai chàng được gọi là “chàng Dài chàng Cộc”.

Một năm ở vùng Thanh Oai – Chương Mỹ có hạn hán kéo dài. Hai ông bà nhờ hai người con đi cầu xin vua Thuỷ Tề làm mưa. Sau đó, cả vùng được trận mưa to, nhưng hai chàng rắn lại bị sét đánh chết, xác một chàng ở bãi Kim Bài thuộc Thanh Oai, còn xác một chàng ở bãi Ó Vực thuộc Chương Mỹ (cách Kim Bài khoảng 4 cây số). Dân hai làng lập miếu thờ và hàng năm cúng giỗ.

Mấy năm sau ông Bõ bà Bõ già yếu rồi qua đời, được dân làng Kim Bài lập miếu thờ và cúng giỗ, nhưng một đêm mưa to gió lớn, ngôi mộ của ông Bõ lại trôi ngược lên làng Đại Từ, và dân làng này cũng lập miếu thờ, cúng giỗ.

Từ đấy hai ông bà và hai chàng rắn thường hiển ứng âm phù cho cả vùng này tai qua nạn khỏi mỗi khi hạn hán, lụt lội, sâu bệnh… Dân trong vùng gọi các vị là “ông Cộc ông Dài” và “Thánh phụ Thánh mẫu”, rồi lập một ngôi đền thờ chung, gọi là đền hàng Tổng, ở địa phận bãi Kim Bài cũ. Những năm hạn hán thường tổ chức tế lễ và rước cầu đảo từ đền này.

Vì Kim Bài sau đó thuộc vào đất tổng Phương Trung, nên ngôi đền này là ngôi đền chung của cả Tổng. Tổng Phương Trung có tất cả 9 làng (Cát Động, Kim Bài, Kim Lâm, Văn Quán, Kim Thành, Kim Châu, Đôn Thư, Ngọc Liên, Phương Trung) nhưng riêng Phương Trung đã là một làng lớn gồm 7 làng nhỏ (“nhất làng nhất xã”) nên trên thực tế phải kể là 16 làng. Ngoài ra, khi tế lễ, rước cầu đảo, còn có nhiều làng ở lân cận Tổng này cũng tham gia (như Ó Vực, Đại Từ, Phụ Chính, Yên Nhân, v.v…), nên con số chính thức là 20 làng.

Lễ chính ở đền hàng Tổng 5 năm mới tổ chức một lần, nhưng khi có hạn hán kéo dài thì không kể định lệ, tế lễ và rước cầu đảo sẽ được tổ chức và tiến hành ngay. Cách thức như sau:

  • Làng Phương Trung chuẩn bị một thuyền lớn, để đặt nhà, các kiệu cùng lễ vật lên trên, và tổ chức một đội kéo thuyền (ngược dòng nước).
  • Làng Đôn Thư làm một nhà nhỏ lợp bằng lá sen. Nhà sẽ được đặt trên thuyền.
  • Làng Văn Quán thì chuẩn bị dầu đèn, đuốc thắp đủ trong 3 đêm tế lễ.
  • Hai làng Kim Bài, Cát Động làm hình nhân “Thánh phụ Thánh mẫu” và “ông Cộc ông Dài”.
  • Hai làng Yên Nhân, Phụ Chính cử người đeo mặt nạ làm trò vui và một gánh hát.

Các kiệu mang lễ vật từ làng mình rước đến đền hàng Tổng, khi đã đông đủ, ông chủ tế làng Kim Bài và các bồi tế (ở các làng khác) bắt đầu tế lễ. Tế lễ xong rước bốn kiệu ra sông Đáy, cùng nhà lá sen và lễ vật đặt trên thuyền, kéo ngược lên Đại Từ. Trong suốt chặng đường đi, trống rung cờ mở và các trò mua vui, múa hát tưng bừng.

Khi thuyền kéo đến Đại Từ trước miếu ông Bõ thì dừng lại, làng Đại Từ ra đón. Ba bộ kiệu được rước lên, còn kiệu bà vẫn để trên thuyền. Tế lễ xong mới rước kiệu bà vào, rồi tế lễ tiếp.

Khi tế lễ xong ở miếu ông Bõ thì tất cả lại rước xuống thuyền, rồi theo dòng xuôi về Kim Bài, rước vào đền hàng Tổng, tế lễ tiếp. Xong đâu đấy các làng mới ra về. Trong những ngày này các miếu thờ riêng bốn vị cũng đều mở cửa, để dân các làng đến cúng lễ.

Nghe các cụ trong Tổng Phương Trung cũ kể lại, thì các vị thần ở đền hàng Tổng rất linh thiêng, hễ tế lễ, rước cầu đảo là đều có mưa. Nhiều khi mưa xảy ra ngay khi đang rước.

Có một thể lệ bất di bất dịch được coi như tục hèm trong khi tế lễ: Trước và sau khi đọc văn tế đều phải dùng khánh để thỉnh, và dùng gươm để cầu: cắm gươm xuống đất sâu hay nông bao nhiêu là xin lượng mưa nhiều hay ít bấy nhiêu.

°°°

Sự tích Đức Thánh Bối và tục lệ “tróc long”, rước cầu đảo ở chùa Bối Khê:

Đức thánh họ Nguyễn, người làng Bối Khê, sống ở thời Trần, khi tu hành có tên chữ là Bình An, tên hiệu là Đức Minh.

Ngài mồ côi cha mẹ, tám tuổi xuống chăn trâu cắt cỏ cho cậu ở làng Bùi Xá (cách Bối Khê khoảng 3 cây số) và có lòng hướng Phật từ đấy: mùa cạn thường tát các vũng nước đem tôm, cá ra sông Đỗ Động thả…

Năm 15 tuổi Ngài lên tu ở chùa Tràng An (thuộc Tiên Lữ trong vùng So – Sở thuộc Quốc Oai, Sơn Tây), được Thiền sư Phạm Cốc nhận làm đệ tử. Mười năm sau Ngài đến chùa Hương thụ giáo Long Vương, được truyền cho phép đảo vũ.

Năm Hưng Long thứ 15 (1307), trong nước đại hạn, vua Trần Anh Tông triệu Ngài về Kinh đô làm lễ đảo vũ, sau đó được trận mưa to, nhà vua tặng Ngài bốn chữ “Đức Minh chân nhân”.

Đang ở Kinh đô, nhận được tin Sư trưởng quy tiên, Ngài về chịu tang, đến bến đò Đồng Dương thì trời sẩm tối và có tiếng hổ gầm. Những người chờ đò hốt hoảng, Ngài liền đọc thần chú, tự nhiên có chiếc thuyền hiện ra, đưa mọi người sang sông…

Sau ba năm chịu tang thầy, Ngài về thăm quê, đến chỗ chôn cha mẹ, thắp hương niệm thần chú, tự nhiên một nấm đất to hình chữ nhật hiện ra.

Trở về chùa cũ, thấy dột nát Ngài cho hưng công xây dựng lại, gọi là chùa Trăm gian. Khi đang làm chùa, Ngài thường đi lại trên mái ngói mà không gây tiếng động. Một lần Ngài thổi niêu cơm nhỏ cho thợ, rồi bảo mọi người chờ để về Bối Khê (cách khoảng 20 cây số) xin cà. Chỉ thoáng chốc đã thấy Ngài biến lên tầng không, rồi một lát nữa lại hiện về, mang theo bát cà. Cơm, cà sau đó được bày ra đủ 100 mâm, mọi người ăn no, không hết.

Các bước chân của Ngài đi, về lấy cà, rải rác ở các làng từ Tiên Lữ (So,

Sở) xuống Bối Khê, đến nay vẫn còn, và được gọi là bước chân Đức Thánh Bối.

Lại có một quả cà đánh rơi ở làng Bình Đà, thành giếng nước, gọi là giếng Âm.

Năm 95 tuổi Ngài cho làm khám lớn rồi ngồi vào đấy mà “hoá”. Ba tuần sau (30 ngày) từ khám toả ra mùi thơm, các đệ tử liền báo cho dân các làng Tiên Lữ, Bối Khê. Hai làng này từ đấy kết nghĩa với nhau, cùng thờ chung Đức Thánh.

Cuối đời Trần, nhà vua cầu tự ở Tiên Lữ, sau Hoàng hậu sinh Hoàng tử, Ngài được phong là “Thượng đẳng tôn thần” và chùa được thăng lên hàng “Quốc tế”.

Cuối đời Hồ, giặc Minh sang chiếm nước ta, chúng giết hại dân lành, đốt phá chùa chiền, sách vở và triệt hạ nhiều công trình văn hoá. Song linh hồn Ngài hoá phép làm ra trận mưa máu, làm cho quân Minh ốm chết liểng xiểng. Bọn giặc tức giận xuống phá chùa Bối Khê, nhưng sau đó đã phải làm trả lại.

Vì khi sinh thời Đức Thánh Bối có nhiều thuật pháp thần thông, nên sau khi Ngài hoá, nhân dân vùng Thanh Oai thường đến chùa tế lễ rồi rước cầu đảo, mỗi khi xảy ra hạn hán kéo dài. Cách thức tiến hành như sau:

Trước hết, mở cửa chùa 3 ngày 3 đêm, nếu không mưa, thì đóng cửa chùa 1 ngày rồi lại mở tiếp. Nếu “quá tam ba bận” không mưa thì đắp 5 rồng (bằng rơm nhào bùn quanh khung tre rồi để khô, quét sơn 5 màu xanh, đỏ, trắng, vàng và đen, tượng trưng cho năm phương) ở trước cửa chùa, mỗi rồng chầu về một phương, con rồng ở giữa chầu ra trước chùa.

Đuôi rồng chụm ở khu giữa sân thì đặt lên cao, và đầu rồng ở các phương thì đặt chúc xuống. Ở miệng mỗi rồng có một vòi cắm vào niêu đất đựng nước, tượng trưng cho vòi rồng hút nước.

Ba ngày ba đêm liền, chức sắc và dân chúng các làng thay nhau đến tế lễ trước cửa chùa. Khi tế lễ có cử âm nhạc. Đến đêm thứ ba không mưa thì ông thầy Thống người làng Bối Khê phải khảo rồng (gọi là “tróc long”). Lúc ấy, trống phách gõ liên hồi, ông thầy Thống gọi tên từng “ông” rồng, rồi niệm thần chú, và hét thật to vào “ông” rồng điếc màu đen ở hướng bắc (tượng trưng cho nước), chứ không phải đánh hay chặt như có nhà nghiên cứu đã viết.

Sau đêm ấy, nếu vẫn không mưa, thì các đêm sau, dân 14 làng (gồm Đại Định, Bối Khê, Hưng Giáo, Văn Khê, Lê Dương, Tê Quả, Sinh Quả, Sinh Liên, Minh Kha, Bình Đà, Thượng Thanh, Linh Dương, Bùi Xá, Phượng Mỹ) và một số làng nữa (Đàn Viên, Thanh Thần, Cao Mật, My Dương, Nga My, Kim Bài, Cát Đông, Thạch Bích…) tổ chức rước cầu đảo.

Kiệu bát cống trên có đặt bài vị của Đức Thánh được rước khỏi làng Bối Khê, qua các làng Đại Định, Tê Quả,… đến Bình Đà, Thượng Thanh… tức là theo dấu chân đi, về lấy cà của Ngài… Đến Thượng Thanh quay lại lộ trình cũ.

Các nơi dừng lại để lễ là giếng Âm (Bình Đà) và chùa Thượng Thanh. Thời gian rước bắt đầu từ 3, 4 giờ chiều, đến nửa đêm mới về lại Bối Khê.

Thể lệ đặt ra: Khi đám rước đi đến làng nào thì làng ấy phải mang trầu nước ra mời, đèn đuốc ra tiếp viện và giữ an ninh trật tự. Ở các điểm tế lễ, chỉ dùng trầu nước chứ không tổ chức ăn uống. Các cụ trong các làng kể trên đến nay kể lại: Thường thì đang rước là có mưa rất to…

Qua hai cuộc tế lễ, rước cầu mưa kể trên có thể thấy sự sùng kính thần linh của người dân nước ta thời trước thiêng liêng đến mức nào. Tuy nhiên không nên xem đấy là thuộc về tâm lý trông chờ ỷ lại, mà chỉ do, khi sức lực con người đã rơi vào tình trạng bất khả kháng trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên thì cũng chỉ còn cách ấy mới mong cứu vãn tình thế, và từ đó, nếu nhìn ở khía cạnh nhân bản ta mới thấy và thông cảm được với nỗi lo của các thế hệ tổ tiên trước vận mệnh con người nói chung, và đó mới là điều thực đáng trân trọng. Và có thể nói, chính với sự gắn bó đến mức thiết tha, khắc khoải ấy của con người đối với môi trường sinh sống tự nhiên của mình, lại thêm một lần nữa giải thích và cắt nghĩa rõ hơn về điều mà ta gọi là sức sống hay sự trường tồn của dân tộc.

°°°

Như chúng tôi đã trình bày ở chương II: Khi đấtnước đã gắn bó với nhau để tạo thành một chỉnh thể (đất nước) và đi vào trong nhận thức của mỗi người dân, thì có thể nói, trong tâm tư tình cảm cũng như trong các hành vi biểu hiện ra bên ngoài của họ dường như đều đã được nhân lên gấp bội, và ta có thể gọi đó là tính liên hệ cộng đồng hay lòng yêu quê hương đất nước ở trong mỗi con người – thành viên xã hội. Ở mỗi làng (xã) mà phần lớn đều có mối liên hệ với thời Việt cổ tức là thời Bách Việt và các vua Hùng, tính liên hệ cộng đồng được thể hiện trong việc cả nước cùng nhau thờ cúng một Quốc tổ chung (đã dẫn ở chương I và II), và sau đó là mỗi làng thờ cúng một vị thần linh của làng (xã) mình (chương III). Quốc tổ của dân tộc chỉ có một còn các vị thần ở các làng (xã) thì có nhiều, nhưng dù là nhiên thần, thiên thần hay nhân thần, dù là anh hùng văn hoá hay anh hùng cứu quốc, thì chung quy niềm tin của người dân đặt vào, bao giờ cũng là cầu mong về một cuộc sống ấm no hạnh phúc, luôn luôn có mưa thuận gió hoà, tránh được giặc giã, hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh, được thể hiện trong tất cả các bài văn khấn trong tất cả các lễ hội của các làng (xã). Và không còn nghi ngờ gì nữa, chính đặc điểm này đã cắt nghĩa tính chất nông nghiệp của lễ hội tại các địa phương của nước ta, và giải thích về sức sống trường tồn của các lễ hội ấy (chương III).

Dù rằng trong lễ hội của các làng xã, những yếu tố “phong kiến” để lại còn tương đối nhiều, như trang trí nội thất và đồ tự khí trong các đình, đền và đặc điểm của các cuộc tế lễ, rước sách… thì trong nhận thức của con người ở thời hiện đại, cũng không nên căn cứ vào đó để xem thường quá khứ, bởi lẽ chính cái quá khứ ấy đã làm nên những chiến công chói ngời trong dựng nước, giữ nước, và vì vậy, vấn đề cần tìm hiểu và làm sáng tỏ ở đây sẽ không phải là những đặc điểm hình thức bên ngoài, mà là những đặc điểm và các mối liên hệ nội tại bên trong của các lễ hội.

Trước hết, phải kể đến các lễ vật dâng cúng lên thần mà ở đây, vừa là thần bảo trợ nhưng cũng vừa là tổ tiên chung, thì trong đó, có những thứ được chuẩn bị hết sức công phu với tất cả tấm lòng thành kính của người dân đặt vào trong khi thực hiện, như cách làm bánh, nấu chè có ở nhiều lễ hội mà nhiều người đã biết đến. Thứ nữa, là các đồ cúng lễ thông thường (như: xôi, gà, thịt lợn, oản, quả, v.v…) thì đó chính là những thức ăn ngon chỉ xuất hiện trong các bữa cỗ của người dân nước ta, vốn thi thoảng mới có, còn thường ngày thì họ ăn uống nói chung là đạm bạc. Ngoài ra, còn phải kể đến một số món ăn hết sức bình thường chứ không phải cao lương mỹ vị gì như cơm nắm muối vừng, cá kho, cà nấu… có ở một số lễ hội, để tưởng nhớ về vị thần của làng mình khi vị ấy còn tại thế.

Như vậy, nhìn chung qua các lễ vật dâng cúng, ta có thể nhận thấy sự chân thật, thành kính của người dân đối với các vị thần chẳng khác nào tấm lòng của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, và có thể coi đó là một hành vi ứng xử truyền thống mang đầy những giá trị văn hoá và nhân bản.

Tiếp nữa phải kể đến các trò vui chơi dân gian, rước sách dân gian có ở nhiều lễ hội, như đấu vật, kéo co, đánh phết, bắt vịt, bắt chạch, đua thuyền, rước đèn kéo quân v.v…, mà về ý nghĩa và tính chất, ta có thể nói là đã mang đậm cảm quan và tâm thức dân gian về tinh thần cố kết cộng đồng. Các trò vui chơi ấy chính là các hoạt động và lao động thường ngày của người dân đã được “trưng cất” lên bởi lễ hội…

°°°

Cuối cùng chúng tôi muốn đề cập tới các hiện vật thường gặp trong các đình đền, như trống, chiêng, cờ, kiệu, rồng… cùng cách thức bài trí, sử dụng chúng trong lễ hội, mà chúng tôi gọi là các biểu tượng của lễ hội. Vấn đề đặt ra ở đây là phải giải thích được tính chất, ý nghĩa cũng như vai trò không thể thiếu của các hiện vật ấy, trong các lễ hội…

Trống, chiêng, chuông, khánh, các loại nhạc cụ… Nhìn chung, đây là những nhạc khí trong lễ hội, tác động đến con người chủ yếu bằng âm thanh riêng biệt và bằng sự hoà âm giữa chúng.

Sự xuất hiện của trống, theo ý chúng tôi, là có từ nguyên lý: Khi người ta tác động (đánh) vào một vật thể rỗng nào đó thì vật thể ấy sẽ phát ra âm thanh. Vật thể rỗng càng lớn thì âm thanh phát ra sẽ càng to. Ngoài ra tính chất của âm thanh còn phụ thuộc cả vào chất liệu của vật thể nữa. Trước đây ở nhiều địa phương, chúng tôi còn thấy những chiếc mõ rất lớn, là cả một thân cây gỗ to, dài tới 2 mét, được khoét rỗng, để từ đó đánh vào làm tín hiệu cho dân làng. Những chiếc mõ bằng gỗ như thế, theo ý chúng tôi, chính là tiền đề, để từ đó người ta chế tạo ra các loại trống, kể từ trống đồng đến trống da, theo nguyên lý “đánh vào một vật thể rỗng”… Các quả chuông (ở một số nơi có) cũng được cấu tạo và sử dụng theo nguyên lý này. Những vật thể bằng đồng hoặc đá có độ mỏng đến một mức nào đó, khi gõ vào cũng phát ra âm thanh mang đặc trưng của đồng hay đá, và từ đó, những chiếc khánh đồng, khánh đá ra đời. Nhìn chung âm thanh của các thứ nhạc khí này phát ra không lớn, nhưng do độ rung rất trong của nó lại gợi lên một sự thành kính trong tâm trí con người, nên cũng được một vài nơi chế tác và sử dụng trong lễ hội. Ngoài ra, các nhạc cụ thuộc bộ trong lễ hội còn có các loại chiêng, đó là các miếng đồng dát mỏng có vành có núm, được treo lên để đánh vào, cùng với trống cái, hoặc các loại “chũm chọe” là hai miếng đồng dát mỏng có núm cầm để đánh vào nhau phụ hoạ với bộ trống tùng dinh, và làm bằng gỗ, khoét rỗng, dùng dùi đánh vào.

Các loại nhạc cụ trong lễ hội có thể kể: thuộc bộ kéo như nhị, hồ, thuộc bộ hơi như tù và, kèn, sáo, tiêu, thuộc bộ dây như các loại đàn tứ, đàn tranh…, thuộc bộ như phách.

Tuỳ theo từng lễ tiết trong lễ hội mà các loại nhạc cụ nói trên được sử dụng theo những cách thức khác nhau, như khi bắt đầu tế lễ thì dùng chiêng, trống (“khởi chinh cổ”), sau đó, khi dâng lễ thì sử dụng âm nhạc, hoặc khi đi rước thì cũng khởi đầu bằng chiêng, trống, rồi đến các đoạn dừng lại múa sinh tiền, thì tấu nhạc v.v…

Nhìn chung, trong các lễ hội của nước ta hiện nay, trống cái (cấu tạo bằng da, gỗ) là thứ nhạc khí cơ bản nhất, âm thanh phát ra lớn nhất, và được sử dụng nhiều nhất, từ lúc bắt đầu hội họp dân làng chuẩn bị mở lễ hội, đến khi tế lễ, rước sách và cổ vũ các trò vui chơi… nhất nhất đều phải dùng đến trống cái.

Có nhiều người bảo xuất xứ của trống cái và các loại trống nói chung của ta là từ trống trận của Tàu, điều này, theo chúng tôi, vị tất đã cho là đúng. Câu hỏi đặt ra: chẳng lẽ nước ta từ xa xưa là xứ nóng nuôi trâu, dùng trâu để kéo cày và dùng cả trâu vào việc tế lễ, khao thưởng…, lại không biết sử dụng da trâu để làm trống hay sao? Theo ý chúng tôi, trống cái của ta chính là vật thay thế cho trống đồng ở thời sơ sử (hiện vật ngày nay còn đào thấy được) mà do gần nghìn năm Bắc thuộc, đã bị mai một đi (bị cướp phá, nên số còn lại phải đem chôn giấu).

Về ý nghĩa của tiếng trống, như nhiều nhà nghiên cứu đã viết, là sự mô phỏng của tiếng sấm, và đánh trống trong các lễ hội chính là một hình thức cầu mùa, cầu mưa của người dân nước ta, muốn gửi “thông điệp” đến các vị thần ở nơi “thượng giới”. Điều này cũng giống như sách Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới đã viết: “Sấm là biểu hiện chủ yếu của các vị thần trên trời. Các vị thần Sấm là chúa tể của mưa, và cũng là của các loài cây cối (27/807)”, và như vậy tức là hoàn toàn phù hợp với tâm thức của người dân nước ta muốn dùng tiếng trống để thỉnh cầu thần sấm trong lễ hội cũng như trong các cuộc tế lễ, rước cầu đảo trước kia, kể cả tế lễ ở đàn Nam Giao của các vị Đế vương thuở trước. Do vậy, việc đặt tên cho vùng Kinh đô của thời Bách Việt và các vua Hùng là Sấm (sau đọc biến âm là Sốm), theo ý chúng tôi, là có liên quan đến việc dùng tiếng trống để cầu mưa này của người dân nước ta. Tiếp đến việc tôn vinh Kinh Dương Vương là Ngọc Hoàng Thượng đế hành hóa các hiện tượng tự nhiên mây, mưa, gió, sấm, chớp xuống cõi trần, và Lạc Long Quân là thần Sấm, thì theo ý chúng tôi, cũng vẫn là sự thể hiện tâm nguyện của dân chúng các thời về việc cầu mưa để có mùa màng bội thu của người dân nước ta vốn sinh sống là bằng sản xuất nông nghiệp.

Phụ hoạ với tiếng trống cái, còn là tiếng của các loại nhạc khí, nhạc cụ khác, như chiêng, chuông, khánh, đàn, sáo, nhị… như đã kể trên, và có thể coi như một bản hoà tấu gồm nhiều cung bậc để cầu mùa, cầu mưa của người dân nước ta, vốn lúc nào cũng khao khát khi gặp phải ông trời gây ra cảnh hạn hán…

Bản hoà tấu ấy, theo chúng tôi, cũng tương đồng đến một mức nào đó với bản hoà tấu của các loài ếch nhái mỗi khi có trời mưa và như vậy, suy ra mới thấy các cụ ngày xưa đã làm một việc thật là hữu lý.

Và các loại pháo được đốt trước kia, cũng là một hình thức cầu mưa nữa trong các lễ hội, tuy nhiên, sự thỉnh cầu này lại chứa đựng nhiều nỗi nguy hiểm bất thường, nên nhà nước đã ra lệnh cấm, và điều đó theo nhận xét của chúng tôi, là một chủ trương đúng, phù hợp với tâm thức con người vốn đã ở vào thời kỳ hiện đại.

Cờ: Trong lễ hội tại các làng (xã) ở châu thổ Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ nói riêng và cả nước nói chung, ta thấy có hai loại cờ: cờ thần hình vuông có diềm tua và cờ đuôi nheo cũng có diềm tua. Cờ đuôi nheo là một nửa của cờ hình vuông, được cắt theo đường chéo. Cả cờ vuông và cờ đuôi nheo, đều có năm màu: xanh, đỏ, vàng, trắng, đen. Cờ thần hình vuông ở chính giữa mang màu chủ, đường diềm xung quanh mang màu phụ, còn cờ đuôi nheo thì không có đường viền.

Câu hỏi đặt ra là: Tại sao các cờ trong lễ hội lại mang hình dáng và màu sắc như vậy? Chúng tôi cho rằng câu trả lời đã có từ xa xưa: Đất được con người của thời cổ đại quan niệm là mang hình vuông (“trời tròn đất vuông” trong sự tích Bánh chưng bánh dày“trời tròn đất vuông” cũng được ghi trong sách Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới), cho nên cờ mang hình vuông là tượng trưng cho đất. Sau đó, theo quan niệm ngũ hành, đất có năm phương là đông tây nam bắc và chính giữa, do vậy mà cờ cũng mang năm màu – mỗi màu tượng trưng cho một phương của đất. Đường viền ở xung quanh hình vuông, theo chúng tôi, vừa là trang trí, nhưng cũng vừa thể hiện sự chuyển tiếp giữa các phương. Còn diềm tua ở xung quanh (của cả hai thứ cờ) là thể hiện sự sinh sôi của đất, hay chính xác hơn, là sự sinh sôi phát triển của con người, cây trồng, vật nuôi sinh sống trên mặt đất. Tuy nhiên, nếu xét từ phương diện sự hình thành của lá cờ, ta còn thấy diềm tua ấy chính là dấu tích của thời còn dùng cành cây làm tín hiệu tập hợp nhiều người để đi săn hay làm một việc gì đó có tính chất tập thể trong thời cổ đại. Nguyên uỷ của lá cờ từ cành cây ấy, ta còn bắt gặp ở thời 12 sứ quân khi Đinh Bộ Lĩnh thời trẻ đã dùng nó để tập trận (gọi là “cờ lau tập trận”). Diềm tua, do vậy, chính là những chiếc lá vươn ra ngoài của cái cành cây – lá cờ nguyên thuỷ.

Cờ đuôi nheo – một nửa của cờ hình vuông, ở một vài lễ hội cũng được cắm xen kẽ vào giữa các cờ hình vuông, vậy có thể xem cờ đuôi nheo là để chỉ các hướng phụ, bên cạnh các hướng chính.

Tựu trung lại, từ hai loại cờ được cắm trong lễ hội đó ta đều có thể coi là biểu tượng của đất. Cờ bay trong gió biểu tượng cho sự phong nhiêu của con người cùng muôn loài muôn vật sinh sống trên mặt đất. Tôn thờ thần đất chính là một biểu hiện của nền văn minh nông nghiệp. Tại một số lễ hội, lá cờ ở chính giữa đã được thêu chữ Thần ( ). “Thần” ở đây là vị thần Thành hoàng được thờ, nhưng từ màu sắc của cờ lại cho thấy, thần Thành hoàng còn mang thêm cả tính chất là thần đất – vị thần chủ trì về nông nghiệp.

Khi có hạn hán ở một vài nơi nào đó, dân làng thường tổ chức lễ cầu đảo (còn trước kia thì tổ chức cả rước cầu đảo nữa, như đã dẫn ở đoạn trước). Khi ấy, tại sân đình một lá cờ màu đen được dựng lên. Màu đen, theo quan niệm của thuyết âm dương – ngũ hành, là tượng trưng cho nước, thuộc phương bắc. Dựng cờ màu đen là thể hiện sự thỉnh cầu của dân chúng đối với vị thần làm mưa. Còn trường hợp lúa má hoa màu bị sâu bệnh phá hoại, thì nhiều làng cũng tổ chức lễ tiễn trùng. Khi ấy, sau khi tế lễ ở các đình, chùa, miếu, người ta đem những lá cờ đuôi nheo bằng giấy đi cắm rải rác khắp cả cánh đồng. Các cờ đuôi nheo ấy, lúc này là biểu tượng của thần đất ở tất cả các phương hướng, cùng nhau xua đuổi các “thần trùng” (tức sâu bệnh).

Kiệu: Trong các lễ hội, cũng như trống, chiêng, nhạc cụ, cờ… thì kiệu cũng là thứ không thể nào thiếu. Kiệu xuất hiện khi có lễ rước kiệu, tức là rước thần vị của thần Thành hoàng làng từ miếu ra đình và ngược lại, hoặc rước đến các làng xung quanh, khi các làng này có tục kết chạ, rồi trở về. Thần vị đặt trên ngai, ngai đặt trên bàn, bàn đặt trên giá kiệu. Cùng với rước thần vị, còn rước cả bằng sắc của thần và lễ vật của dân làng, đều phải dùng kiệu, do vậy, ứng với từng công dụng mà có các loại kiệu khác nhau, như bát cống, long đình, song loan v.v….

Điểm chung nhất mà ta thấy ở tất cả các loại kiệu là những con Rồng được khắc trạm trên ngai, trên giá kiệu. Theo quan niệm dân gian, Rồng nguyên uỷ là rắn, là các dòng sông mang hình dạng rắn chứa nước, vậy nên, cũng là biểu tượng cho sự cầu mùa, cầu mưa của người dân nước ta vốn sinh sống bằng nông nghiệp. Nhưng đến thời phong kiến, Rồng lại được biểu tượng cho quyền uy của các bậc Đế vương. Do vậy, biểu tượng Rồng trên kiệu trong các lễ hội, cần được hiểu theo cả hai ý niệm, mà trong đó, ý niệm dân gian mới là nền tảng. Chứng cứ là các giá kiệu rất dài được trạm khắc rồng nhưng đều mang hình thức thân rắn. Ý niệm này lại càng hiện ra rõ hơn khi ta thấy trạm khắc rồng mang hình thức rắn này cũng chính là những cỗ đòn đám ma ở khắp các địa phương… Và như vậy, quan niệm tiễn đưa người quá cố sang thế giới bên kia qua môi trường nước thanh tĩnh, mát mẻ, được biểu tượng bằng rồng rắn – là hình dáng của các dòng sông, thật đã rõ ràng. Còn nếu coi Rồng chỉ là biểu tượng đế vương, thì tại sao trong suốt thời phong kiến, cách thức đưa ma này của dân chúng, lại không bị cấm?

Rước rồng múa rồng: Có thể nói các biểu tượng rồng trong lễ hội được thể hiện ở khắp mọi nơi chẳng những trên kiệu, trên ngai như trên vừa nói, mà còn thấy ở rất nhiều chi tiết trang trí trong đình miếu, trong trang phục (mũ, áo, đai, hia) của thần. Đặc biệt là con vật hình nộm rồng được dùng trong tiết mục rước rồng, múa rồng thật vui tươi rộn ràng trong các lễ hội.

Trong 12 con giáp, chỉ có rồng là con vật huyền thoại, nhưng huyền thoại mà không hoàn toàn. Nhìn chung, các con rồng của thời Lê, Nguyễn do Nho giáo đã chiếm địa vị độc tôn, nên cũng vì thế mà rồng đã mang dạng thức thú. Còn rồng thời Lý, Trần, thời của “tam giáo đồng nguyên”, vẫn còn nặng chất dân gian, nên hình thù chủ yếu vẫn còn mang dạng thức rắn (mà người ta gọi là “rồng giun”, còn thấy trên một số hình trang trí của thời ấy để lại).

Các đình miếu ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ còn lại đến ngày nay phần lớn đều có kiến trúc thời Lê, Nguyễn, vì vậy mà ta thấy ở đó, rồng mang dạng thức thú đã chiếm hơi…. nhiều. Tuy nhiên theo nhận xét của chúng tôi, thì đấy chỉ

còn là hình thức kiến trúc và trang trí đã hoá thạch. Vì vậy nếu có một biểu hiện sinh động nào cho con rồng – rắn dân gian, thì đấy chính là hình nộm rồng và điệu múa rồng vui tươi rộn rã.

Con vật hình nộm rồng này có phần thân rất dài, nên rõ ràng đã mang hình dạng dòng sông – con rắn. Ở tiết mục rước rồng ta thấy có vẻ nghiêm trang, vì còn mang tính chất nghi lễ, nhưng đến điệu múa rồng thì mới thật đúng là tâm thức dân gian được thể hiện ra ở ngay giữa thanh thiên bạch nhật. Đó là khi cái đầu rồng ngạo nghễ kia thỉnh thoảng lại quay trở lại luồn vào dưới các khúc thân của nó cho đến khi đủ lượt mới thôi, mà dân gian gọi nôm na là động tác “lộn rồng” hay “rồng lộn”.

Nếu bảo đấy là rồng – Hoàng đế thì động tác này quả là một sự phạm thượng ghê gớm. (Vả chăng, nếu có hình nộm rồng – Hoàng đế thật, tức là rồng mang dạng thức thú, thì do thân ngắn, nên không thể thực hiện động tác này được). Còn nếu bảo rằng đấy là con rồng – dân gian thì không còn có cách định danh nào đúng hơn. Đây quả là một ví dụ sinh động cho thấy mặc dù phải sống giữa vòng vây của những lễ giáo phong kiến tới hàng nghìn năm, vậy mà sức sống dân gian vẫn tìm được hình thức biểu hiện mạnh mẽ ở giữa thanh thiên bạch nhật, ngay trong thời điểm quan trọng nhất trong một năm, là lễ hội.

Tựu trung lại, trên tất cả các vật thể mang tính biểu tượng như trống, chiêng, cờ, kiệu, rồng… ta thấy đều in đậm tâm thức dân gian, là sự cầu mong cho đất đai phì nhiêu, cho lượng nước mưa rơi xuống hài hoà, hay nói cách khác những biểu tượng ấy lại thêm một lần nữa chứng tỏ lễ hội nước ta về cơ bản là một lễ hội nông nghiệp, và cũng giải thích thêm về sức sống lâu bền của các lễ hội ấy.

°°°

Nhìn chung lại, qua trình bày về các vị thần được thờ cùng lễ tiết, lễ hội theo chu kỳ hàng năm của người dân nước ta, cho thấy các Đức quốc tổ và những người có công với dân tộc được đồng hoá vào đất nước thành một thể thống nhất, cho nên ta có “đất nước cha ông”, “quê cha đất tổ” (thành ngữ)…

Sự đồng hoá ấy in đậm trong tâm trí các thế hệ, làm nền tảng cho sự cố kết cộng đồng và tạo nên sức mạnh to lớn của dân tộc trong dựng nước và giữ nước.

KẾT LUẬN

1. Đặc điểm môi trường sinh thái hay “chiếc nôi” sinh thành của người Việt cổ là khí hậu nhiệt đới gió mùa lắm nắng nhiều mưa và một địa bàn bao gồm đất đai, núi rừng, sông nước rộng lớn, tuy khắc nghiệt nhưng cũng đầy thuận lợi cho sự sinh tồn và phát triển của con người. Dù nguyên uỷ từ vượn người sở tại phát triển lên hay vượn người từ một nơi nào khác di cư đến, thì đó cũng chính là tổ tiên của người Việt và nhiều dân tộc anh em đang chung sống, chứ không phải là từ những con người đã phát triển ở một quốc gia nào khác đến xâm chiếm rồi đồng hoá với người bản xứ ít ỏi mà thành, như có người đã lầm tưởng.

Quan điểm cơ bản ấy được thể hiện rất rõ trong Bách Việt triệu tổ cổ lục với việc ghi chép những điều từ nhiều đời trước truyền lại về quá trình khai phá vùng đồng bằng, về địa điểm đóng đô của các đời từ trước và trong thời Hùng Vương, về thế thứ của các đời vua này, và những điểm đặc sắc khác như về phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ tiết, lễ hội… Những ghi chép ấy không có mục đích nào khác ngoài mục đích truyền lại cho con cháu những hiểu biết về tổ tiên và duy trì những thuần phong mỹ tục và đạo lý dân tộc truyền thống, do vậy có thể tin là không có sự toan tính, thêm bớt nào làm cho sai lạc sự thật.

2. Những phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ tiết, lễ hội… còn được bảo lưu đến ngày nay là kết quả của quá trình người dân nước ta tiếp xúc với đất đai, sông nước, tức là quá trình khai phá giới tự nhiên của họ từ thời sơ sử đến các giai đoạn về sau. Từ quá trình ấy, những đặc điểm về tâm lý, tính cách của dân tộc đã được xác lập như gắn bó thiết tha với đất, nước và với quê hương đất nước, cùng là một sự thấm nhuần sâu sắc đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn” trong tâm tư tình cảm và trong hành vi ứng xử hàng ngày của mỗi người.

3. Các vị thần được tôn thờ của người Việt vừa có những nét chung với nhân loại (thờ thiên thần, nhiên thần…), vừa có những nét riêng của dân tộc mình, đó là các vị tổ tiên lập nước, các vị có công với dân với nước trong các giai đoạn lịch sử, các vị khai sơn phá thạch một vùng đất mới, các vị mở mang một nghề nghiệp mới… Sự hình thành các lễ tiết và lễ hội hàng năm của người dân nước ta là hoàn toàn có nguồn gốc bản địa chứ không phải đi vay mượn của nước ngoài. Từ các lễ tiết và lễ hội ấy nói lên tính chất nông nghiệp và giải thích sức sống lâu bền của các lễ tiết, lễ hội nước ta.

4. Các lễ tiết, lễ hội hàng năm của người Việt thể hiện sâu sắc tâm tư tình cảm, nguyện vọng và đạo lý của người dân nước ta với địa bàn mà họ sinh sống và với các vị tổ tiên có công trong quá trình dựng nước và giữ nước. Các vị thần được tôn thờ là đại biểu cho khí phách và tinh hoa của dân tộc cũng là quyền lợi của quảng đại dân chúng ở mỗi địa phương, do vậy từ các lễ vật dâng cúng, các lời khấn cầu đến các trò vui chơi và các hiện vật mang tính biểu tượng trong các lễ hội, lại một lần nữa nói lên tâm nguyện chung của dân chúng về một cuộc sống ấm no hạnh phúc, nói lên sự phát triển đi lên bền vững của dân tộc trên cơ sở một địa bàn sinh sống do tổ tiên khai phá để lại, và trên những nền tảng tinh thần mà những giá trị cơ bản đã được xác lập ngay từ thời dựng nước.


PHỤ LỤC I
TRUYỀN THUYẾT “VUA HÙNG CHỌN ĐẤT ĐÓNG ĐÔ”

Ở vùng tổng Đại Lôi cũ (tên nôm là tổng Sốm, nay là địa bàn hai xã Phú Lãm – Phú Lương huyện Thanh Oai, Hà Tây) từ nhiều đời nay còn lưu truyền câu chuyện về việc vua Hùng chọn đất đóng đô. Theo lời vị tộc trưởng họ Nguyễn ở vùng này được các đời tộc trưởng trước kia truyền lại, thì nguyên ủy, câu chuyện được các vị trong Hội đồng tộc biểu sáng tạo ra, rồi sau đó, được lưu truyền trong các tầng lớp dân chúng trên khắp cả nước. Câu chuyện như sau:

“Cuối thời Viêm Bang, khi dân số nước ta đã đông, nghề nung gốm sứ và nghề luyện kim đã phát triển từ đấy đóng được thuyền bè đi lại trên sông nước, thì cũng là lúc có nhu cầu mở rộng địa bàn cư trú, xuống khai phá vùng đồng bằng theo kiểu đại trà, và nhà vua cũng muốn chọn một nơi đóng đô thích hợp để từ đó dễ dàng cai quản được toàn bộ đất nước.

Nhà vua sai người chuẩn bị một đoàn thuyền lớn, mang theo đầy đủ lương thực, thực phẩm và vũ khí, rồi cùng với đoàn tùy tùng lên đường.

Lần đầu, từ vùng So – Sở (nơi đóng đô của thời Viêm Bang, nay là vùng Phượng Châu – Tiên Lữ – Thổ Ngõa của hai huyện Chương Mỹ, Quốc Oai giáp nhau, thuộc tỉnh Hà Tây), nhà vua cùng đoàn tùy tùng dọc theo sông Đáy đi vào vùng thượng du của tỉnh Thanh Hóa bây giờ, thấy có một trăm con phượng hoàng thì dừng lại xem xét, và nhận thấy ở đấy chỉ có đồi núi, đất lẫn nhiều sỏi đá không thể cấy lúa nước được, nên đã cùng nhau quay về.

Lần thứ hai, nhà vua cùng đoàn tùy tùng dùng thuyền men theo dải bờ (ở thời ấy, đồng bằng Bắc Bộ chưa được bồi lắng đầy đủ và chưa có đê, nên vào mùa mưa, nước ngập tràn mênh mông, đi lại phải dùng thuyền), đi về hướng đông bắc, đến vùng Hạ Long bây giờ, thấy có một trăm con rồng đá, biết ở đấy chỉ có thể đánh cá chứ không thể cấy trồng, nên cũng lại lắc đầu mà quay lại.

Lần thứ ba, nhà vua cùng đoàn tùy tùng lại dùng thuyền đi ngược về hướng bắc, đến địa phận tỉnh Phú Thọ ngày nay thấy có một trăm con voi phục (99 con chầu hướng nam, 1 con chầu hướng bắc), sau nhiều ngày quan sát, nhận thấy ở đấy tuy trồng được cây cối trên đồi, cấy được lúa nước dưới khe, nhưng vì địa bàn quá hẹp không phải là nơi phát triển lâu dài, nên cũng lại cùng nhau quay thuyền trở về vùng So – Sở.

Lần thứ tư, nhà vua và đoàn tùy tùng vẫn dùng thuyền nhưng đi về hướng đông, đến vùng Thanh Oai thuộc Hà Tây bây giờ thì dừng lại. Đất đai ở đây tuy ô trũng nhưng lại có nhiều gò đống cao nổi lên mà con người có thể đến ở được. Nơi cao thì làm chỗ ở và trồng hoa màu, còn nơi trũng thì vừa đánh cá vừa cấy trồng lúa nước. Thế là nhà vua ưng thuận, gọi vùng này là đất Trăm Rùa, đến lần sau thì dời đô từ So – Sở xuống”.

Câu chuyện “Vua Hùng chọn đất đóng đô“ trước sau chỉ vẻn vẹn như vậy. Các con số 100, theo chúng tôi, đều mang ý nghĩa tương đối, để chỉ số nhiều. Còn tên các con vật như phượng hoàng, rồng, voi, rùa thì chỉ là cách nói lên tính chất đặc trưng của từng vùng đất, trong đó, phượng hoàng chỉ vùng rừng núi thượng du, rồng chỉ vùng biển đảo, voi là đồi núi trung du, còn rùa là chỉ đất đồng bằng.

Chúng tôi được biết ở các thời trước kia và ngay cả bây giờ, người dân nhiều nơi cũng từng truyền nhau kể về câu chuyện trên, tuy nhiên, do tính chất địa phương mà nhiều khi người ta lại kể thiếu, chỉ dừng lại ở lần thứ ba. Từ đấy, nếu ta đặt thành các câu hỏi: Vua Hùng dạy dân cấy lúa nước thì nhà vua phải ở đồng bằng, chứ làm sao lại ở vùng trung du? Vùng trung du so với đồng bằng chênh nhau tới trên 20m về độ cao, vậy nếu nhà vua ở trung du thì vùng đồng bằng chỉ là biển nước, làm sao mà cấy lúa ở đây được? – sẽ không thể có câu trả lời.

Xu hướng chiếm lĩnh, khai phá đồng bằng theo kiểu đại trà (cấy lúa nước để giải quyết vấn đề lương thực và đánh bắt tôm, cá để giải quyết vấn đề thực phẩm), theo chúng tôi, là xu hướng phát triển có tính tất yếu của người Việt cổ ở thời đại các vua Hùng, khi tổ tiên ta đã có trong tay nghề luyện kim phát triển (chế tạo được các vật dụng, công cụ bằng đồng, sắt và đóng được các loại thuyền, bè). Vì thế, câu chuyện “Vua Hùng chọn đất đóng đô“ với 4 lần thăm dò như chúng tôi vừa kể ở trên, là hoàn toàn phù hợp với quy luật tiến hóa ấy. Từ đấy cho thấy, nếu có ai đó kể về câu chuyện này nhưng do vô tình hay cố ý mà kể thiếu đi, chỉ dừng lại ở lần thứ 3, thì theo chúng tôi, đã làm sai lạc đi nhận thức chung của toàn xã hội.

Đây là một vấn đề văn hóa lớn của toàn dân tộc, nên rất cần những cuộc trao đổi công khai, dân chủ và công minh, để cuối cùng dẫn tới một nhận thức chung, có lợi cho phát triển.

°°°

Bây giờ chúng tôi xin nói đến đặc điểm tự nhiên và sự hình thành của vùng đất Trăm Rùa ở huyện Thanh Oai, để chứng minh thêm cho những điều vừa trình bày. Đây là vùng đất được tạo thành bởi phù sa bồi lắng của hai con sông ĐáyNhuệ – đều là những chi lưu của sông Hồng, ở mé hữu ngạn. Hai con sông ấy chảy gần như song song với nhau, đều có những nhánh nước nhỏ hơn tỏa ra hai bên. Đất Thanh Oai ở giữa hai con sông này, do có nhiều nhánh nước chảy ra (ở thời chưa đắp được đê, thì nước ở hai sông cứ việc tự do chảy ra các nhánh), nên đã tạo thành nhiều điểm giao thoa, và từ đấy cũng tạo ra nhiều dòng nước chảy quanh quẩn. Chính lượng phù sa lắng đọng ở những chỗ nước chảy quanh quẩn này đã tạo thành những gò đống cao nổi lên giữa miền đất trũng, tựa như những chiếc bát úp hay những con rùa ở giữa đồng bằng. Những con rùa này nổi lên chỗ mau chỗ thưa kéo từ đầu huyện xuống cuối huyện, dài tới gần hai chục cây số, với những diện tích rộng hẹp khác nhau, có chỗ chỉ vài sào, nhưng cũng có chỗ lên tới vài chục mẫu, mà ngày nay vẫn còn để lại khá nhiều dấu tích. Như gò bảy mẫu ở làng Bùi Xá; gò 5 mẫu, 3 mẫu ở làng Tê Quả; làng Rùa giáp sông Nhuệ, làng Cao Bộ giáp sông Đáy thì ngự trên những cái gò rộng tới hàng trăm mẫu. Còn các làng Quang Lãm – Văn Nội, Trinh Lương, Nhân Trạch liền kề nơi từng được gọi là Phong Châu, Nghĩa Lĩnh thuở xưa, thì đã từng được gọi là một làng Rùa, ở trên vùng đất rộng tới vài trăm mẫu…

Qua những điều trình bày trên, chúng tôi muốn dẫn tới một thực tế mà ai ai cũng có thể hiểu được. Đó là việc, ở thời dựng nước, tổ tiên ta muốn chiếm lĩnh đồng bằng để cấy lúa nước và đánh bắt tôm cá nhiều, thì chỉ có thể tìm đến những vùng đất Trăm Rùa mà thôi, chứ không thể dừng lại ở vùng đất Trăm Voi được!

GIẢI TRÌNH ĐỊA DANH PHONG CHÂU

Địa danh ở nước ta là một vấn đề rất phức tạp và quan trọng. Phức tạp là do có nhiều sự trùng lặp, chồng chéo về địa danh, diễn ra ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, thật khó phân biệt. Phức tạp còn là ở chỗ địa danh lớn, địa danh nhỏ chẳng những trùng nhau, lại được đưa vào sử, sách ở những thời điểm khác nhau, rồi được người đời sau giải thích theo những cách khác nhau, dẫn đến những kết quả khác nhau v.v… Còn quan trọng thì khỏi phải nói, vì địa danh gắn với lý lịch của mỗi người, còn gắn với những nhân vật tiêu biểu, sự kiện lịch sử chung, thì lại càng quan trọng.

Trong bài này, chúng tôi muốn đề cập đến việc xác định địa danh Phong Châu, mà địa danh này, như mọi người biết, đã gắn với những nhân vật, sự kiện lịch sử trọng đại, do vậy, không thể không xác định cho thật rõ ràng.

°°°

Địa danh Phong Châu, như nhiều người biết, được ghi trong nhiều bộ sách, cả sách ta lẫn sách Tầu, để chỉ Kinh đô của thời Hùng Vương và Kinh đô của thời Hai Bà Trưng. Chúng tôi đã thường xuyên về vùng đầu huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây, thuộc địa bàn của hai xã Phú Lãm – Phú Lương, để điền dã trong thời gian 5 năm (1999 – 2004), nghe vị Tộc trưởng họ Nguyễn ở đây đọc, dịch, giải thích cho nghe những tài liệu hiện còn lưu giữ cùng các câu đối, đại tự có liên quan, đồng thời với việc đến tận nơi các di tích vùng và xung quanh để tìm hiểu, nghiên cứu. Từ đó, đối chiếu với các sách vở ở các thời khác nhau viết về vùng này, hoặc viết về các vùng khác nhưng có liên quan tới vùng này, nay xin trình bày lại như sau:

Thoạt kỳ thủy, chảy qua vùng này có một con sông nhỏ, là một nhánh của sông Đáy, bắt nguồn từ khu vực làng Đông Lao (thuộc huyện Hoài Đức – Hà Tây) chảy qua các làng Yên Lộ, Nghĩa Lộ, Do Lộ, Thanh Lãm, Quang Lãm, Văn Nội, Nhân Trạch, Bắc Lãm… thuộc cuối huyện Hoài Đức và đầu huyện Thanh Oai bây giờ. Con sông này, nay phần lớn đã thành ruộng đìa ruộng dộc hoặc thậm chí thành đường thành nhà (do Hoàng Trọng Phu – con trai Hoàng Cao Khải, Tổng đốc Hà Đông, cho san lấp vào cuối thời vua Khải Định, 1924 – 1925), nhưng một số chỗ vẫn còn lại dấu tích cũ có thể nhận ra được. Nhánh sông này, do có bãi cát bồi chạy dọc theo hai triền sông mà ở thời Bách Việt và các vua Hùng Tổ tiên ta đã đến lập Kinh đô, nên về sau được gọi và ghi là Tự nhiên châu, rồi Trường sa châu. Phía ngoài con sông này, cũng chảy từ phía huyện Hoài Đức trở xuống, qua ga xe lửa Hà Đông bây giờ rồi xuống cánh đồng các làng Văn Nội, Nhân Trạch, Bắc Lãm, Động Lãm…

ngày nay, lại có một con sông nữa, được gọi là sông Bạch Hạc. Sở dĩ gọi như vậy là do sông này vào mùa khô thường hay cạn nước, có nhiều cò trắng đến kiếm mồi, vì thế mà được gọi là sông Bạch Hạc (nay sông đã thành ruộng trũng).

Lại nói về con sông chảy qua Kinh đô của thời Bách Việt và các vua Hùng, từ thời Đinh (968) đến cuối thời vua Thành Thái (1907) nhà Nguyễn, được gọi là sông Hát(2). Sở dĩ như vậy là do gắn với phong tục hát chầu văn, hát trống quân… trên 9

chiếc thuyền ghép lại trên sông ở trước cửa đền Thượng (trong 24 tòa đền Thượng, thờ Kinh Dương Vương, Thủy tổ Bách Việt và các vua Hùng), nay là chỗ giáp giới giữa hai làng Quang Lãm và Văn Nội, phường hát sẽ hát chầu lên đền, và phong tục

này được bắt đầu từ thời Đinh (968) duy trì cho đến cuối thời vua Thành Thái (1907) nhà Nguyễn(3). Chỗ tổ chức hát chầu ấy được gọi là Hát môn (tức là cửa hát chầu).

Đoạn cuối của sông Hát (từ cuối làng Văn Nội trở xuống) còn được gọi là Hà Vĩ (cuối sông) hay sông Thiếp. Sở dĩ gọi sông Thiếp là do ở gần đấy (cũng là trước cửa đền Trung, trong 24 tòa đền Trung, thờ Hai Bà Trưng và các vị tướng lĩnh tham gia cuộc khởi nghĩa này), trong mùa lễ hội hàng năm có tục đánh đồng thiếp để người cõi trần “xuống” gặp người cõi âm, cho nên sông được mang tên ấy. Bà mẹ của La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp là người ở đầu sông Thiếp, nên ông bố (Nguyễn Quang Nhuận) đã lấy tên sông để đặt tên cho con (các tư liệu này đều có trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư Phả họ Nguyễn).

Trên sông Hát, từ thời Bách Việt và các vua Hùng đã có nhiều bến nước được xếp bằng đá ong để làm bậc lên xuống, nên bến được gọi là bến ong(4). Sau thời Hai

Bà Trưng khởi nghĩa ở vùngnày thất bại, quan lại nhà Hán đi ghi chép về lai lịch của hai Bà, đã viết Phong Châu để chỉ bến ong, tức là một cách dịch vừa theo âm, vừa trực tiếp (Phong = ong, Châu = bến), vì bến ongquê hương của hai Bà và của nhiều vị Tướng lĩnh tham gia cuộc khởi nghĩa ấy. Phong Châu, từ đấy trở đi, cũng được ghi để chỉ Kinh đô của thời Bách Việt và các vua Hùng cũng nằm ở vùng này, còn trước cả thời Hai bà Trưng nữa. Cách ghi chép của người phương Bắc hay người nước ta, khi đề cập đến sự kiện nào thì miêu thuật lại sự kiện ấy, còn địa danh lại gọi theo tên của thời đang ghi chép, và đó là điều hợp lý, vì ghi chép là để cho người đương thời và người đời sau hiểu được.

Trong trường hợp của hai chữ Phong Châu vừa nhắc, ta thấy hai chữ này còn được dùng trong nhiều văn bản, sách vở khác, của cả người phương Bắc và người nước ta, để chỉ về các sự kiện, nhân vật có liên quan. Như trong Ngọc phả Hùng Vương của Nguyễn Cố (thời Trần) khi nói “Hoan châu thắng địa kiến lập Kinh đô Nghĩa Lĩnh(5)… thì chính là nói đến kinh đô ở trên đất Phong Châu này. Trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi (đầu thời Lê), trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (thời Lê), trong Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát (thời Nguyễn) cũng đều viết: “Phong Châu là kinh đô của các vua Hùng” cả. Còn sách của người phương Bắc như Thông điển của Đỗ Hữu (thời nhà Đường) chép: Phong Châu là nước Văn

Lang xưa(*), sách Thái bình ngự lãm (thời Tống) cũng chép: “Phong Châu xưa là nước Văn Lang(*), thì tuy tránh nhắc đến hai chữ Kinh đô, nhưng họ đều ám chỉ “Phong Châu là Kinh đô của nước Văn Lang” – tức Kinh đô của thời Bách Việt và các vua Hùng.

Về Kinh đô của thời Hai bà Trưng, sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi chép có hơi khác: “Họ Trưng… đóng đô ở Mê Linh”, nhưng đến quê quán của hai Bà thì Đại Việt sử ký toàn thư lại chép: “Tên húy là Trắc, họ Trưng… con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu”, và Đại Nam quốc sử diễn ca thì ghi: “Bà Trưng quê ở Châu Phong”. Như thế có nghĩa là: Phong Châu Mê Linh phải có mối quan hệ nào đấy, vậy ta hãy tìm hiểu về mối quan hệ này.

Sách Thủy kinh chú (quyển 14) của Lịch Đạo Nguyên thời Bắc Ngụy chép:

Huyện Mê Linh, năm thứ 6 hiệu Nguyên Đỉnh (năm 111 TCN) đời Hán Vũ Đế mở đô úy trị tại đó(*). Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên chép: “Bà chị tên là Trắc, bà em là Nhị… người huyện Mê Linh thuộc Phong Châu”. Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp cũng chép: “Hai bà Trưng vốn dòng họ Hùng, chị tên là Trắc, em tên là Nhị, người ở huyện Mê Linh, đất Phong Châu”. Các sách: Vân đài loại ngữ của Lê

Quý Đôn, Đường thư, Văn hiến thông khảo (của Mã Đoan Luân thời Nguyên) đều chép: “Mê Linh là Phong Châu(*). Lịch triều hiến chương loại chí, mục Địa dư chí của Phan Huy Chú cũng chép: “Mê Linh Phong Châu”.

Như vậy là, qua các sách của Lý Tế Xuyên, Trần Thế Pháp, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Mã Đoan Luân, lại một lần nữa xác nhận điều mà Đại Việt sử toàn thư đã chép về quê Ha bà Trưng: “ở huyện Mê Linh, Phong Châu”, tức là gọi Mê Linh hay Phong Châu thì cũng để chỉ về cùng một khu vực. Và theo Thủy kinh chú, như ở trên vừa nhắc, thì Mê Linh cũng chính là “nơi đóng Phủ trị của Đô úy nhà Hán” khi họ dẹp xong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà.

°°°

Trên đây là những điều tra thực địa và những ghi chép về địa danh Phong Châu và địa danh Mê Linh có trong các sách Ta, Tầu mà các tác giả dịch thuật, nghiên cứu mấy chục năm qua đã nhiều lần đề cập đến, nhưng có điều, để chỉ đích danh Phong ChâuMê Linh ấy nay nằm ở đâu, thì các tác giả lại chỉ ở những nơi khác, chứ không phải là vùng Đại Lôi (tên đặt vào thời Lý) hay địa bàn chủ yếu của hai xã Phú Lãm – Phú Lương đầu huyện Thanh Oai bây giờ.

Đại Việt sử ký toàn thư tập I, Nxb Khoa học xã hội xuất bản năm 1983, bản dịch và chú thích do Ngô Đức Thọ thực hiện, hiệu đính do Hà Văn Tấn thực hiện, khi viết: “Hùng Vương… đóng đô ở Phong Châu” thì tại chua thêm trong ngoặc đơn sau hai chữ Phong Châu là: “nay là huyện Bạch Hạc”, rồi chú thích: “Huyện Bạch Hạc thời Lê là một phần đất huyện Phong Châu tỉnh Vĩnh Phú hiện nay”. Đến thời Trưng Vương, bản dịch viết: “Tên húy là Trắc, họ Trưng… con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu”, rồi chú thích: “Huyện Mê Linh thời thuộc Hán bao gồm phần đất tỉnh Vĩnh Phú và một số huyện thuộc ngoại thành Hà Nội ngày nay”.

Ai cũng biết nơi đóng đô hay nơi đặt phủ trị của thời xa xưa ấy là ở một địa điểm xác định cụ thể, chỉ bao gồm phần đất của một tổng thời trước hay một, hai xã của thời ngày nay mà thôi, vì thế, câu trong ngoặc đơn và hai câu chú thích ở trên chẳng khác nào một sự thách đố đối với người đọc: Chẳng lẽ nơi đóng đô hay nơi đặt phủ trị của thời xa xưa ấy lại to bằng cả một huyện của thời nay hay sao? Đó là điều vô lý, hoàn toàn không thể có trên thực tế! Đấy là còn chưa nói đến việc: các tác giả chỉ Phong Châu thành ra Bạch Hạc thời Lê (“một phần đất huyện Phong Châu tỉnh Vĩnh Phú ngày nay”…) là thiếu căn cứ. Trong khi, đúng ra, như ở phần trên chúng tôi vừa trình bày: Bạch HạcPhong Châu là hai địa danh khác nhau nhưng ở gần nhau, đều thuộc cùng một nơi là Kinh đô của thời Bách Việt và các vua Hùng hay Kinh đô của thời Hai Bà Trưng, như được ghi trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư, Phả họ Nguyễn của các vị Tộc trưởng họ Nguyễn, những người trực tiếp trông nom phần mộ và cúng giỗ cho các vị vua, các bà vợ ở thời dựng nước cùng Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh tham gia cuộc khởi nghĩa này.

Ông Nguyễn Vinh Phúc đã viết một cuốn sách dày hơn 200 trang khổ 13x19cm, nhan đề Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng Hà Nội (Nxb Hà Nội, xuất bản năm 1983), trong đó, ở phần Tài liệu tham khảo chính, đã liệt kê đủ các loại tài liệu, sử sách Ta, Tầu, mới, cũ như: Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục, Trưng Vương lưỡng vị Thánh sắc, Lịch sử cổ đại Việt Nam, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Đất nước Việt Nam qua các thời, Một số truyền thuyết về tướng lĩnh Hai Bà Trưng, Truyền thuyết Hùng Vương, Hậu Hán ký, Hậu Hán thư, Thủy kinh chú, Tư trị thông giám, Thần tích các làng có thờ Hai bà Trưng và các tướng lĩnh, Sưu tầm thần tích của các tỉnh Phúc Yên, Sơn Tây, Hà Đông v.v…, vì thế, thay vì phải nói đến tất cả các cuốn sách trên trong chừng mực của vấn đề định bàn, chúng tôi thấy, chỉ cần đề cập đến cuốn sách của Nguyễn Vinh Phúc là đủ.

Trong cuốn sách này, ở mục Quê hương, tác giả đề cập đến địa danh Mê Linh mà theo ông, được các vị đi trước, khi bàn đến vấn đề này đã “chủ trương” (chữ dùng của Nguyễn Vinh Phúc) đặt ở hai nơi: Hoặc ở tả ngạn hoặc ở hữu ngạn sông Hồng, vì ở cả hai nơi ấy đều có địa danh Hạ Lôi là tên làng của Hai Bà Trưng mà tác giả đã đọc được. Tác giả đi điền dã ở cả hai làng này, ghi chép về các di tích, miêu tả lại thực địa, thu lượm lời kể của người đương thời, đọc văn bia, Thần tích v.v…, đồng thời, từ đấy còn đối chiếu với những trình bày của các tác giả đi trước, để rồi cuối cùng, đến lượt mình đưa ra kết luận, thì lại nêu thành giả thiết theo kiểu… nước đôi, chứ không chỉ ra được chắc chắn: Đâu là quê hương đích thực của Hai Bà Trưng!

Mặc dù tác giả đã đọc đến các cuốn sách có viết: “Mê LinhPhong Châu” và “Mê Linh Phong Châu” (như chúng tôi đã dẫn ở phần trên), nhưng trong cuốn sách của mình, ông cũng chẳng hề nhắc đến Phong Châu nữa. Việc cố tình lờ đi này, theo chúng tôi là có nguyên nhân. Đó là vì, cái vùng đất mà Nguyễn Vinh Phúc gọi là “huyện Mê Linh đời Hán” ấy thì chẳng phải là huyện do đời Hán đặt, mà chỉ là “Huyện Mê Linh, ngoại thành Hà Nội, mới được đặt vào năm 1977 dưới chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” mà thôi. Cũng như vậy, huyện Phong Châu ở tỉnh Vĩnh Phú (tại thời điểm 1983, khi bản dịch Đại Việt sử ký toàn thư tập I được in), thì chỉ là huyện do thời nay đặt, chứ không phải là Kinh đô Phong Châu ở thời Hùng Vương và thời Trưng Vương. Hai địa danh Mê LinhPhong Châuthời ngày nay ấy không liên quan gì đến nhau (một thuộc Hà Nội, một lại thuộc Vĩnh Phú), cho nên lời ghi trong các sách xưa (cũng là sự chỉ dẫn cho người thời nay): “Mê Linh là Phong Châu”, “Mê Linh Phong Châu”, đã bị lờ đi, không thấy tác giả nhắc đến nữa!

Địa danh của nước ta, như ở đầu bài chúng tôi đã nói, là một vấn đề rất phức tạp. Ngay như chỉ một làng hay nào đó thôi, từ thời điểm 1954 đến nay, nhiều nơi đã có đến mấy lần thay đổi tên gọi rồi, huống hồ những vùng như đất đóng đô, lại trải tới 5 ngàn năm với bao thăng trầm lịch sử, thì sự thay đổi các địa danh lớn, nhỏ trong đó, hẳn cũng phải xảy ra tới bao nhiêu lần!

Hiện tượng trùng lặp về địa danh xảy ra ở thời hiện tại thì mọi người đều có thể dễ phân biệt, nhận ra ngay. Nhưng hiện tượng trùng lặp địa danh xảy ra ở thời quá khứ gần mà nay muốn tìm lại chính xác, đã thấy khó thêm một bước. Đến hiện tượng ở một nơi nào đó, trong quá khứ, từ rất lâu đã thay sang cách gọi tên mới, nhưng tên cũ ấy lại được nhiều nơi ở nhiều thời khác nhau dùng làm tên gọi của mình, thì từ đó, dễ khiến người ta lầm lẫn khi chỉ ra các nhân vật, sự kiện lịch sử có liên quan, và theo chúng tôi, đó là nguyên nhân dẫn đến việc râu ông nọ cắm cằm bà kia, gây ra những ngộ nhận không đáng có. Thế rồi, với ngay cả những nhân vật lịch sử quan trọng về sau được nhiều nơi thờ cúng, thì ở một số nơi, người ta cũng không ngần ngại gọi quê hương của mình trùng với quê gốc của nhân vật được thờ, từ đó làm cho việc nhận diện những địa danh đích thực ban đầu, những nhân vật, sự kiện lịch sử đích thực ban đầu càng trở nên khó khăn hơn, và đó là một thực trạng đã từng có, đã từng xảy ra ở nước ta, mà ngày nay, nhiệm vụ của chúng ta là phải khảo chứng, xác định lại cho thật tường tận các vấn đề ấy để “trả lại những gì là của Xêđa về cho Xêđa”.

°°°

Trở lại với địa danh Phong Châu, ở đây chúng tôi xin trình bày quan niệm của mình thông qua việc giải thích địa danh Phong Châu được ghi trong sách Cổ Lôi ngọc phả truyền thư của các vị Tộc trưởng họ Nguyễn ở Đại Lôi nay còn truyền lại, đồng thời với việc trình bày những khảo sát ở vùng này mà chúng tôi tiến hành liên tục trong nhiều năm qua.

Trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư có nhiều bài đề cập đến các địa danh Phong Châu, Phong Khê, Long Biên…, nhưng ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập đến bài Nam Việt quốc đô thông khảo (Nghĩa là: Xét Kinh đô của nước ta qua các thời) bằng chữ Hán, do Hội đồng tộc biểu thừa lục tại gia từ Nguyễn tộc Cổ Lôi ngọc phả truyền thư chính bản Khải Định tứ niên (Nghĩa là: Hội đồng tộc biểu sao chép lại tại nhà thờ họ Nguyễn trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư, bản chính, vào năm Khải Định thứ tư (1919), chúng tôi xin trích lại nội dung như sau:

… “Thời Xích Quỷ đô Phong Châu

Thời Hùng Vương đô Phong Châu

Thời Thục Vương đô Khả Lãm Phong Khê

Thời Triệu Vũ Đế đô Phiên Ngung hậu đô Lôi Cáo cập thống nhất đô Phong

Khê

Thời Bắc thuộc An Nam đô hộ phủ diệc tại nhữ khu Thời Trưng Nữ Vương đô Phong Châu

Thời Đông Hán đô hộ phủ diệc tại Phong Châu…

Thời Tiền Lý Nam Đế tiền đô Vạn Xuân Hà Nam Thanh Oai hậu cải Trường Xuân Xuân Dương Mộc Xá hậu thiên đô Long Biên thành Bắc Lãm trại cận Phong Khê…”.

Dịch nghĩa như sau (do ông Nguyễn Vân Tằng thực hiện):

… “Thời nước Xích Quỷ kinh đô ở Phong Châu Thời Hùng Vương kinh đô ở Phong Châu

Thời Thục Vương kinh đô ở Khả Lãm Phong Khê

Thời Triệu Vũ Đế lúc đầu đóng đô ở Phiên Ngung, sau về Lôi Cáo, đến khi thống nhất đất nước thì về đóng đô ở Phong Khê

Thời Bắc thuộc, An Nam đô hộ phủ cũng ở khu này (tức Phong Khê)

Thời Trưng Nữ Vương kinh đô ở Phong Châu

Thời Đông Hán, đô hộ phủ cũng ở Phong Châu…

Thời Tiền Lý Nam Đế lúc đầu kinh đô ở Vạn Xuân, cạnh con sông phía nam huyện Thanh Oai (tức sông Đáy), sau đổi là các làng Trường Xuân, Xuân Dương, Mộc Xá, về sau dời đô về thành Long Biên ở trại Bắc Lãm gần Phong Khê…”.

Qua đoạn trích dẫn trên, mọi người đều có thể thấy từ thời nước Xích Quỷ (hay còn gọi thời Bách Việt) qua thời các vua Hùng đến thời Hai Bà Trưng, đều đóng đô ở Phong Châu cả. Hai thời Thục – Triệu đóng đô ở Phong Khê. Đầu thời Bắc thuộc, quan Thái thú nhà Hán đóng phủ trị tại Phong Khê và thời Tiền Lý đóng ở thành Long Biên tại trại Bắc Lãm, gần Phong Khê. Thế nhưng, các địa danh như Phong Khê, Long Biên và cả Mê Linh nữa, chung qui cũng chỉ là những địa điểm nằm trong đất Phong Châu mà thôi. Sở dĩ như vậy là do thoạt kỳ thủy ở vùng này, ngay từ thời dựng nước (tức thời Bách Việt và các vua Hùng) đã có 9 khe nước nhỏ chảy ra từ sông Hát (đã giải thích ở trên) gọi là Cửu long (9 con Rồng) và mang các tên như: Cẩm Khê, Cấm Khê, Kim Khê, Nhụy Khê, Huyền Khê, Phong Khê, Phù Khê, Thanh Khê Thạch Tuyền (được ghi trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư). Mỗi khe nước, do được gắn với một đặc điểm, một sự tích hay một phong tục tập quán của vùng này (tức vùng Kinh đô thời ấy) mà được gọi thành những cái tên như vậy, như Nhụy Khê là khe nước uốn lượn chảy từ Hoa cái sơn (còn gọi là La sơn, Hy sơn, nơi có nhà vua ở) ra, Cẩm Khê là khe nước chuyên để giặt giũ gấm vóc trong cung. Cấm Khê là khe nước chảy từ phía trước cung vua ra, ở đó có quán cấm canh gác, cấm người qua lại. Kim Khê có huyệt kim khê (hay Kim khê cứu) là nơi đốt vàng mã (sau khi cúng lễ) thì đổ tro than xuống đấy. Phong Khê là khe nước chảy qua nơi chôn cất các vị có công (Lạc hầu Lạc tướng) và các nàng mỵ nương công chúa, các bà hoàng hậu v.v…

Ở đoạn cuối sông Hát, cũng là đầu của sông Thiếp hàng năm có tổ chức đánh đồng thiếp như ở trên đã nói, và bến nước ở đấy được xếp bằng đá ong. Bến nước ấy, gọi theo cách dân gian là bến mê, còn khi vào sử sách thì được viết là Mê Linh hay My Linh. Cũng bến nước ấy, do được xếp đá ong, gọi theo cách dân gian là bến ong, còn khi vào sử sách (do quan lại nhà Hán ghi chép lần đầu) đã thành ra Phong Châu. Nhà của bố mẹ Hai Bà Trưng ở gần ngay đấy (nay vẫn còn nền đất cũ), vì thế mà các sách mới viết là Mê Linh hay Phong Châu, hoặc viết Mê LinhPhong Châu, Mê Linh thuộc Phong Châu thì cũng là đều chỉ về một khu vực cả. Vì ở đây có việc lấy Mê Linh để đặt tên cho huyện, lấy Phong Châu để đặt tên cho nơi đóng đô, cho nên mới có chuyện “Mê Linh Phong Châu”, “Mê Linh thuộc Phong Châu”. Trong các sử sách thời trước (đã dẫn trên), có khi viết: “Bà Trưng rút quân về Cấm Khê”, có khi viết: “Bà Trưng rút quân về Cẩm Khê”, rồi lại viết: “Cấm Khê còn gọi là Kim Khê” v… thì cũng đều nói Hai Bà rút quân về quê, tức là rút về Kinh đô cả, vì ở đấy có các địa danh Cấm Khê, Cẩm Khê, Kim Khê, Nhụy Khê… như ở trên vừa nói.

Lại nói tiếp về đất Phong Châu sau thời dựng nước: Đến thời Thục An Dương Vương, sau khi giành ngôi của vua Hùng thì cũng là lúc ông đã xây xong thành ốc ở cuối khe nước có tên Phong Khê, bèn đến đóng đô ở đấy, chứ không ở vào nơi ở cũ của các vua Hùng, vì thế mà trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư cũng như trong Đại Việt sử ký toàn thư mới ghi là: “Thục An Dương Vương đóng đô ở Phong Khê”. Triệu Vũ Đế (là cháu gọi Hùng Vương thứ 18 bằng bác ruột – được ghi trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư) đánh Thục xong (Thục là một triều đại của nước ta. Thục Vương tên là Lê Phán, có cô ruột lấy Hùng Vương thứ 18 làm “phi”. Thục Vương ở trong triều liên kết vây cánh, rồi cướp ngôi của Hùng Vương – đó là những điều cũng được ghi vào Cổ Lôi ngọc phả truyền thư) thì cũng đóng đô ở đấy (tức Thành ốc ở Phong Khê) luôn. Thành ốc (còn gọi Loa Thành, thành Cổ Loa) ấy, nay nằm ở giữa cánh đồng hẹp giữa các làng Nhân Trạch, Trinh Lương, Bắc Lãm của xã Phú Lương, vẫn còn nhiều dấu tích có thể nhận ra được. Đó là một gò đất cao, bằng phẳng, còn rộng khoảng gần 10 mẫu ruộng (xưa kia là hình tròn, nhưng trải thời gian, bị lấy đất

Ở xung quanh không đồng đều, nên bây giờ không còn là hình tròn nữa), có 3 dải đất (xưa kia là 7) uốn lượn cùng chiều được đắp nối vào (tại các dải đất này, xưa kia có các cửa bắn nỏ). Từ hình dáng ấy mà có tên gọi là Thành ốc hay Loa Thành. Chính ở địa điểm Thành ốc này, vào năm 1907, khi vua Thành Thái về vùng này lễ Tổ tại đền Thượng, và nhà thờ họ Nguyễn (ở làng Nhân Trạch, thờ các Tổ tiên gần của nhà Nguyễn) đã cho tổ chức bắn nỏ thần tại đây, mà những người chứng kiến, cho mãi đến những năm 60 – 70 của thế kỷ trước, vẫn còn kể lại tường tận. Còn thành đất ở huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội ngày nay, mà nhiều nhà nghiên cứu, dịch thuật bảo là Thành ốc của Thục An Dương Vương, thì theo Cổ Lôi ngọc phả truyền thư, đó chính là thành của Tây Vu Vương (thuộc dòng dõi Triệu Vũ Đế) xây để chống nhau với Tích Quang – Thái thú quận Giao Chỉ. Thành ấy có 3 lớp tường đất, mà lớp trong cùng là hình chữ nhật, tách biệt hẳn với hai lớp ngoài cũng tách biệt kia, chứ không phải là hình tròn và có các dải đất uốn lượn cùng chiều đắp nối vào, tức không phải là hình xoáy trôn ốc như ở Phong Khê, vì thế, đem gọi đấy là Thành ốc thì chưa hợp lẽ(**). Lại nữa, chỉ có Thành ốc ở xã Phú Lương – Thanh Oai hiện nay mới gắn với địa danh Phong Khê (như đã nói ở trên), chứ thành đất ở Đông Anh ngoại thành Hà Nội ngày nay, thì không gắn với địa danh Phong Khê nào ở đấy cả.

Theo Cổ Lôi ngọc phả truyền thư ghi lại thì ở thời Thục An Dương Vương, nhà vua còn cho xây dựng thành ốc ở một số địa phương khác nữa, như ở làng Ốc Lý (thuộc xã Thanh Văn huyện Thanh Oai), làng Sa La – Dộc Ốc (gần Quân y viện 103 bây giờ), ở huyện Thạch Thất v.v… với qui mô nhỏ hơn. Số tên đồng mà các vị khảo cổ học của ta đào được ở thành đất Đông Anh, vốn là số tên đồng do Trường Viễn đông bác cổ đào được ở làng Ốc Lý (thuộc xã Thanh Văn huyện Thanh Oai ngày nay) mang lên đấy, rồi chôn xuống để đánh lừa dân ta. Cụ Hy Mã (tức cụ Phan Châu Trinh) đi Nhật về nước trong dịp này, đến bàn với cụ Nguyễn Vân ý (Hương quận công, Thái tử Thiếu bảo, quản lý 2400 mẫu ruộng thờ và trông nom các di tích, phần mộ Tổ tiên chung ở Đại Lôi) là phải lật tẩy ý đồ lừa bịp ấy. Theo lời bàn của cụ Hy Mã, cụ Ý đã bí mật lên Đông Anh, bảo dân chúng khi chôn tên đồng xuống đất thì sắp thành hai hàng dài châu mũi vào nhau, để nhắn lại cho hậu thế biết đấy chỉ là Thành ốc giả. Đáng tiếc là các vị khảo cổ của ta, khi đào tên đồng ở thành đất Đông Anh, lại không miêu tả là chúng đã được sắp xếp như thế nào?

Long Biên là thành mà Tiền Lý Nam Đế đánh chiếm đô hộ phủ của nhà Lương xong, thì cũng đóng đô ở đấy luôn. Thành Long Biên ấy đóng trên địa phận trại Bắc Lãm, còn Phong Khê (có thành Ốc) lại ở trên địa phận trại Khả Lãm (đã dẫn trên). Bắc LãmKhả Lãm ở gần nhau, là hai tên gọi vào thời Trần, khi cả vùng này được gọi là Ngũ Lãm hay Ngũ trang quán, trong đó, bao gồm: Thuần Lãm, Quang Lãm, Cổ Lãm, Bắc Lãm Khả Lãm (tính từ trên xuống). Thành Long Biên này, nay ở giáp hai làng Bắc LãmThượng Mạo của xã Phú Lương, vẫn còn lại nhiều dấu tích, chứ không phải như lời chú thích trong Đại Việt sử ký toàn thư tập I (bản dịch, in năm 1983) ở phần Kỷ nhà Tiền Lý: “Vị trí của thành Long Biên đến nay vẫn chưa xác nhận được, có thể ở vùng gần thị xã Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc”.

°°°

Bây giờ chúng tôi sẽ nói đến việc tại sao quê hương của Hai Bà Trưng lại còn được gọi là Hạ Lôi nữa.

Cách gọi Kinh đô Nghĩa Lĩnh của thời Bách Việt và các vua Hùng là cách gọi theo Ngọc phả Hùng Vương của Nguyễn Cố (thời Trần) nói về vùng đất này, vì trong đó có câu: “Hoan Châu thắng địa kiến lập Kinh đô Nghĩa Lĩnh”. Còn gọi theo sử sách thời trước là Phong Châu (cả sách Ta và sách Tầu, mà khởi đầu là việc ghi chép của quan lại nhà Hán, đã nói ở trên). Thời Thục – Triệu kinh đô ở Phong Khê trong đất Phong Châu. Thời Hai Bà Trưng ở Mê Linh – Phong Châu tức là ở ngay sát nơi “cung cấm” của các vua Hùng thuở trước. Suốt cả thời Bắc thuộc, vùng đất này được gọi là trang Cổ Lôi, vì thế mà sách của các vị Tộc trưởng họ Nguyễn ở đây mới đề là Cổ Lôi ngọc phả truyền thư. Cổ Lôi nguyên nghĩa là nơi đúc và sở hữu trống đồng (cổ) đánh lên có tiếng rền vang như tiếng sấm (lôi) mà ngay từ thời Bách Việt và các vua Hùng ở vùng này (tức vùng Kinh đô) đã có. Đến đầu thời Lý, Cổ Lôi được đổi thành Đại Lôi, và các vùng đất xung quanh Đại Lôi mang nhiều dấu tích cổ (thời dựng nước) cũng được đặt thành các tên: Đại Thành, Đại Ơn, Đại La, Đại Mỗ, Đại Hữu, Đại Lõi, tổng cộng là 7 vùng đất mang chữ Đại, về sau được gọi là: “Đất 7 tổng đứng đầu cả nước”. Trong sách Niên lịch thông thư, cụ Cao Xuân Dục (thời Thành Thái – Khải Định) viết: “Đất 7 tổng này to bằng cả huyện Tam Kỳ, gồm 275 phường ấp làng xã, sau đó nhiều địa danh được đem đặt cho cả nước”. Theo chúng tôi, đây là một tình tiết rất quan trọng, từ đó lý giải được việc tại sao ở nhiều địa phương lại có nhiều tên trùng với tên ở vùng Kinh đô của thời Bách Việt và các vua Hùng đến thế!

Cổ Lôi hay Đại Lôi là cách gọi theo âm Hán – Việt, còn gọi theo tên Nôm là Sấm, rồi được gọi biến ấm là Sốm, và cách gọi này, cho mãi đến ngày nay vẫn còn rất thông dụng.

Cổ Lôi hay Đại Lôi cũng là cách gọi để chỉ cả vùng này, tức địa bàn có hai xã Phú Lãm – Phú Lương đầu huyện Thanh Oai ngày nay. Còn nếu gọi theo cách chia đôi, thì trong đó có Thượng LôiHạ Lôi để chỉ hai miền trên, dưới. Nhà của cha mẹ Hai bà Trưng ở đầu của miền dưới (nay là làng Nhân Trạch xã Phú Lương), vì thế mà được gọi là Hạ Lôi.

°°°

Theo ba bộ sách của các vị Tộc trưởng họ Nguyễn ở vùng này mà ở phần trên chúng tôi vừa nhắc, thì ngoài các tên đã nói, như Tự Nhiên châu, Trường Sa châu, Bạch Hạc, Phong Châu, Phong Khê, Mê Linh, Hát Môn, Long Biên, Cổ Lôi, Đại Lôi, Thượng Lôi, Hạ Lôi, Nghĩa Lĩnh, Hoan châu, ái châu v.v…, còn có các tên gọi khác nữa để chỉ các địa danh lớn, nhỏ ở vùng này, tùy theo từng thời kỳ lịch sử nhất định. Đó là các tên: Tiên La, Tiên Đào để chỉ hai nghĩa địa lớn ở thời dựng nước. Trong Khánh Hội, trang Ký Hợp, Văn Lang trang, động Bích Nham, động Tân Xương, động Tân Phú là những địa danh của thời dựng nước. Thạch Thành, phủ Kinh Môn cũng là hai địa danh của thời dựng nước, để chỉ khu thành xây bằng đá và nơi thường trực trước cửa Kinh đô, các Lạc hầu Lạc tướng ở các miền, trước khi gặp nhà vua đều phải đợi ở phủ này. Hoan châuái châu là hai bãi bồi ven sông Hát, là nơi vào mùa lễ hội hàng năm, dân chúng các nơi về đây họp mặt, nhận họ hàng, múa hát và có quan hệ nam nữ theo sở thích và sự đồng thuận, để cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu – là những phong tục đã có ngay từ thời dựng nước. Cuối thời Lý, Đại Lôi còn được gọi là Thập Nhân (10 làng mang chữ Nhân), đó là Nhân Quán, Nhân Huệ, Nhân Thọ, Nhân Đạo, Nhân Định, Nhân Lý, Nhân Trạch, Nhân Mỹ, Nhân Vỹ, Nhân Hòa. Mười làng Nhân cũng được gọi là Đồng Nhân, đến nay, một vài làng vẫn còn lấy lại tên gọi cũ như: Nhân Trạch (xã Phú Lương), Nhân Huệ (xã Đồng Mai, phía trong xã Phú Lãm, Phú Lương). Thời Trần Đại Lôi được gọi là Ngũ Trang quán hay Ngũ Lãm bao gồm Thuần Lãm, Quang Lãm, Cổ Lãm, Bắc Lãm, Khả Lãm. Thời Lê, Đại Lôi được gọi là trang Cổ Tuyết rồi trang Thắng Lãm, các vùng đất nhỏ trong đó được gọi là Lôi Phong, Vân Lôi, Trạch Lôi, rồi lại được gọi là Lai Thành, Lai Hạ, Lai Cường. Đầu thời Nguyễn, Đại Lôi được gọi là Thủy Tiên trang. Thời ngày nay, cả vùng này là hai xã Phú Lãm – Phú Lương đầu huyện Thanh Oai, trong đó, các làng Thanh Lãm, Huyền Kỳ, Quang Lãm thuộc xã Phú Lãm, các làng Văn Nội, Nhân Trạch, Trinh Lương, Thượng Mạo, Bắc Lãm, Động Lãm thuộc xã Phú Lương.

Từ việc trình bày lại các địa danh ở vùng này theo dòng lịch sử, đối chiếu với hai địa danh Hạ Lôi ở tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng, thuộc hai huyện Mê LinhThạch Thất ngày nay mà Nguyễn Vinh Phúc đề cập đến trong cuốn Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội, chúng tôi thấy hai địa danh ấy chỉ là những địa danh trùng tên mà thôi, hay nói theo lời cụ Cao Xuân Dục, thì đó là hai địa danh được đặt theo tên của Hạ Lôi thuộc Cổ Lôi ở nguyên gốc (tức Cổ Lôi ở Thanh Oai ngày nay). Hai làng Hạ Lôi mới ấy, vì cũng thờ Hai Bà Trưng (thờ vọng) nên đã đặt tên như thế cho mình. Tuy nhiên, riêng địa danh Hạ Lôi – Bằng Trù (thuộc huyện Thạch Thất) lại còn mang thêm một đặc điểm khác nữa. Đó là việc, ở khởi đầu thời dựng nước (trong Bách Việt triệu tổ cổ lục gọi là thời Cực lạc), đây là nơi bắt đầu lập họ (9 họ ban đầu, về sau được gọi là Cửu tộc). Rồi đến thời Hai Bà Trưng, thì đấy còn là nơi hai Bà từ Phong Châu lên đây lập căn cứ, Tô Định mang quân đến đánh, quân khởi nghĩa thua chạy vào núi vua Bà (ở Hòa Bình), được quân của Lã Nam (hay Cai Công, chàng Hối) đến cứu, quân Tô Định thua chạy, hai cánh quân ta lại về Hạ Lôi – Bằng Trù tiếp tục bổ sung quân số, tập luyện, rồi sau đó, từ đây mang quân xuống đánh Tô Định ở Phong Khê.

Địa danh Hạ Lôi ở huyện Mê Linh mới đặt (vào năm 1977), theo sách Các tổng trấn xã, danh bị lãm (tên gọi mới là: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19) thì là một (cũng là tên tổng) của huyện Yên Lãng phủ Tam Đới trấn Sơn Tây, là tên mới có từ cuối thời Lê đầu thời Nguyễn, như chính Nguyễn Vinh Phúc khi về điền dã ở làng này, đã viết: “Cách đây khoảng 200 năm mới có tên (tức Hạ Lôi) như hiện nay”, trong cuốn sách của ông. ở xã Hạ Lôi này, cũng như ở làng Hát Môn (huyện Phúc Thọ – Hà Tây), ở phường Đồng Nhân (quận Hai Bà Trưng – Hà Nội)… đều có đền thờ Hai Bà Trưng, nhưng đó chỉ là những ngôi đền thờ vọng. Còn đền thờ chính của Hai Bà cùng các tướng lĩnh tham gia cuộc khởi nghĩa này thì là 24 tòa đền Trung được xây dựng ở Đại Lôi (tức địa bàn chủ yếu của hai xã Phú Lãm – Phú Lương đầu huyện Thanh Oai – Hà Nội bây giờ) cùng với 800 mẫu ruộng (nằm trong 2400 mẫu ruộng thờ của vùng này, do Quốc phụ, Quốc công, Hương quận công, là Tộc trưởng họ Nguyễn ở đây, quản lý), dùng để thờ cúng, hàng năm mở lễ hội, đón Hội đồng tộc biểu và đồng bào ở các nơi về dự, và các “sự kiện” này, được bắt đầu từ thời Đinh (968) kéo dài đến cuối thời vua Thành Thái (1907) mới chấm dứt.

Hiện nay ở địa bàn hai xã Phú Lãm – Phú Lương huyện Thanh Oai vừa nhắc, vẫn còn nhiều chứng tích nói về các sự kiện của thời Phong Châu như chúng tôi vừa trình bày, cùng với các bộ sách (Bách Việt triệu tổ cổ lục, Cổ Lôi ngọc phả truyền thư, Phả họ Nguyễn) của các vị Tộc trưởng họ Nguyễn ở vùng này, để lại…

°°°

Để góp phần làm sáng rõ thêm về địa danh Phong Châu như đã trình bày trên, chúng tôi xin nêu một số kết quả khai quật khảo cổ học bước đầu đã từng xảy ra ở vùng này trong thời gian qua.

Năm 1984, Hợp tác xã Phú Lương quyết định đào ao lấy nước chống hạn ở khu mộ Đế phía ngoài làng Văn Nội. Ông Nguyễn Vân Tằng – người giữ ba bộ sách kể trên – thấy nói với địa phương không kết quả gì, bèn lên Sở Văn hóa Hà Sơn Bình nhờ ông Giám đốc Hà Kỉnh can thiệp giúp, không nên đào. Nghe ông Tằng trình bày về khu đất này được ghi trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư là khu mộ của các vị vua thời dựng nước (tức thời Bách Việt và các vua Hùng). Nhưng ông Hà Kỉnh tỏ ý nghi ngờ và cũng không can thiệp.

Đến lúc dân đào tới chỗ có mộ, ông Tằng lại lên Sở Văn hóa, nhưng không gặp được Giám đốc, mà chỉ gặp ông Trưởng phòng Bảo tàng tỉnh. Ông này cho cán bộ về Phú Lương xem xét các hiện vật đào được, rồi sau đó ra đi, không nói năng gì.

Mấy ngày sau, nhiều mộ hở ra cùng với nhiều hiện vật tùy táng được tìm thấy. Ông Tằng nhờ bà con xã viên gom lại được 2 bao tải đầy gồm đồ đồng, đồ đá, còn đồ gốm sứ thì đã bị vỡ hết.

Những đồ đá thì có rìu đá, séo đá. Còn đồ đồng thì có giáo mác, tên đồng, tiền cổ, đặc biệt có cả tượng người ôm hai con chó và ấm chuyên trà ba chân. ấm này có đầu và cổ hình lạc đà, để đứng thì miệng há ra, rót nước thì miệng ngậm lại giữ bã chè khỏi rơi. Lại có cả vài chuỗi hạt đá quí. Rồi đồ đựng thức ăn, bát đĩa bằng đồng, trống chậu gội đầu bằng đồng… mà ở những nơi khác, chưa bao giờ đào thấy được.

Ông Tằng mang hai bao tải hiện vật lên Viện Sử học (ở Hà Nội) gặp Giáo sư Văn Tạo cùng các vị làm công tác nghiên cứu ở viện này… Viện Sử học cử anh Nguyễn Quang Trung về Phú Lương theo dõi việc đào bới, cùng bà con xã viên thu hồi các hiện vật về Văn phòng UBND xã Phú Lương.

Mấy ngày sau, nhiều đoàn cán bộ cấp cao của Nhà nước cùng các nhà khoa học như Giáo sư Phạm Huy Thông, Giáo sư Văn Tân và nhiều vị khác ở Viện Khảo cổ đã về đây nghiên cứu hàng tháng trời. Sau đó, thì mở một cuộc Hội thảo khoa học, có mặt hàng trăm vị là nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà báo… cùng chính quyền địa phương và đông đảo người dân tham gia.

Sau Hội thảo, Việt Nam thông tấn xã đã công bố các nội dung và hiện vật khai quật được trên đài truyền hình, truyền thanh và báo chí của thời bấy giờ.

Tiếp sau đó, lại có các đoàn khảo cổ học của Ba Lan, Cộng hòa dân chủ Đức về Phú Lương, khai quật tiếp ở khu mộ Đế, hai lần nữa. Sau khi đã qua giám định bằng tia phóng xạ vào chất Carbone 14 có trong hiện vật, các nhà khảo cổ học nước ngoài đã công bố trước dân chúng trong vùng này: “Khu mộ này chôn những người thuộc giai cấp quí tộc, sống cách ngày nay từ 2000 đến 3700 năm”.

Công việc khai quật, lúc đầu chỉ là ngẫu nhiên, nhưng về sau thì có chủ trương, đã phần nào chứng minh được những điều đã được ghi trong Bách Việt triệu tổ cổ lục Cổ Lôi ngọc phả truyền thư, rằng đây là nơi đã từng có Kinh đô Nghĩa Lĩnh của thời Bách Việt và các vua Hùng, Phong Khê của thời Thục – Triệu, Mê Linh hay Phong Châu của thời Hai Bà Trưng và Long Biên của thời Tiền – Hậu Lý (Lý Nam Đế). Tất nhiên, theo những ghi chép của hai bộ sách nói trên, thì nơi chôn cất các vị vua, các bà vợ, các vị Lạc hầu Lạc tướng v.v… không chỉ có ở khu mộ Đế ấy, mà còn có ở nhiều nơi khác nữa trong vùng, đặc biệt là hai nơi Tiên La, Tiên đào – hai nghĩa địa có từ thời dựng nước (tức thời Bách Việt và các vua Hùng).

Gần đây, tại khu mộ Đế, người ta lại đào được Trống đồng loại I, mà hình người trên đó đóng khố bằng dây thừng, rất phù hợp với điều được ghi trong Bách Việt triệu tổ cổ lục, rằng ở thời bấy giờ, Tổ tiên ta đã dùng dây thừng tết lại để làm vật che thân (nên sử sách mới gọi thời này là Việt Thường thị).

Cũng gần đây, thỉnh thoảng ở vùng này lại rộn lên những tin đồn về bọn trộm ban đêm đã đến đào được nào là giáp đồng, nào là mũ đồng cùng nhiều hiện vật khác. Chưa rõ thực hư thế nào, nhưng theo chúng tôi, đó là những dấu hiệu để các nhà chức trách có kế hoạch phòng chống trộm hữu hiệu, bảo vệ các di tích quý giá của Tổ tiên để lại.

Chúng tôi cho rằng, ở vùng hai xã Phú Lãm – Phú Lương đầu huyện Thanh Oai ngày nay, đã hội đủ các chứng tích từ sách vở, di tích (các đình chùa đền miếu, các mồ mả…) đến khảo cổ học, để nói lên rằng: đây đúng là nơi có Kinh đô Nghĩa Lĩnh, của thời Bách Việt và các vua Hùng, Phong Khê của thời Thục – Triệu, Mê Linh hay Phong Châu của thời Hai Bà Trưng, Long Biên của thời Tiền – Hậu Lý (Lý Nam Đế). Do vậy, việc chỉ định Kinh đô Nghĩa Lĩnh ở Đền Hùng (Phú Thọ), Phong Khê (có Loa Thành) ở Đông Anh (Hà Nội), Hai Bà Trưng ở Vĩnh Phúc, Long Biên ở gần thị xã Bắc Ninh… của giới sử học cần phải được cải chính lại cho chính xác, để phù hợp với thực tế lịch sử.

Vì trách nhiệm đối với di sản văn hóa dân tộc và vì sự nghiệp phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nên theo chúng tôi, đã đến lúc cần phải công khai để mọi tầng lớp nhân dân được biết về những vấn đề này, nếu cần thì tổ chức Hội thảo khoa học hoặc tranh luận một cách công khai, dân chủ trên báo chí, chứ không nên chỉ căn cứ vào ý kiến của một vài người để làm sai lạc sự thật lịch sử.

Hà Nội, tháng 7 – 2004


PHỤ LỤC II

Để bạn đọc có ý niệm rõ hơn về những phong tục tập quán, tín ngưỡng và lễ tiết, lễ hội nói nên sự gắn bó của người dân nước ta với đất, nước và với quê hương đất nước đã được trình bày ở phần nội dung, ở phần này chúng tôi xin trích lại dưới đây sự miêu tả, thể hiện và đánh giá của một số tác giả về các phong tục tập quán, tín ngưỡng và lễ tiết, lễ hội ấy (theo chúng tôi, trong các bài viết này, có lẽ trừ hai vị Phan Kế Bính, Toan Ánh, còn các tác giả khác đều nhìn nhận sự kiện, vấn đề… chủ yếu bằng tâm thức của người ở thời hiện đại).

1.Về mối quan hệ với đất

Chọn đất đặt huyệt

Trong việc tang ma, ngôi huyệt rất quan trọng.

Theo quan niệm về phong thuỷ của ta, một ngôi đất có thể làm cho con cháu phát đạt, nhưng cũng có ngôi đất chỉ đem lại sự lụn bại cho huyết thống. Đất có ảnh hưởng sâu xa tới xương cốt người khuất. Có chỗ xương cốt được bảo tồn, và có chỗ xương cốt mau bị hư hại, việc bảo tồn hoặc hư hại này đều có ảnh hưởng tới con cháu.

Ta thường nói:

Sống về mồ về mả, ai sống về cả bát cơm

Lại có câu:

Làm quan có mả, kẻ cả có dòng

Qua những câu trên ta thấy rằng ta tin về mồ mả lắm. Chính vì sự tin tưởng này mà trước khi an táng ông bà cha mẹ, tang gia bao giờ cũng chọn ngôi huyệt rất cẩn thận và cũng chính vì vậy, những người khá giả thường xây sinh phần để khi nhắm mắt, con cháu đã sẵn có nơi chôn cất khỏi phải tìm kiếm.

Việc tìm đất thường nhờ các thầy địa lý đảm trách. Ngôi huyệt sẽ được chọn theo sự mong mỏi của con cháu. Có ngôi đất phát giàu có, có ngôi đất phát quan sang, lại có ngôi phát đa đinh, con cháu đầy đàn, hoặc phát tiếng tăm lừng lẫy về một phương diện gì: văn chương, võ nghệ, v.v…

Phần nhiều con cháu nhờ kén ngôi đất để xương cốt của ông cha giữ được lâu bền không bị mối, mọt hoặc mục ngõ hầu trách những điều có thể làm đau xót tới vong hồn người chết và do đó cũng có hại cả cho con cháu nữa.

Nghề địa lý tìm đất có thể gọi là một nghệ thuật của người xưa. Tìm đất căn cứ vào hướng gió và mạch đất, do đó địa lý còn gọi là phong thuỷ vì tìm huyệt cần phải căn cứ vào hướng huyệt để đón gió lành vào long mạch để nhận sự mát mẻ của nước ngấm dưới đất.

Một ngôi huyệt tập trung được đủ mọi yếu tố làm cho đất vượng chẳng khác chi đầu não, hướng nhận mọi long mạch chạy tới, có đủ sơn thuỷ.

Theo sách địa lý, ngôi huyệt đúng đất gọi là huyệt trường, phải có tiền án, hậu trầm, tả long, hữu hổ, tức là có những mô đất cao thấp tượng trưng cho án huyệt, ao nước, tay long, tay hổ. Ngoài ra trước huyệt phải có minh đường thuỷ tụ, phía sau phải có long mạch thu thúc, phía ngoài phải có bàng sa triều củng, cốt phải có tụ khí tàng phong.

Những thầy địa lý phân biệt ngôi huyệt tốt xấu theo các mô đất. Ở đây thượng nhất thốn vi sơn, hạ nhất thốn vi thuỷ, nghĩa là đất cao hơn một tấc là núi, thấp hơn một tấc là nước.

Thường tang chủ chọn huyệt ở đất làng hoặc ở các làng lân cận để tiện việc trông nom mồ mả về sau.

Huyệt dùng cho việc hung táng, nghĩa là chôn người mới chết, tuy chọn nhưng cũng không kỹ lưỡng bằng khi chọn huyệt cát táng, nghĩa là khi cải táng. Ngôi huyệt lúc cải táng mới là ngôi huyệt vĩnh viễn.

(Toan Ánh: Nếp cũ con người Việt Nam (phong tục cổ truyền), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr. 348 – 349).

Am chúng sinh

Mỗi làng, đầu làng hoặc cuối làng, có một khu đất rộng để làm chỗ tha ma mộ địa, trong làng có ông già bà cả hoặc người nào mất thì cứ đem tại đó mà chôn.

Mỗi chỗ tha ma mộ địa có lập một cái am năm ba gian, hoặc xây bệ lộ thiên, đề ba chữ “hàn lâm sở”, để thờ chung cả những mồ mả vô chủ, gọi là am chúng sinh. Mỗi cửa am có một bà đồng ở sớm tối đèn hương thờ phụng. Về ba tháng hè thì cứ ngày rằm, ngày mồng một nấu cháo cúng, đổ vào cái lá đa cuộn tròn lại, cắm hai bên dọc đường gọi là cúng các quan, hoặc gọi là cúng bách linh. Cho nên tục có câu rằng: cướp cháo thí lá đa, là nói những người vô hậu.

Bà đồng ở đó thường bày một cái nong ra cạnh đường đi; đốt vài nén hương để quyên giáo, kẻ qua lại ai cũng cúng một vài đồng kẽm. Bà đồng thì ngồi trong am đánh trống kể kệ, hoặc là họp năm ba bà vãi chèo đò.

Nhiều nơi mỗi năm về tháng bảy, hoặc công làng, hoặc riêng một hội thiện, thiết điện tràng tại cửa am để làm chay, cúng hai, ba ngày hoặc năm, bảy ngày.

Làm chay, trước hết có nhà sư cầm gậy tầm xích, các vãi cầm phướn và vài ba người đạo tràng đánh trống khua não bạt đi khắp đám tha ma mộ địa gọi là đi rước linh. Rước linh về đàn thì cúng. Trong đàn từng trên thiết thượng Phật, từng dưới thiết vị bách linh, ở ngoài cũng có mã mùng.

Cúng Phật thì dùng lễ oản quả, cúng bách linh thì dùng oản quả, hoặc dùng lợn, gà tuỳ ý.

Hôm bắt đầu phát tấu tụng kinh, cầu nguyện cho chúng sinh được siêu sinh tịnh độ hôm sau dẫn lục cúng, rồi cũng có phóng sinh trí thực như lễ kỳ an. Hôm sau cùng thì chạy đàn phá ngục.

Cách chạy đàn, có mấy người đạo tràng, đóng tuồng Đường Tăng, Đại Thánh, Sa Tăng, Bát Giới chạy xung quanh đàn, và có làm nhà ngục bằng giấy, ông thầy đâm phá các cửa ngục, nghĩa là cứu cho chúng sinh thoát khỏi vòng giam cầm ở dưới âm ty.

Đoạn lễ tạ hoá vàng mã.

Các nơi chiến trận, có nhiều tướng sĩ tử trận chôn một chỗ thì nhà vua lập đàn thờ, gọi là Lệ đàn. Lệ đàn thì mỗi năm nhà vua sai quan về tế, hoặc là hội thiện góp tiền với nhau mà cúng hay là làm chay.

Tục thường cho chỗ am chúng sinh và lệ đàn là nơi rất thiêng liêng, cho nên nói đến việc bách linh thì nhiều người dốc lòng làm phúc. Nhất là những khi bất đắc dĩ phải thiên mộ địa đi nơi khác, có nhà giàu tranh nhau mà cúng tiểu, cúng gạch bát tràng, còn các thiện nam tín nữ thì tranh nhau mà đi rước bách linh, để bách linh phù hộ cho được vạn sự như ý.

(Phan Kế Bính: Việt Nam Phong Tục, Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp, 1990, tr. 127 – 128).

1. Về mối quan hệ với nước

Rước nước

Trước khi vào đám một ngày, dùng đủ đồ nghi trượng đi rước nước. Rước nước là tìm gần miền có giếng nước nào trong sạch, thì đến tại đó mà lấy nước về. Hoặc lấy nước ở hồ sông thì bơi thuyền ra giữa dòng mà lấy. Lấy nước xong rước về miếu, để dùng nước ấy tắm rửa thần vị và để dùng làm nước dùng.

(Phan Kế Bính: Việt Nam Phong tục, Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp, 1990, tr.95 – 96).

Đám rước bảy kiệu

Đã có đình đám tất nhiên có rước xách, nhưng đặc biệt đám rước nước của Tự Nhiên Châu Xã (thuộc Thường Tín, Hà Tây) cử hành ngày mồng 1 tháng 4 rất long trọng và nhộn nhịp hơn những đám rước các xã lân cận với bảy long kiệu, của đình Thượng ba kiệu, đình Hạ ba kiệu và đình Thuỷ Tộc một kiệu.

Thôn Thượng và thôn Hạ, sở dĩ mỗi thôn có ba cỗ long kiệu vì ở những nơi đây dành cho ba vị linh thần Chử Đồng Tử và hai vị phu nhân, mỗi người một long kiệu, riêng thôn Thuỷ Tộc cũng thờ cả ba vị, nhưng họ rước trên một long kiệu với bài vị chung.

Đám rước bắt đầu từ đình thôn Thượng. Đúng theo nghi trượng cổ truyền với một nghi vệ trọng thể đầy đủ các tự khí với trống, chiêng, cờ quạt, tàn lọng và bát âm nhã nhạc. Lúc bắt đầu, đám rước chỉ cử hành với dân thôn Thượng với ba cỗ kiệu của thôn này. Đám rước đi từ đình thôn Thượng tới đình thôn Hạ thì tạm ngừng để chờ dân thôn này cũng rước ba cỗ kiệu với các tự khí như thôn Thượng.

Rồi đám rước tiếp tục, thôn Thượng đi trước, thôn Hạ đi sau, tiến thẳng nẻo sông Hồng Hà. Khi tới ngã ba đường, nơi đường làng Tự Nhiên gặp con đường đi đến bên sông thì ở đây dân thôn Thuỷ Tộc đã sẵn sàng chờ đợi với cỗ kiệu của mình để đi tiếp vào sau đám rước, tiến ra bờ sông.

Tại bến sông, đã sẵn sàng bảy chiếc thuyền lớn, rước bảy chiếc kiệu ra giữa dòng sông để lấy nước trong, dùng trong lễ mộc dục.

Quãng sông Hồng Hà thuộc địa phận xã về phía hữu ngạn đã được dân làng cắm cọc và có thuyền chăng dây để ngăn cản thuyền bè qua lại. Cờ ngũ hành được trương lên ở khúc sông nơi bắt đầu vào và nơi rời khỏi địa phận làng để báo hiệu từ xa cho mọi thuyền bè xuôi ngược biết. Và dân làng cũng đã cắt người đứng sẵn trên thuyền từ sáng sớm, mỗi khi có thuyền bè đi qua đều ra hiệu để họ đi tránh về phía bên kia sông.

Bảy cỗ kiệu trên bảy chiếc thuyền bơi ra giữa dòng sông Hồng Hà, có những thuyền cờ quạt và âm nhạc đi theo. Đến giữa dòng sông cả ba thôn đều lấy nước để cho thôn mình dùng trong lễ mộc dục. Lấy nước xong, đám rước lại quay trở về. Lúc này, khi bảy chiếc thuyền rước bảy chiếc long kiệu cập bến, kiệu thôn Thuỷ Tộc được rước lên đầu tiên, thứ đến ba chiếc kiệu thôn Hạ, rồi mới đến ba chiếc kiệu thôn Thượng.

Đám rước theo con đường cũ trở về, các kiệu đi theo thứ tự lúc ở sông lên. Đến ngã ba đường, nơi kiệu thôn Thuỷ Tộc đã nhập vào đám rước lúc trước, đám rước ngừng lại rồi một lát sau thôn Thuỷ Tộc rước kiệu thôn mình về đình thôn. Hương chức ba thôn họp mặt trước khi kiệu thôn nào rước về thôn đó, hương chức thôn Thuỷ Tộc tới khấu đầu trước các kiệu hai thôn Thượng, Hạ, và hương chức hai thôn này cũng tới khấu đầu trước kiệu thôn Thuỷ Tộc.

Chờ cho kiệu thôn Thuỷ Tộc đi rồi, hai thôn Thượng và Hạ lại tiếp tục rước 6 chiếc kiệu trở về, kiệu thôn Hạ đi trước, kiệu thôn Thượng đi sau. Đám rước trở về trước đình thôn Hạ thì ngừng lại. Ở đây dân thôn Hạ rước ba kiệu vào trong đình sau nghi thức khấu đầu của hương chức thôn này trước ba chiếc kiệu của thôn kia.

Còn lại dân thôn Thượng với ba chiếc kiệu của thôn mình, họ tiếp tục đám rước cho đến đình thôn.

Đám rước chung của ba thôn rất nhộn nhịn tưng bừng cờ quạt tán tàn phấp phới, chiêng, trống ầm ĩ với những bản nhạc của phường bát âm. Dân chúng ba thôn đi theo đám rước tới tận bờ sông họ chờ ở đó để lại đi theo đám rước thôn nào về đình thôn đó, khi các kiệu ra giữa sông lấy nước trở về.

Điểm đặc biệt ở đây bạn đọc hẳn nhận thấy, lẽ ra lễ mộc dục, như tại các làng khác chỉ cử hành ở đình chính của làng, thì ở đây, lễ này đã được cử hành ở cả ba đình thôn Thượng, thôn Hạ và thôn Thuỷ Tộc. Những cuộc tế lễ của ba thôn cũng cử hành riêng, và trong ba ngày hội, hương chức hai thôn nọ phải tới lễ tại đình thôn kia, và dân chúng cả ba thôn đều kéo nhau đi lễ ở cả ba ngôi đình, tuy họ hiểu ở cả ba nơi này đều thờ chung Chử Đồng Tử và hai vị phu nhân.

(Toan Ánh: Nếp cũ hội hè đình đám, quyển hạ, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr. 125 – 126 – 127).

Lễ rước nước ở hội đền Chử Đồng Tử

Mở đầu hội là lễ khai mạc. Mọi người cùng nhau ôn lại truyền thuyết về mối thiên duyên Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa cùng Tây Sa công chúa. Sau lễ khai mạc là lễ rước nước, tức là lễ lấy và mang nước ở sông Hồng về đền. Theo tục lệ thì nước dùng trong việc Thánh ở đền trong cả năm như làm lễ mộc dục (lau tượng), nước cúng phải là nước được lấy ở giữa dòng sông Hồng. Lực lượng tham gia lễ này gọi là giai đồ, có tới hàng trăm người, được biên chế thành các đội như: đội tế nam gồm các vị trung niên trở lên, đội tế nữ gồm các bà trung niên trở lên, đội múa sênh tiền (múa tiên) gồm các thiếu nữ tuổi chừng 13, 14, ban nhạc lễ, đội múa rồng, đội khiêng kiệu Thánh, đội khiêng kiệu choé đựng nước, lực lượng chèo thuyền… các đội này có trang phục ngày hội, kiểu cách riêng. Đi đầu đám rước là hai con rồng vàng lộng lẫy uy nghi được đám rước đến hơn mười người múa, uốn lượn theo nhịp trống phách dồn dập. Múa rồng là một nghệ thuật, làm sao cho giống “rồng bay”. Dẫn đoàn rước kiệu là hai hàng các bà, các cô trong đội tế nữ trong những bộ xiêm y, dài đủ màu xanh, đỏ, vàng, trắng. Sau đám rước rồng là ban nhạc lễ, sau đó đến kiệu Thánh có lọng che hai bên, cùng bát bửu, chấp kích do trai thanh gái lịch trong làng rước. Kiệu choé sứ có bệ đỡ, có lọng che, treo trên 4 dải lụa đỏ buộc dưới đít kiệu, luôn luôn được 2 cụ già đi 2 bên giữ cho cân bằng. Hàng đoàn người trong trang phục ngày hội nối tiếp nhau theo đám rước tới bờ sông. Bên kia sông, trên bãi cát trắng Tự Nhiên, nơi Chử Đồng Tử và Tiên Dung gặp gỡ buổi đầu cùng cờ xí rợp trời. Đó là đám hội của làng Ngự Dội chờ tham gia đoàn rước về trình Thánh. Đoàn rước đến bến Tuần thì dừng lại. Tại đây, hai con rồng được đưa xuống hai chiếc thuyền chở những đồ với nguyên cờ xí và những đồ tế tự trên tay. Trong tiếng trống náo nức, tiếng đàn nhị, sáo sôi động đoàn thuyền rước bắt đầu bơi sang bãi Tự Nhiên. Lúc này cảnh đẹp nên thơ và trữ tình. Trên sông, hai con rồng đang “bay” cùng hàng chục chiếc thuyền kết đầy cờ hội đang du ngoạn trên mặt nước như cảnh đoàn thuyền Tiên Dung thuở nào. Chiếc thuyền mang choé từ chỗ đang được dòng nước cuộn chảy đẩy xuôi dòng đã được những cánh tay trải khoẻ mạnh lại xoay ngang giữa dòng. Cùng lúc, những con thuyền chở đoàn đi theo cũng bẻ lái cho thuyền quây quần thành vòng tròn quanh chiếc thuyền mang choé. Cuộc múc nước được tiến hành. Người được chọn ra múc nước là một người già đức độ, khoẻ mạnh, mặc lễ phục, tay cầm chiếc gáo dừa sơn đỏ cúi xuống múc từng gáo đổ vào choé tới khi đầy. Xong việc, đoàn thuyền quay vào bờ trong tiếng trống, chiêng, tiếng mái chèo làm náo động cả lòng người. Đám rước lại tiến hành theo thứ tự như lúc đi theo sau hai con rồng vàng trở về đền.

(Trích ở bài: Hội đền Chử Đồng Tử của hai tác giả Nguyễn Minh San – Nguyễn Chí Bền trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân tộc – Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội, 2000, tr. 343 – 344).

Rước nước ở lễ hội Chử Xá

Đoàn rước nước bắt đầu khởi hành từ đình, đi về hướng lăng để đón choé của Thánh phụ Thánh mẫu ở đó, rồi hướng ra bờ sông. Đi đầu đoàn rước là những nam thanh niên cầm cờ hội, cờ ngũ sắc, tiếp đến là các chàng trai rước bát bửu (trường đao, kiếm bút, quạt, khánh, bàn cờ…) rồi đến đội trống chiêng của các ông trung niên. Tất cả những người này đều mặc áo dài lễ, thắt lưng xanh đỏ. Tiếp theo là đội múa sinh tiền của 12 em gái (8 – 12 tuổi), được làng chọn là những em ngoan nết, con cháu các gia đình hoà thuận. Các em đều trong trang phục áo tứ thân màu đỏ, quần trắng, thắt lưng vàng, khăn dài choàng vai màu xanh. Các em vừa đi vừa múa sinh tiền tạo tiếng nhạc nghe thanh nhẹ, vui tai, những đôi tay kẹp khăn choàng đưa lên, vòng xuống tạo thành những cánh lượn uyển chuyển, các cụ còn gọi là điệu múa tiên. Có hai chàng trai đóng giả nữ múa điệu con đĩ đánh bồng, cũng đi liền đây. Cụ tiên chỉ đi tiếp sau, bốn thanh niên khiêng hương án có hương nhang và hoa quả rồi đến các chàng trai khiêng kiệu đặt choé nước, họ đều mặc áo dài trắng với thắt lưng màu đỏ. Cuối đoàn rước là các bô lão, chức sắc, tư văn và dân làng.

Đến bờ sông (cách làng khoảng 3 km), những chiếc thuyền đã chờ sẵn và đón đoàn rước ra sông. Mỗi thuyền chở một kiệu có choé nước, những người khiêng và một ông được phân công múc nước. Cụ Tiên chỉ ở trên thuyền với choé nước của Chử Đồng Tử – Tiên Dung và Tây Sa, đi kèm theo là đội trống chiêng, tù và… Các đội múa sinh tiền và đĩ đánh bồng ở các thuyền sau. Còn một vài thuyền chở các vị chức sắc và một số dân làng. Đoàn thuyền rồng được cụ tiên chỉ hướng dẫn bơi vòng theo hướng ngược dòng về đầu nguồn, trông xa giống những con rồng thật đang quấy nước theo nhịp trống chiêng, tù và và tiếng nhạc sinh tiền. Sau đó, đoàn thuyền dừng ở giữa sông để chọn một luồng nước trong làm lễ lấy nước.

Hương án lúc nào cũng nhang khói thơm ngát. Cụ tiên chỉ đọc bài văn tế hà bá rồi ném vàng thoi (đồ mã) xuống nước (500 thoi). Xong nghi thức này, những người được chỉ định lấy nước sẽ dùng gáo (sơn son thiếp vàng) múc nước dưới sông lên và mỗi vị Thánh chỉ cần lấy 4 gáo nước. Như vậy, choé của Đức thánh Chử và nhị vị phu nhân cần 12 gáo nước, choé của Càn Hải Đại Vương Tứ Vị Thánh Nương cần 16 gáo và choé của bố mẹ Chử Đồng Tử cần 8 gáo.

Lấy nước xong, các thuyền đưa đoàn nước về bến rồi theo đường cũ trở về lăng và đình. Các choé nước được đưa vào lăng và đình để chờ lễ mộc dục, cụ tiên chỉ lại khấn trình Thánh và các choé nước. Nghi lễ rước nước kéo dài tới 4 – 5 tiếng đồng hồ.

(Trích trong bài: Lễ hội Chử của Đỗ Lan Phương trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb. Văn hoá dân tộc – Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội, 2000, tr. 349 – 350).

Lễ rước nước và phong tục tập quán có liên quan đến nước ở các làng ven sông Đáy – Thanh Oai, Hà Tây (trích):

Trước ngày 12 tháng giêng lễ hội chính ở chùa Bối Khê (thờ Đức Thánh Bối đã trình bày ở phần nội dung), dân làng tổ chức lễ rước nước từ giếng chùa Bùi Xá (cách khoảng 3 cây số) với đầy đủ các nghi thức. Sở dĩ như vậy là vì Đức Thánh đã phát tâm hướng Phật chính là từ chùa này.

Ở làng Cao Mật, trước ngày mở hội làng (10 tháng 2 âm lịch), sau khi các vị chủ tế bồi tế và chức sắc làm lễ mộc dục ở trong hậu cung đình xong, thì thanh niên trai tráng trong làng mang các đòn khiêng kiệu vào tận sông Đáy (cách khoảng 2 cây số) để rửa rồi lại mang về đình để đến ngày hôm sau vào hội.

Ở làng Thượng Thanh có tục rước nước về làm bánh như sau:

Sáng sớm ngày mồng 9 tháng 2 âm lịch, trai chưa vợ, gái chưa chồng của các gia đình quang quẻ cùng mấy cụ già gánh gạo nếp vào tận sông Đáy cách chừng 3 cây số, để sóc gạo ở giữa sông.

Gạo được trút vào rá ngâm xuống nước rồi dùng hai tay sóc chứ không được vo, bao giờ hết nước đục thì mang lên, trút lại vào thúng. Khi đã xong xuôi, ra về còn gánh theo mấy gánh nước lấy ở giữa sông, vừa đi vừa vẩy vào gạo để giữ độ ẩm. Số nước còn lại vẫn được gánh về nhà hai ông đăng cai để sau đó còn nhào bánh, đun bánh.

Bánh ở đây là bánh trôi (hay bánh thuỷ). Tất cả vật liệu (gạo, nước) và dụng cụ (mâm, thúng, nồi…) tập trung ở nhà hai ông đăng cai của 4 giáp (cắt đặt theo kiểu lần lượt).

Làm các việc ở giữa sân, xung quanh sạch sẽ, trên chăng cót dưới có các cột chống. Giã gạo vào cối đá to, bằng chày đứng, giã tay. Bên nam một cối, bên nữ một cối, trang phục ngày thường sạch sẽ. Trong khi giã gạo có rảy thêm nước, gạo rơi ra hột nào thì có người chấm lấy, để riêng ra một nơi chứ không được dùng lại. Giã hết bột lần thứ nhất thì đem rây, rồi giã lần thứ hai, lần thứ ba. Hết lần thứ ba thì bỏ lại. Bột mịn cả ba lần hoà chung, được chế nước (sông) vừa độ, hai bên nam, nữ cùng nặn bánh. Đun nước mỗi bếp chọn một ông già. Nhân bánh bằng đường phên đặt mua ở làng Cao Mật (nơi sản xuất) nhưng với điều kiện phải thật tinh khiết. Nặn bánh xong thì đặt vào rây, chia ra thành từng mẻ, rồi cả hai bên nam, nữ cùng đổ vào một nồi. Bánh chín đến đâu (chín thì nổi lên mặt nồi nước) thì ông lấy bánh (cũng là ông đun bánh) dùng “thon nót” vớt ra, đổ vào chậu nước lã (nước sông). Tiếp đó, ông dùng cùi tay (đã rửa sạch) đánh nhẹ ba lần theo vòng tròn vào mặt chậu để cho bánh được tròn, xong, thì vớt ra bát. Bát ô tô cổ, đựng được khoảng 1 cân bánh. Bánh nặn nhỏ, để lên phải trong suốt, trông được từ bên nọ sang bên kia. Mỗi bếp phải có 16 bát, nên cả hai bếp là 32 bát. Bánh làm xong để ở nhà ông đăng cai, trên bàn có lồng bàn đậy, chờ đến sáng hôm sau rước lên đình lễ.

(Trích trong liệu điền dã của tác giả chuyên luận).

2. Các trò vui chơi có liên quan đến sông nước

Bơi thuyền

Đình làng Văn Trưng (thuộc Vĩnh Tường, Vĩnh Yên) thiết lập trên một mô đất cao, trông thẳng ra đầm làng, tục gọi là đầm Dưng. Theo phong thủy, tục bảo đấy là trán rồng. Hai bên đình có hai chiếc ao nhỏ, hai mắt rồng. Trước cửa đình có một sân gạch, nơi ban hội đồng làng ngồi dự các cuộc vui, nhất là cuộc thi bơi thuyền trên đầm Dưng.

Đầm Dưng tương truyền là thân rồng uốn khúc và chính giữa đầm là hàm ngọc rồng.

Hàng năm, khi có cuộc thi thuyền, ở giữa đầm, nơi được coi là hàm rồng có cắm một cây tre làm đích cho cuộc thi.

Những chiếc thuyền dự thi là những chiếc thuyền bằng ván, dài chừng năm sáu thước. Trên mỗi chiếc thuyền có sáu người ngồi cùng bơi thuyền. Bơi thuyền trong cuộc thi này không ai dùng bơi chèo, mỗi người dự bơi được sử dụng hai tay hai chiếc đĩa phố, bơi thuyền bằng những đĩa này. Họ có lối cầm đĩa để bơi mạnh và mau: bốn ngón tay nhỏ để lên trôn đĩa, ngón tay cái giữ trong lòng đĩa. Khi bơi bàn tay phải úp xuống, như vậy bơi đã nhẹ, thuyền lại đi nhanh. Muốn dự bơi những tuyển thủ đều có luyện tập trước.

Những thuyền thi đều của dân làng, được sắp hàng một dãy ngay bờ đầm mé trước đình.

Trước cuộc thi, ban hội đồng rút thăm để từng đội lấy thuyền, mỗi chiếc thuyền mang một số, đội nào rút trúng chiếc thuyền nào sẽ bơi bằng chiếc thuyền đó.

Sau cuộc rút thăm, các đội đua đến ban hội đồng lĩnh đĩa và số thuyền.

Để được gọn gàng trong lúc bơi, các tuyển thủ đều cởi hết quần áo, mỗi người chỉ còn bận một chiếc khố mầu, thường một đội sáu người cùng bận khố một mầu.

Các tuyển thủ bước xuống thuyền, cùng xếp hàng thuyền theo chữ nhất để chờ lệnh bắt đầu cuộc bơi qua một hồi trống.

Trong lúc ấy trên bờ đông nghẹt khách xem hội, người làng và người thiên hạ. Có người thuê thuyền riêng bơi ra giữa đầm để dự khán cuộc đua cho tường tận.

Một hồi trống ngũ liên nổi lên, điểm thêm ba tiếng sau cùng, đó là hiệu lệnh để cuộc đua bắt đầu.

Tiếng trống dứt, những chiếc thuyền chen nhau vùn vụt đi như những mũi tên lao thẳng trên mặt đầm. Có những thuyền tranh nhau, lấn nhau. Có nhiều tay đua bị ngã xuống đầm, nhưng không sao, không bao giờ xảy ra tai nạn. Sự tổ chức của dân làng rất chu đáo, chính những người dự bơi đều là những tay bơi lội có hạng!

Mọi chiếc thuyền đều nhằm đích, cây tre cắm ở giữa đầm; thuyền nào tới đích trước, nhổ lấy cây tre đó, mang về đình lĩnh thưởng.

Cũng có năm, ban hội đồng không cho phép được nhổ cây tre. Thuyền nào cũng phải đi vòng cây tre từ trái qua phải, quay trở lại đình. Thuyền nào về tới đình trước được sắp hạng trên, và sẽ tuỳ theo hạng được giải thưởng.

Những chiếc thuyền tăm tắp ra đi, vài chiếc thuyền đụng nhau, có người rớt xuống nước, nhưng những người còn lại trên thuyền không bỏ cuộc, họ cứ đều tay bơi tiếp. Theo nhịp tay của họ, đoàn thuyền sau trước phăng phăng rẽ nước ra đi. Những đầu người cúi xuống ngẩng lên theo đà tay, nhấp nhô khiến cả đoàn thuyền trông giống như một con rồng lượn.

Bơi thuyền cần phải có lối bơi đồng đội, đều tay đều nhịp, thuyền sẽ đi nhanh.

Trên bờ, khách xem hội hò reo khuyến khích.

Hội chợ Dưng bao giờ cũng vui với những cổ tục trên, lại thêm vào những trò vui mới. Vui, vui đến độ:

Bỏ con bỏ cháu
Không ai bỏ mồng sáu chợ Dưng
(Toan Ánh: Nếp cũ hội hè đình đám, quyển hạ. Nxb, Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr. 75, 76, 77).

Thi thuyền trên sông Lô

Cuộc thi thuyền hàng năm của làng Bạch Hạc (huyện Bạch Hạc, Vĩnh Yên) tổ chức vào ngày rã đám trong kỳ hội từ mồng 10 đến 13 tháng 3, tổ chức ngay trên dòng sông Lô để dân xã và khách trẩy hội từ thập phương tới có thể đứng hai bên bờ sông dự xem.

Làng có bốn giáp: Bộ Đầu, Tiểu Hạc, Đông Nam và Thần Chúc. Mỗi giáp có một chiếc trải dài bằng gỗ chò1, dài hơn hai chục thước, rộng chừng thước

rưỡi, đóng bằng nguyên cả cây gỗ theo chiều dài. Chiếc trải có năm chục bơi chèo ở hai bên; đầu trải uốn thành đầu rồng và đuôi trải cũng lượn khúc như đuôi rồng.

Để dụ cuộc bơi trải các giáp đều kén những dân đinh khoẻ mạnh sung vào những tay bơi, mỗi giáp năm chục người cho chiếc trải, nhưng giáp nào cũng kén dư một số người dự khuyết. Ngoài những tay bơi, mỗi giáp còn phải kén ba người, ba người này thường là các bậc đàn anh trong giáp, một người đứng đầu thuyền cầm cờ hiệu, một người đứng giữa gõ một chiếc trống khẩu để giữ nhịp cho những tay chèo, và ở cuỗi thuyền, một người ngồi cầm lái2.

Mỗi bên mạn thuyền là hai mươi lăm tay chèo, đây là những tay trai lực lưỡng đã được hàng giáp lựa chọn, và đã có luyện tập cùng với ba vị đàn anh điều khiển chiếc trải. Trong lúc bơi, họ vừa chèo vừa hò reo.

Người đứng đầu thuyền cầm cờ hiệu, và đồng thời cầm trịch cho chiếc thuyền bơi. Người này trước hết phải luôn luôn đứng cho cân, tự giữ lấy thăng bằng, đừng vì mình mà thuyền thiên lệch, gây khó khăn cho các tay bơi. Đứng trên thuyền cho vững, mặc con thuyền lao đi vun vút trên mặt nước theo đà các tay chèo, trong khi đó lại phải cầm trịch cho chiếc trải, dùng cờ hiệu phất cho chiếc trải hoặc đi thẳng hoặc tiến trái, hoặc tiến phải, hoặc vòng theo một độ nào để quay đầu trở lại, quả không phải là một việc dễ dàng. Chỉ cần một chút sơ ý có thể ngã lao xuống nước trong khi chiếc trải vẫn vun vút bơi đi.

Người cầm trống khẩu đứng giữa thuyền cũng phải giữ mình cho cân, cho khỏi ngã như người cầm trịch. Và tiếng trống phải sao cho đều để khỏi lạc tay chèo những người đang bơi.

Người cầm lái đứng ở cuối, cầm cả vận mệnh của chiếc trải trong tay, trải đi nhanh hay chậm là do nhiệm vụ người cầm lái. Phải giữ lái cho trải đi thẳng, phải lựa tránh những chiếc trải khác mà vẫn vượt lên đều. Lại còn lúc quay, khi lượn, phải lựa cho thuyền theo lái. Với từng ấy khó khăn, người cầm lái phải đứng cho vững, cho cân trên cuỗi thuyền, nếu vô ý ngã xuống sông, chiếc trải không lái sẽ bơi ngang bơi ngửa…

Người cầm lái phải luôn luôn để ý tới người cầm trịch, theo hiệu của người cầm trịch lái chiếc trải.

Năm chục tay chèo, đã ngồi xuống thuyền trải, phải chú ý hết đến việc bơi, tai phải nghe tiếng trống, tay phải bơi cho đều đều, đừng sai nhịp với bạn cùng bơi. Một tay chèo bơi sai nhịp, có thể gây rối loạn cho ba bốn tay chèo khác, có khi cho cả một mé chiếc trải.

Thật là khó khăn! Do đó phải có sự luyện tập hàng tháng trước.

Lúc xuống bơi trải, các tay chèo đều mình trần trùng trục mỗi người chỉ vận một chiếc khố, mỗi bọn một mầu khố đều nhau, trông thật đẹp, nhất là khi hàng đoàn họ dắt nhau xuống từng chiếc trải trước cuộc bơi, trông họ với thân hình nở nang, bắp tay rắn chắc, có thể ví họ như những bức tượng đồng lực sĩ.

Lúc cuộc thi bắt đầu, bốn chiếc trải xếp hàng đều nhau ở ngay trước cửa đình làng. Thật là một cảnh nhộn nhịp cho người xem và cả cho người dự cuộc. Dân giáp nào cũng hồi hộp như chính những tay bơi.

Trên chiếc trải, ngoài những tay chèo mình trần đóng khố, ba người đàn anh cầm trịch, đánh trống và giữ bánh lái, người nào cũng khăn đóng áo dài, thắt lưng đỏ buộc múi sang bên, trông có vẻ ung dung bình tĩnh và rất tự tin.

Các chiếc trải khởi hành ở trước cửa đình làng và bơi cho tới ngã ba sông nhánh chảy vào sông Lô. Theo lời truyền tụng đây là dân làng diễn lại tích đức Thổ Lệnh đại vương tiễn đức Tản Viên khi xưa, lúc đức Tản Viên tới thăm Ngài ra về.

Chiếc trải về tới đình trước nhất sẽ được giải thưởng và làng đốt mừng bánh pháo.

Dân làng Bạch Hạc giải thích cuộc bơi trải căn cứ trên một sự tích huyền bí: Đức Thổ Lệnh tiễn đưa đức Tản Viên, nhưng trên thực tế, dân ta cần luôn luôn tập luyện cho quen sông nước, và đã hơn một lần chúng ta thắng giặc trên mặt sông! Bạch Đằng giang còn đó, Chương Dương độ còn kia, và cả trận sông Lô năm 1947, khi toàn quân kháng chiến đã khiến gần ba nghìn quân Pháp vong thân trôi theo dòng nước!

(Toan Ánh: Nếp cũ hội hè đình đám, quyển hạ, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr. 111 – 114).

3. Các trò vui chơi trong lễ hội ở trên cạn (thường là trước sân đình)

Các trò vui chơi trong lễ hội ở đền An Dương (Cổ Loa Đông Anh – Hà Nội)

Không chỉ có phần lễ, dân chúng đi hội còn được tham dự vào nhiều trò vui khác nhau, nhờ vậy, ngày hội không những đem lại cho người ta sự thoả mãn, yên ổn về mặt tâm linh, mà còn là dịp để những người nông dân xưa nghỉ ngơi, vui chơi thoải mái trước khi bước vào một chu kỳ lao động mới, vất vả và nhiều lo âu.

Các trò vui chơi diễn ra ngay tại sân đình và xung quanh các nơi thờ tự khác, với những trò phổ biến ở tất cả các hội hè trên khắp các làng quê Bắc Bộ như: cờ người, đấu vật, chọi gà, đánh đu, leo dây, tổ tôm, hát chèo, tuồng… m

Đấu cờ người là một cuộc thi khá thú vị, bởi những người cao cờ nhất của mỗi làng mới được tham gia và giật được giải cờ là một niềm vinh dự lớn cho làng. Trước khi vào cuộc, người đấu phải vào lễ Thánh rồi mới ra đấu. Cứ lần lượt đấu loại nhau, ai giữ được cho đến cuối cùng thì được giải, đó là người phá giải cờ và là người giỏi cờ nhất của hội năm đó.

Chơi đu là trò chơi thu hút khá nhiều trai thanh gái lịch tham gia. Trước ngày mở hội, ban tổ chức đã trồng sẵn hai cây đu để các đôi nam nữ thi tài. Giải thưởng thường chỉ là vài vuông lụa, nhưng những người được giải vẫn rất sung sướng vì đã có dịp thể hiện tài năng và lòng dũng cảm của mình.

Trò đấu vật diễn ra ở bãi đất ngoài đình, các chàng trai khoẻ mạnh, nhanh nhẹn của các làng đều có thể tham gia, bởi giới vật là nơi thể hiện tinh thần thượng võ. Giá trị vật chất của giải thưởng không phải là lớn nhưng giá trị tinh thần lại rất đáng kể, đây là dịp để các chàng trai phô bày sức khoẻ và tài nghệ của mình trước dân làng, trước các thôn nữ trong vùng. Đối với họ, đây cũng là một niềm vui, niềm vinh dự mà hội làng mang lại.

Chọi gà là một trong những trò vui nổi tiếng ở hội Cổ Loa, vì vùng này cũng là vùng hay tổ chức đấu chọi gà và nuôi gà chọi nên đến hội người ta lại đem những cặp gà đã được nuôi nấng, luyện tập công phu để tranh giải.

Đáo đĩa là một kiểu đánh đáo đặc biệt, có một người làm cái. Người này đặt một chiếc mẹt, trong mẹt để một cái đĩa nhỏ. Những người chơi đứng cách mẹt khoảng 2 mét, rồi đi những đồng chinh hoặc những đồng xu vào cái đĩa, nếu trúng một sẽ được ăn năm, những đồng nào bắn ra mẹt sẽ bị mất cho nhà cái, đồng nào không vào mẹt cũng không vào đĩa thì người chơi được đi lại.

Ngoài ra còn không ít trò vui khác như tổ tôm điếm, đánh cờ bỏi… Tối tại đình làng lại có hát chèo để thờ thần, có năm có cả hát tuồng… Cứ như vậy, những trò vui ấy kéo dài suốt từ ngày mở hội cho đến ngày giã đám, mang lại cho làng quê một không khí náo nức, vui vẻ khác thường.

(Võ Hoàng Lan: Hội đền An Dương Vương, trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2000, tr. 231 – 232).

Hội Thả diều Bá Giang (xã Hồng Hà, Đan Phượng, Hà Tây)

Hội thi thả diều ở Bá Giang cũng được mở ra từ đất. Ngay từ tháng 8, trong làng đã rục rịch làm diều. Người chọn tre, mua giấy, người khoét sáo, vót dây… Công việc rất công phu, tỉ mỉ. Dây diều xưa làm bằng tre đủ tuổi, vót đều nối dài rồi cuộn lại, ngâm vào nước quả cây các hột và muối. Cho vào nồi ba mươi đun một đêm, dây vừa mềm lại vừa dai. Sáo diều cũng dùng nan tre đan thành ống, đem sơn gắn với miệng sáo làm bằng gỗ vàng tâm. Tiếng sáo vừa thanh lại vừa ấm. Giấy dán diều lớn là loại giấy xi măng, diều nhỏ bồi bằng giấy bản. Ngày nay dây diều được thay bằng dây ni lông, nhẹ, diều càng dễ bay lên.

Ngày rằm tháng 3 âm lịch, làng Bá Giang vào hội. Sau phần tế lễ, rước bánh dày tưởng nhớ thần nhân, hội thi thả diều mở ra. Mỗi năm, làng cử người khéo tay làm một chiếc diều to làm biểu tượng. Diều dài 5 mét, rộng 1,5 mét dán giấy hồng điều, có đề bài thơ:

Gió mát trăng thanh hồn non nước
Sải cánh diều bay nhạc sáo ngân
Khí thiêng Tướng Cả lưu truyền thống
Anh hùng rạng rỡ sáng lòng dân.

Địa điểm thi thả diều là khu vực trước cửa miếu thờ ông Nguyễn Cả đến đền Châu Trần thờ thần bản thổ. Cửa miếu nhìn ra một cánh đồng thoáng rộng, bên con đê sông Hồng ôm ấp lấy xóm làng. Một dải hồ xanh trong in bóng nước. Mở đầu là lễ trình diều, tất cả những người dự thi đều mang diều đến để trình trước cửa miếu. Hàng năm, thường có từ 30 đến 60 diều dự thi. Diều to dài 3 mét, diều nhỏ dài 1 mét. Người thi đa số trong làng, có thêm người ở Hạ Mỗ, Tân Hội, Liêu Trung… cũng mang diều đến dự. Buổi chiều quê, khi gió nồm nam lộng thổi, cánh đồng lúa đang thì con gái xao động rì rào. Trước cửa miếu Bá Giang, mấy chục cánh diều nối tiếp bay lên, bầu trời xanh vi vu tiếng sáo… Đứng trên bờ đê, trong làng xóm, ngoài đồng ruộng, ở đâu cũng xem được diều bay. Thỉnh thoảng lại có diều đứt dây bay mất ra phía sông. Có diều chao đảo rồi rơi xuống nước. Lại có những diều đan chéo dây quấn lấy nhau, cả hai đều rơi…

gây thành những cuộc reo hò huyên náo và những chuỗi cười sảng khoái của người xem. Lũ trẻ trong làng rủ nhau thả diều con theo hội. Thế là có hàng chục, hàng trăm diều nhỏ dán đuôi bay theo khắp hội, tạo thành mấy tầng diều cao thấp bay chấp chới trong gió xuân. Nghe đâu đây ngân nga tiếng “chuông Bồng, cồng Bá”. Hòa cùng tiếng sáo, tiếng vằng của hội diều. Cảnh sắc làng quê biết bao ngoạn mục.

Cuộc thi thả diều diễn ra một hoặc hai giờ do ban tổ chức quy định, còn phụ thuộc vào sức gió của thiên nhiên. Số lượng diều bay giảm dần theo thời gian của cuộc thi. Thường thì vào chung kết chỉ còn lại trên dưới 10 diều dự chấm giải. Ban tổ chức thường trực ở đền Châu Trần. Người có diều dự chấm lùa dây buộc vào hàng cột trước cửa đền. Sao cho diều ở trên cao ứng vào nóc miếu thờ ông Nguyễn Cả.

Giải thưởng của hội diều là cờ và tặng phẩm, xếp theo thứ tự nhất, nhì, ba với tiêu chuẩn: Diều bay cao, không đảo, và có tiếng sáo hay. Người được nhận giải lần lượt vào tạ lễ thần và hội thi kết thúc, những cánh diều vẫn tiếp tục bay, tiếng sáo vẫn ngân nga để “hầu thánh” cho đến tận đêm khuya.

(Minh Nhương: Hội thả diều Bá Giang, trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2000, tr. 243 – 244).

Tục thi nấu cơm cần ở hội làng Bạt Trung (huyện Kiến Xương – Thái Bình)

Cuộc thi nấu cơm cần của làng Bạt Trung là một cuộc thi mang sắc thái độc đáo của cư dân nông nghiệp vùng châu thổ Bắc Bộ. Để có được bát cơm dẻo cúng thần, phải qua các kỳ thi kéo lửa, leo cây chuối, chạy giải lấy nước nấu cơm, nấu cơm phải chín, dẻo, vượt thời gian.

Cuộc thi đầu tiên là kéo lửa. Làng Bạt Trung có 4 giáp, mỗi giáp một cối dự thi. Cối dùng để kéo lửa là một đoạn tre hoá gốc già, thẳng, dài chừng 1,2 mét. Ở đốt giữa đoạn tre đục thông một lỗ dài 20 cm, rộng 1,5cm để đặt mồi, ở khoảng giữa được tạo thành hai rãnh để đặt dây kéo. Dây kéo lửa là loại lạt tre dày dài chừng 80 cm. Dây phải vừa dẻo vừa bền, kéo không bị đứt. Mồi để bén lửa là loại mạt rạ mục trên mái nhà lợp rạ được nghiền nhỏ rồi rang, phơi kỹ, hoặc một ít bã sắn dây, mạt cưa, vỏ bào, rơm rạ nghiền lẫn. Việc tạo ra cối, dây, mồi, củi là một kỹ nghệ bí truyền, khi kéo lửa là cả một nghệ thuật tổng hợp của năm bảy nghệ nhân, từ người giữ cối đến người kéo không để bị đứt. Giữ cối sao cho không bị nhấc khỏi mồi, kéo sao cho đủ nhanh, đủ mạnh tạo ra nhiệt thành lửa.

Khi có hiệu lệnh trống, các chàng trai của từng cối vào cuộc kéo lửa. Chiêng trống và tiếng hò reo cổ vũ vang dậy. Cối nào kéo được lửa sớm sẽ được chấm theo thứ tự. Khi kéo lửa xong sang phần thi leo cây chuối lấy niêu. Bốn cây chuối hột loại to nhất nhì trong làng được phát hết lá, bóc lớp bẹ bên ngoài, bôi bùn trơn nhẵn, trên ngọn chuối treo một chiếc niêu nhất. Mỗi giáp cử một người leo. Giải cũng được chấm theo thứ tự thời gian lấy được niêu của giáp.

Lấy niêu xong là phần thi chạy vượt sông giữa cánh đồng để lấy nước nấu cơm. Nước được đựng trong một chiếc đĩa cổ, mang về vượt thời gian là rất khó khăn. Giải được chấm theo thứ tự giáp nào mang đĩa về đích sớm nhất.

Khi đã có lửa, có niêu, có nước, cuộc thi nấu cơm cần bắt đầu. Niêu cơm được treo trên cần một cây tre còn cả phần ngọn để trang trí, cây tre đường kính phần gốc chừng 3 cm, dài chừng 5 mét, một người vác cần, một người đỡ phần ngọn, bốn người cầm đuốc nấu cơm, một người vừa giữ cho niêu thăng bằng vừa theo dõi khi cơm sôi phải ghế cho chín đều và điều chỉnh lửa. Thuở trước, niêu nấu cơm là niêu nhất bằng đồng nấu chừng một bò gạo, nay dùng xoong nhôm loại nhỏ. Trên mặt niêu cơm đặt một chiếc khăn thấm nước sao cho rước được nhiệt lên mà không quá lạnh đến mức tốn nhiệt. Khó khăn nhất là cả bốn cối đều phải chạy quanh sân theo lệnh của chủ khảo. Người vác cần chạy sao cho niêu cơm không bị sánh nước, người cầm đuốc chạy sao đưa lửa đều vào đáy niêu, người giữ niêu tính thời gian biết khi cạn nước mở ra ghế cho đỡ mất nhiệt… Thông thường từ khi nấu đến khi cơm chín phải chạy đều trong khoảng 15 đến 20 phút và phải duy trì đều đặn các thao tác sao cho cơm chín sớm nhất, dẻo nhất, nếu khô, nhão, khê, sống sẽ bị trừ điểm.

Khi cả 4 cối đã hoàn tất việc nấu cơm, Ban giám khảo tính điểm. Điểm tổng thể dành cho cối nào nấu cơm nhanh nhất, cơm dẻo ngon nhất được giải. Còn các giải từng phần cũng được tính điểm để cộng tổng số như điểm kéo lửa, điểm leo cây chuối, điểm lấy nước, điểm thời gian nấu cơm, điểm chất lượng… khi chấm điểm xong, các niêu cơm được sới mang vào lễ thánh…

(Nguyễn Thanh: Hội làng Bạt Trung và tục thi nấu cơm cần, trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2000, tr. 259 – 260).

Đấu vật ở hội làng Đình Bảng (huyện Tiên sơn – Bắc Ninh)

Là trò chơi thượng võ phổ biến nhất của hội. Các triều đại nhà Lý rất khuyến khích trò này. Trong các cuộc thi võ và tuyển chọn võ tướng đều có môn vật. Vì vậy mà lò vật Đình Bảng sớm nổi tiếng, được các lò vật sừng sỏ như Gia Lương, Hải Dương, Hà Nội, Hà Đông, Nam Định… tìm đến đọ sức, thi tài, nhân ngày hội. Đình Bảng thành lập một phường vật gồm những người vật giỏi và cả những người kinh tế khá giả yêu thích môn vật, tự nguyện đóng góp cho phường những quyền lợi vật chất. Phường có nhiệm vụ giúp Hội lo chuẩn bị cuộc đấu về mọi mặt như đón tiếp đô bạn, cử người cầm chịch, sắm sửa sới vật, lo giải thưởng, v.v….

Đấu vật ở hội Đình Bảng được quy định theo thể thức sau đây:

  • Đô nào bị lấm lưng trắng bụng là thua.
  • Có một người cầm chịch chỉ huy bằng trống, một người giám sát, một ban giám khảo.
  • Có ba giải chính thức là giải ba, giải nhì, giải nhất – ngoài ra còn có một giải lèo (khuyến khích) để đông đảo mọi người cùng tham gia.
  • Thắng giải lèo mới được vào tranh giải ba, thắng giải ba mới được vào tranh giải nhì, thắng giải nhì mới được vào tranh giải nhất.
  • Giải thưởng to hay nhỏ tuỳ theo từng năm, nhưng đã đạt giải nhất thì thế nào cũng được thưởng hiện vật (ngoài bánh pháo, gói chè, vuông nhiễu, còn được hai chiếc mâm thau, một nồi đồng – có năm thì thay mâm thau, nồi đồng bằng con bê hay con nghé).

Thông thường thì các lò vật đều cử các đô đàn em vào trước để thử sức, thăm dò đối thủ. Sau đó các đô sừng sỏ mới vào tranh giải cao.

Đấu vật ở hội Đình Bảng tuy hăng say, quyết liệt, nhưng không thô bạo, hiểm độc. Phần lớn các đô đều sử dụng phong cách mềm mại, uyển chuyển, ăn nhau ở các miếng độc đáo nên được nhiều người khen là Đình Bảng có kiểu vật “rồng bay, phượng múa, hổ vờn”, kể cả khi vào miếng, đấu miếng và phá miếng.

Hội Đình Bảng đã bồi dưỡng được nhiều đô nổi tiếng trong đời và cả trong giai thoại, sách vở như ông cả Ngũ, ông cả Lẫm, Quán Đen, Tý Châu v.v…

Vì tức chí “hơn, thua”, họ đã quên mình tập luyện và khi có giặc giã, họ đã trở thành những người hữu ích cho đất nước, quê hương.

(Lê Văn Kỳ: Hội Đình Bảng trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2000, tr. 416 – 417).

Trò cướp cầu, đánh phết ở hội làng Sơn Vi (huyện Phong Châu – Phú Thọ)

Từ 8 giờ sáng ngày mồng 3 Tết, nhà công quán ở giữa cánh đồng phía trước đình làng đã nhộn nhịp tưng bừng. Những lá cờ đuôi nheo, cờ vuông cắm thành hàng dài trước cửa đình, trước cửa nhà công quán, phần phật bay theo gió. Tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng kèn, sáo, tiếng hò reo “Ô lên – Húy”, “Ô hô – Húy” của các đấu thủ và những người rước kiệu xen lẫn tiếng pháo nổ. Tất cả đều cuốn hút mọi người xem vào với hội.

Những người tham gia đánh phết đều là những chàng trai tuấn tú, chắc khoẻ, đại diện cho thanh niên làng trong và làng ngoài của Sơn Vi. Mỗi bên chừng hai chục người, ai nấy mình trần, mặc khố màu sắc theo từng bên. Niềm tin tưởng sẽ thắng cuộc hiện rõ trên gương mặt tươi vui của từng cầu thủ. Tất cả đứng theo đội hình ở trên bờ và dưới làng các “lò” (lỗ) tròn rộng, đường kính chừng 5 mét, sâu lòng chảo khoảng 80 phân, ở phía trước nhà công quán – nơi mà họ sẽ phải tranh nhau quả cầu và bằng mọi cách để đem về tới đích của đội mình. Một hồi trống thủ hiệu vừa chấm dứt, cụ chủ tế đầu đội mũ tế, chân đi hài, mình mặc áo thụng tím, vai vác quả cầu tiến từ trên bệ nhà công quán đến cái “lò” (có người che lọng đi theo) rồi thả quả cầu xuống đất, giống như một tiên ông thả một vật quý xuống trần gian. Nhanh như chớp, các cầu thủ xô vào cướp cầu. Mỗi bên đều cố gắng theo mưu mẹo riêng của đội mình để dành lấy cầu chuyển lên bờ. Từ bờ lò về tới đích của mỗi bên chỉ chừng 200 mét nhưng thật là một cuộc đọ sức, đọ tài rất căng thẳng, gay go, mỗi bên đều khó có thể thực hiện nổi những tính toán ban đầu của mình. Trên bờ, tiếng trống, tiếng chiêng liên tiếp hối thúc từng hồi, tiếng reo hò của dân làng liên tục nổi lên từng phía. Dường như tất cả mọi người đều cùng với các đấu thủ vật lộn tranh cầu đọ sức. Cả hai bên đấu thủ gắng hết sức mình, không một ai chịu bỏ cuộc, song cũng rất lâu quả cầu mới được lấy từ dưới lò lên bờ. Nhiều khi người xem cứ tưởng bên này thắng nhưng rốt cuộc tình hình có thể ngược lại hoàn toàn, vì vậy chẳng bên nào dám chủ quan. Cuộc đọ sức của hai bên phải đấu trong chín trận và được tổ chức liên tiếp ba ngày liền của hội. Tới trận thứ bảy thì xác định được thắng, bại của từng bên. Và bao giờ cũng vậy, tiếp theo trận thứ bảy các đấu thủ còn đấu thêm hai trận nữa gọi là trận cầu chơi và trận cầu tiễn. Trận cầu chơi là để các đấu thủ dẫn Thánh thượng vãn cảnh làng Sơn Vi. Trận này không tính điểm mà chỉ vác cầu đi chơi. Các đấu thủ đua nhau xem ai vác khoẻ. Trận cầu tiễn với ý nghĩa là để tiễn đưa Tản Viên rời Sơn Vi về Ba Vì. Trận này cũng khá gay go căng thẳng, hình thức tranh cầu chuyển từ chân tay không sang dùng phết để ngoắc cầu về đích. Bên nào thắng trận này được coi như giành được phần thắng chính của hội.

Sau chín trận đấu sôi nổi đua tài đọ sức, kiệu và cầu lại rước về đình làng để tế, vừa để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của dân làng đối với tổ tiên đã dày công xây dựng quê hương, vừa chúc mừng sự thành công tốt đẹp của hội.

(Dương Huy Thiện – Bùi Huy Luận: Lễ hội làng Sơn Vi trong Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2000, tr. 878 – 879).


PHỤ LỤC III

Phong tục tập quán và tín ngưỡng cổ truyền của nước ta vốn có rất nhiều và chúng đều in đậm bản sắc văn hóa dân tộc, chứ không phải chúng ta đi vay mượn và bắt chước của người nước ngoài. Để giúp bạn đọc có thể có ý niệm rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi xin trình bày kỹ thêm về một số phong tục tập quán, tín ngưỡng cụ thể vốn đã được nói tới ở phần nội dung, để qua đó, bạn đọc có thể thấy rõ về nguồn gốc xuất xứ, về những vấn đề đạo lý dân tộc truyền thống đã được thể hiện ra thông qua những phong tục tập quán và tín ngưỡng ấy.

NGUỒN GỐC, Ý NGHĨA CÂU CA DAO “CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI”…

Đối với mỗi người dân nước ta, câu ca dao:

Con cóc là cậu ông trời (giời)
Hễ ai đánh nó thì trời (giời) đánh cho

dường như đã trở thành câu cửa miệng mà không mấy ai lại không nhớ không thuộc, ngay từ hồi còn bé.

Sự tồn tại của câu ca dao này, theo nhận xét của chúng tôi, là bằng hình thức truyền ngôn: cha mẹ, ông bà đọc lên cho con, cháu nghe khi chúng vừa biết nói rồi bảo chúng nhắc lại, vừa như một cách để tập nói lại vừa như một bài học “vỡ lòng”, mà ngay từ buổi đầu đời, cha mẹ, ông bà đã muốn con, cháu mình phải nghe, phải ghi nhớ vậy.

Tuy nhiên, tiếc thay, đấy lại là “câu chuyện” của mấy chục năm về trước mà những người cao tuổi hẳn vẫn còn nhớ, còn như bây giờ, không thấy ai còn nhắc, còn dạy cho con, cháu nghe về câu ca dao này.

* Về “cơ sự” trên, có thể được giải thích như thế này chăng: Bây giờ ở thành thị sống trong nhà cao tầng, cóc không thể bò lên được, trẻ con ở đấy không còn thấy cóc nữa, cho nên có dạy câu ca dao ấy thì cũng bằng thừa? Hơn nữa, trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta đã nói đến việc dùng “thịt cóc”, “bột cóc” để chữa bệnh còi xương cho trẻ em, hoặc dùng hàng tạ, hàng tấn cóc để làm thức ăn cho các bể nuôi rắn. Vậy là cóc đã sắp tiệt chủng, sắp “hết thời” rồi, nên có nhắc lại về cái thời “oanh liệt”, thời cóc được tôn sùng như trước kia, cũng chỉ là vô ích?

Ngay cả ở nông thôn, tuy nhà ai cũng có đến dăm ba con cóc nhảy vào trong nhà bắt ruồi, muỗi, sâu, bọ, mà ngay trẻ em cũng không lạ gì, thế nhưng nếu có ai nói: “Con cóc là cậu ông trời”, mà được hỏi lại: “Tại sao lại thế?”, thì tôi tin chắc: không dễ mấy ai đã trả lời được, nếu như không muốn nói thẳng ra rằng: Họ chỉ lắc đầu kêu: “Không biết!”, hoặc một cách chung chung: “Trời đã sinh ra như thế!”.

* Sở dĩ có tình trạng trên, theo chúng tôi, là trong thời gian vừa qua công tác điều tra, tìm hiểu về phong tục tập quán, tín ngưỡng của giới nghiên cứu văn hóa còn có nhiều hạn chế, chưa tìm được những loại tài liệu “gốc” và “chuẩn”, do vậy đã không thấy đây là một hiện tượng văn hóa – tín ngưỡng phổ biến, cổ truyền, đã từng tồn tại ở nước ta, chí ít thì cũng hàng nghìn năm hoặc lâu hơn nữa.

Lại do chỗ không có những tài liệu “gốc” và “chuẩn” trong nước, nên nhiều tác giả nghiên cứu đã phải dựa vào tài liệu của người nước ngoài (Trung Quốc, Pháp) viết về nước ta, từ đó dẫn đến việc không giải thích được hoặc giải thích sai lạc nhiều hiện tượng văn hóa – tín ngưỡng bản địa, mà câu ca dao: “Con cóc là cậu ông trời…” kể trên chỉ là một ví dụ.

Tôi đã tìm trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của cố học giả Vũ Ngọc Phan, là quyển sách đã tái bản tới hàng chục lần, tức cũng là một quyển sách thông dụng, nhưng không thấy câu ca dao ấy.

Ngay cả hình thức rút gọn của câu ca dao này: “Con cóc cậu ông trời” là một câu khẩu ngữ rất thông dụng, nhưng tôi cũng không tìm thấy trong các sách giải thích về “tục ngữ”, “thành ngữ” gần đây.

°°°

Trong bộ sách Bách Việt tộc phả cổ lục, do họ Nguyễn dòng trưởng ở Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây ghi chép từ rất lâu đời, nay còn truyền lại, đã nói về thời Đế Minh Nguyễn Minh Khiết và Kinh Dương Vương Nguyễn Lộc Tục (hai vị là cụông của Hùng Vương thứ nhất), chúng tôi xin thuật lại như sau:

Nguyễn Minh Khiết và Nguyễn Nghi Nhân là hai anh em sinh đôi, con của cụ Đế Thừa (hay Sở Minh Công), đóng đô ở Tiên La. Thuở còn trẻ, khi chưa được nối nghiệp vua cha, hai anh em thường dẫn đầu nhiều người đi đánh cá ở hồ Mây mù (nay là Hồ Tây ở Hà Nội), cùng quen biết và đem lòng thương yêu một người con gái đẹp, con của vị chúa hồ ở vùng này, tên là Đỗ Thị Ngoan (sau được đặt hiệu là “Đoan Trang”, còn trong Đại Việt sử ký toàn thư thì chép là bà “Vụ Tiên”, nhưng không có sự tích).

Tuy Đức ông Nguyễn Nghi Nhân là người quen biết trước, nhưng Đức ông Nguyễn Minh Khiết mới là người lấy được bà Đỗ Thị Ngoan. Sở dĩ có sự trớ trêu ấy là do hai anh em sinh đôi giống nhau như đúc, đến nỗi bà Đỗ Thị Ngoan không phân biệt nổi hai người, lại cứ tưởng chỉ có một.

Sau đám cưới, bà Đỗ Thị Ngoan về quê chồng ở Tiên La, một năm sau thì sinh con trai là Nguyễn Lộc Tục. Ấy thế mà đôi khi bà vẫn bị nhầm lẫn khi gọi tên chồng hoặc tên em chồng. Điều này khiến cho Đức ông Nguyễn Minh Khiết tức tối, nghi ngờ bà vẫn có tư tình với em trai. Thế là Đức ông bỏ bà, đi lấy một bà khác ở làng Khương Đình (nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội).

Sau sự kiện ấy, bà Đỗ Thị Ngoan mang theo con vào tận động Tiên Phi (nay thuộc Hà Nam và Hòa Bình) đi tu, rồi trở thành người khởi xướng ra đạo Sa môn, ở nước ta. (Theo Bách Việt triệu tổ cổ lục, lúc đầu đạo Sa môn mà Hương Vân Cái Bồ Tát là người khởi xướng, chỉ là đạo tu thân tích thiện, nhưng ngay sau đó còn kiêm luôn cả việc thờ cúng ông bà, tổ tiên, và nhanh chóng trở thành một phong tục tập quán, tín ngưỡng phổ biến của nước ta).

Cùng đi với hai mẹ con bà vào động Tiên Phi, còn có 8 người em trai của bà nữa, chuyên làm nghề rèn sắt, đúc đồng và chế tạo gốm sứ.

Khi có giặc Ma Mạc nổi dậy ở vùng Tử Di Sơn (biên giới phía bắc của Bách Việt thời ấy), Nguyễn Lộc Tục cùng người chú thứ ba (em Đế Minh) và 8 người cậu, cầm quân lên phương Bắc đánh giặc. Khi dẹp xong giặc, Nguyễn Lộc Tục ở lại cai quản vùng biên giới và lấy vợ ở đấy. Nhiều năm sau, đến khi Đế Minh qua đời, thì 15 bộ trong nước cử người đi đón Nguyễn Lộc Tục về nối ngôi.

Do sự kiện Nguyễn Lộc Tục đã từng làm vua ở vùng Kinh Châu – Dương Việt (tức biên giới phía bắc của Bách Việt) nên các đời sau gọi Ngài là Kinh Dương Vương.

Trong số các vị vua khai sáng ở thời Bách Việt, thì Kinh Dương Vương được các đời sau đánh giá là vị vua đức độ, tài năng nhất, có nhiều công lao được liệt vào hàng “quán thế”, xứng đáng là vị vua mẫu mực của muôn đời, vì thế, ngày “hóa” của Ngài (vào ngày 25 tháng Chạp âm lịch) được coi là ngày Ngài trở về cõi trời làm Ngọc Hoàng Thượng đế, từ đấy vĩnh viễn cai quản cõi trần, “hành hóa” các hiện tượng tự nhiên mây, mưa, gió, sấm, chớp xuống cõi trần…

Còn ngày sinh của Ngài (vào rằm tháng 8 âm lịch), được tổ chức thành ngày “quốc lễ”, trong đó, có tục lệ “rước đèn kéo quân” của các cháu thiếu nhi vào ban đêm. Đó là tục lệ thể hiện tâm nguyện của dân chúng các thời: cầu mong Ngọc Hoàng Thượng đế lại được “đầu thai” xuống cõi trần. (Xin lưu ý: Kinh Dương Vương tức Ngọc Hoàng Thượng đế được tạc thành tượng thờ trong tất cả các ngôi chùa (theo đạo Phật) của nước ta. Bức tượng này được đặt ở vị trí trung tâm, trang trọng nhất trong chùa, đó là vị trí ngay giữa “Tam bảo”).

Lại nói về 8 vị họ Đỗ, cậu của Kinh Dương Vương, làm nghề rèn sắt, đúc đồng và chế tạo gốm sứ. Sau khi dẹp yên quân Ma Mạc, 8 vị trở về động Tiên Phi, đến khi Kinh Dương Vương về nước nối nghiệp vua cha, thì Ngài cũng cho người đi đón mẹ và 8 người cậu về gần nơi mình ở. Bà Đỗ Thị Ngoan vẫn tiếp tục cuộc đời tu hành, còn 8 người cậu vẫn tiếp tục rèn sắt, đúc đồng và chế tạo gốm sứ. Đến khi 8 vị này lần lượt “hóa”, thì sau đó được hợp táng vào một cái gò, đắp theo hình con cóc, còn gọi theo âm Hán – Việt là gò Thiềm thừ (gò này hiện vẫn còn ở khu vực Ba La, đầu huyện Thanh Oai ngày nay).

Do khi sinh thời, 8 người cậu của Kinh Dương Vương đã có rất nhiều công lao đối với dân chúng, nên sau khi các Ngài “hóa”, được dân chúng tôn vinh là “Bát bộ Kim Cương”. Như mọi người biết: Kim Cương là vật quý hiếm, vừa đẹp vừa rắn chắc, do vậy đã được dùng để ví với công lao và những sản phẩm kim loại, gốm sứ, mà 8 vị họ Đỗ đã làm.

* Trong suốt 940 năm, từ đầu thời Đinh (968) đến cuối thời vua Thành Thái (1907) nhà Nguyễn, ở vùng tổng Sốm (do đọc biến âm từ Sấm, còn tên Hán – Việt là Cổ Lôi, rồi Đại Lôi, nay là địa bàn chủ yếu của hai xã Phú Lãm – Phú Lương, đầu huyện Thanh Oai), có 72 ngôi đền được dựng lên để thờ các vị liệt tổ liệt tông gây dựng nên cơ đồ dân tộc và các vị có công đối với đất nước, do các vị tộc trưởng họ Nguyễn ở đấy kế thế làm Quốc công, Quốc phụ, Hương Quận công, chủ trì việc tế lễ, mở lễ hội hàng năm, đón Hội đồng tộc biểu và đồng bào cả nước về dự. Số ruộng đất các vị được quyền quản lý ở vùng này là 2.400 mẫu, dùng vào các việc như vừa kể, và 72 ngôi đền thì gọi là “Nam thiên thất thập nhị từ”.

Ở đây chúng tôi chỉ nói đến hai ngôi đền có liên quan đến cóctrời trong câu ca dao mà chúng ta cần tìm hiểu:

  • Ngôi đền thờ vua cõi trời tức Ngọc Hoàng Thượng đế, là ngôi đền khang trang, to đẹp nhất, gọi là đền Thượng, nằm ở chính giữa khu vực “24 tòa đền Thượng”, ở đó có tượng Ngọc Hoàng Thượng đế và các thế hệ (trước, sau) của thời kỳ Bách Việt. Vào những tháng tế lễ, mở lễ hội ở vùng này (“Tháng 8 hội cha, tháng 3 hội mẹ”), các vị Quốc công, Quốc phụ, Hương Quận công các thời phải hàng ngày túc trực ở đền Thượng, đón Hội đồng tộc biểu ở các địa phương về lễ tổ và trực tiếp làm chủ tế. Xung quanh đền Thượng và khu vực đền Thượng, ngày đêm đều có quân lính (của triều đình phái về) và vệ đô (của địa phương cử ra) thay nhau tuần tra, canh gác…
  • Ngôi đền thờ “Bát bộ Kim Cương” ở khu vực an táng 8 vị họ Đỗ, cũng là một ngôi đền lớn, bề thế, ở đó có tượng của 8 vị “Kim Cương”. Còn ở sân trước đền này thì có hai cột đá vuông, cao tới ngang đầu người, và trên mỗi cột đá có tạc một con cóc cũng bằng đá (được tạc liền với cột).

Vào cuối thời vua Thành Thái, thực dân Pháp cho lính về tàn phá khu vực tổng Sốm. Trước diễn biến ngày càng căng thẳng, Hương Quận công và Hội đồng tộc biểu đã phải bán số ruộng thờ, sơ tán “Nam thiên thất thập nhị từ” đi các địa phương. Đền Thượng dời lên làng La Cả (thuộc huyện Hoài Đức). Đền thờ “Bát bộ Kim Cương” phân tán đi các nơi, hiện nay còn thấy hai cột đá trên có tượng cóc dựng ở ven sông Nhuệ, thuộc địa phận xã Hữu Hòa (trước thuộc Thanh Oai, nay thuộc Thanh Trì – Hà Nội)…

°°°

Trong suốt thời gian tồn tại của “Nam thiên thất thập nhị từ”, ở vùng tổng Sốm, hàng năm, chỉ trừ những năm loạn lạc có giặc ngoại xâm, thì vào đêm rằm tháng 8 âm lịch, đều có tổ chức “rước đèn kéo quân” để cầu mong Ngọc Hoàng Thượng đế tái thế. Các đội rước từ khắp các làng trong vùng lũ lượt kéo nhau về khu vực trung tâm, nơi có đền Thượng thờ Kinh Dương Vương, tế lễ xong thì xem hát chầu văn, hát trống quân và các trò vui trên 9 chiếc thuyền được ghép lại ở trên sông Hát trước cửa đền Thượng (nay sông chỉ còn lại dấu tích). Đi đầu mỗi đội rước, bao giờ cũng phải có một chiếc đèn hình con cóc bằng giấy ở trong thắp nến, do một vị cao tuổi có đức hạnh trong làng, vác đi đầu. Tiếp đến là một đèn hình con cò (tức “Bạch Hạc” – tượng trưng cho vùng đất này), cũng do một vị cao tuổi có đức hạnh, vác. Tiếp đến nữa, là các loại đèn xếp, đèn kéo quân, đèn con cá… của các cháu thiếu nhi, và chiêng, trống khua lên rộn rã…

Việc có một vị cao tuổi vác đèn con cóc đi đầu là mang ý nghĩa: các cậu (tức “Bát bộ Kim Cương”) cùng đi đón cháu (tức “Kinh Dương Vương” hay “Ngọc Hoàng Thượng đế”) về. Tình cảm cậu – cháu vốn là một tình cảm thiêng liêng của con người, được thể hiện rất sâu sắc ở thời kỳ mới dựng nước (Chúng ta có thể tham khảo để thấy quan hệ cậu – cháu đã được thể hiện như thế nào trong trường ca Đam San của người Ê-đê), đã được bảo lưu qua hình thức rước đèn kéo quân ấy!

Ở nông thôn, mỗi khi trời khô nắng mà trong nhà nghe có tiếng cóc ghẹ thì đó là dấu hiệu báo rằng sắp có trận mưa, to hay nhỏ là tùy theo cóc ghẹ nhiều hay ít. Đó là một kinh nghiệm thực tiễn đã từng tồn tại từ hàng bao nhiêu đời nay. Thời điểm xuất hiện của kinh nghiệm ấy, theo chúng tôi, có thể còn trước cả thời Đế Minh và Kinh Dương Vương, khi người dân nước ta bắt đầu khai phá vùng đồng bằng và cấy trồng cây lúa nước. Do vậy mà không phải là ngẫu nhiên, đến khi Kinh Dương Vương được tôn vinh là “vua cõi trời”, và 8 người cậu họ Đỗ được tôn vinh là “Bát bộ Kim Cương” mang biểu tượng là những con cóc, thì mỗi khi nghe tiếng “cóc ghẹ báo trời sắp mưa”, cũng đồng nghĩa với việc “các cậu nhắc cháu hãy “hành hóa” làm mưa xuống cõi trần ngay”. “Con cóc là cậu ông trời” thiêng liêng như thế, cho nên mới có câu răn mọi người ở phần sau: “Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho”.

Nhân nói đến “biểu tượng” con cóc tượng trưng cho “Bát bộ Kim Cương”, tức 8 người cậu họ Đỗ của Kinh Dương Vương, chúng tôi cũng xin nói thêm rằng: “Biểu tượng” cóc cũng như những “biểu tượng” khác, như: sóc, nhện, cá chép, cá trê, rắn, v.v… chính là tên gọi những nơi an táng của các vị có công đối với đất nước ở thời mới dựng nước. Đó là những tên gọi “thuần Việt”, về sau, đến thời sử dụng âm Hán – Việt, thì được gọi chung là các Sơn thần và các Thủy thần, trong đó, Sơn thần, nguyên ủy là tên các con vật trên cạn, còn Thủy thần, nguyên ủy là tên gọi các con vật dưới nước.

°°°

Trở lại với câu ca dao ban đầu, ta thấy ở đó đã chứa đựng cả một hình thức văn hóa – tín ngưỡng cổ truyền, đã từng tồn tại chí ít cũng gần một nghìn năm, trong lịch sử dân tộc, ở vùng trung tâm, nơi thờ cúng các vị liệt tổ liệt tông và các vị đã có công đối với đất nước. Từ đó, phong tục tập quán – tín ngưỡng này, theo thời gian, đã lan tỏa ra các địa phương, rồi được “địa phương hóa” trở nên có nhiều hình nhiều vẻ. Cũng từ hình thức thờ cúng tổ tiên và anh hùng của dân tộc ấy, mà ta thấy việc các bậc ông bà, cha mẹ thời trước đã dạy cho con, cháu nghe và ghi nhớ về câu ca dao này ngay từ khi tuổi còn trứng nước, thì đó không đơn giản chỉ là một cách thức tập nói, mà sâu xa hơn, còn là để ghi nhớ về cội nguồn, về tổ tiên của dân tộc mình. Tuy nhiên, như chúng tôi đã nói, sau khi thực dân Pháp tàn phá xong “Nam thiên thất thập nhị từ”, thì những hình thức thờ cúng, rước sách nguyên bản (trong đó có “rước đèn kéo quân”) ở khu vực tổng Sốm – trung tâm đã không còn, mà ở các nơi đều phải biến dạng đi, để che mắt nhà cầm quyền thống trị, như thờ Ngọc Hoàng Thượng đế thì chỉ thờ chung với các đức Phật, không ai còn nhắc đến Kinh Dương Vương, còn rước đèn kéo quân vào đêm rằm tháng 8 âm lịch, thì bảo là các cháu thiếu nhi vui chơi đón Trung thu, chứ chẳng còn ai nhắc là đón Ngọc Hoàng Thượng đế tái thế nữa. Chỉ vì sợ nói ra thì Trường Viễn đông bác cổ sẽ cho người đến tận nơi mà tra xét rồi đào bới mang đi.

Những chuyện như thế này lâu nay không có ai nhắc lại, vì vậy đến nay chúng ta mới phải chịu hậu quả: một câu ca dao phổ biến như thế, mà các nhà chuyên môn cũng đành làm ngơ, vì không biết phải giải thích như thế nào để mọi người cùng rõ.

NGUỒN GỐC, Ý NGHĨA TẾT MỒNG 3 THÁNG 3 ÂM LỊCH

Tết mồng 3 tháng 3 âm lịch (gọi theo âm Hán – Việt là tết “trùng tam”) hàng năm của người dân nước ta vốn có nguồn gốc xuất xứ ngay từ thời dựng nước, hay nói theo lời các cụ ngày xưa, là thời “Bách Việt và các vua Hùng”. Trong ngày tết này, dân ta có tục lệ làm bánh trôi bánh chay và nhiều thứ thức ăn quý giá khác, trước thì cúng lễ tổ tiên, còn sau thì cha mẹ và con cháu trong nhà cùng hưởng…

Tục lệ chung từ xưa đến nay là như thế. Tuy nhiên, do nước ta phải trải qua gần một nghìn năm Bắc thuộc, vì vậy, tiếng là ngày tết của nước ta với những phong tục tập quán của riêng nước ta, nhưng về hình thức thì đã bị “cải biên” sang văn hóa Tàu: Tàu về tên gọi, và Tàu cả về điển tích

Sau đây chúng tôi xin trích lại nguyên văn phần Tết Hàn thực ở mục Tứ thời tiết lập trong sách Việt Nam phong tục của học giả Phan Kế Bính, để bạn đọc có thể hình dung, thấy rõ vấn đề:

“Tết Hàn thực – Ngày mồng ba tháng ba là tết Hàn thực. Hàn thực nghĩa là ăn đồ lạnh. Điển này nguyên ở Tàu: về đời Xuân Thu, vua Văn Công nhà Tấn, khi còn long đong trốn nạn, nay trú nước Tề, mai ngụ nước Sở. Bấy giờ có một người hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi, theo vua giúp đỡ mưu kế. Có một hôm, vua đi đường thiếu lương đói quá, bọn đầy tớ không thể kiếm lương vào đâu được, Giới Tử Thôi phải cắt thịt đùi mình ra, nấu nướng ngon lành, dâng lên vua xơi, vua ăn xong hỏi ra mới biết, đem lòng cám cảnh vô cùng. Theo trong 19 năm trời, trải nếm bao nhiêu gian truân nguy hiểm. Đến lúc Văn Công lại được trở về làm vua nước Tấn, phong thưởng cho những người có công trong khi tòng vong, nhỡ quên mất công của Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi cũng không dám giận gì, nghĩ mình làm được việc gì, cũng là cái nghĩa vụ của mình, chứ không có công lao gì đáng nói. Vì vậy về nhà đem mẹ vào ẩn ở núi Điển Sơn. Sau vua nhớ ra, sai người vào núi tìm không được. Vua sai đốt rừng ấy cho ông phải ra. Nhưng ông cũng không chịu ra, đành hai mẹ con chịu chết cháy. Vua thương xót, lập miếu thờ trên núi và phong cả khu rừng đó làm tự điền.

Hôm ông ấy chết là ngày mồng ba tháng ba. Người xứ đó thương ông ấy, cứ mỗi năm đến ngày ấy thì cấm đốt lửa ba ngày mà bắt đầu từ hôm mồng ba, chỉ ăn đồ lạnh đã nấu sẵn mà thôi.

Ta nhiễm theo tục ấy, thành ra ăn tết hôm mồng ba tháng ba. Mà ta thì làm bánh trôi bánh chay để thế cho đồ lạnh, nhưng ta chỉ cúng gia tiên, chứ không ai tưởng gì đến Giới Tử Thôi. Mà tiếng là hàn thực, nhưng nấu nướng chẳng có kiêng gì”.

Nhận xét: Qua sự trình bày của cụ Phan, ta thấy tuy cụ có dẫn tên Tàu, điển tích Tàu, và phê phán ta nhiễm theo tục ấy, nhưng cụ cũng đã chỉ ra cách thức mà người dân nước ta thực hành trong ngày tết “mồng ba tháng ba” này. Đó là ta làm bánh trôi bánh chay… và chỉ cúng gia tiên, chứ không tưởng gì đến Giới Tử Thôi. Hơn nữa, trong ngày ấy, dân ta nấu nướng chẳng có kiêng gì.

Thời điểm cụ Phan viết Việt Nam phong tục là vào khoảng năm 1913 – 1914, khi ấy “Nam thiên thất thập nhị từ” ở vùng tổng Sốm (nay là địa bàn chủ yếu thuộc hai xã Phú Lãm – Phú Lương, huyện Thanh Oai – Hà Tây) đã bị tàn phá, “tháng 8 hội cha, tháng 3 hội mẹ” ở vùng này cũng không còn, các lễ tiết trong năm tuy người dân nước ta vẫn thực hành để cúng giỗ ông bà, tổ tiên, nhưng s tích thật của nước ta thì nếu ai có biết cũng chẳng muốn nói ra, vì sợ Trường Viễn đông bác cổ sẽ cho người đến hỏi han, lục vấn rồi đào bới… Cụ Phan viết Việt Nam phong tục trong hoàn cảnh ấy, do vậy, nhiều tư liệu gốc cụ đã không điều tra được, hoặc giả, nếu có điều tra được thì cụ cũng chẳng muốn viết ra, vì đã là con dân nước Việt thì chẳng ai muốn để cho người ngoại bang đến đào bới mồ mả của tổ tiên dân tộc mình cả.

* Sự tích “Mẫu Thượng Ngàn” và “Tết mồng 3 tháng 3”

“Mẫu Thượng Ngàn” là vị Thủy tổ của nghề trồng dâu nuôi tằm và dệt the lụa sồi đũi ở nước ta. Sự tích của bà được ghi lại trong bộ sách Bách Việt triệu tổ cổ lục, do họ Nguyễn dòng trưởng ghi chép và lưu giữ từ rất lâu đời, đến nay còn truyền lại. Họ Nguyễn dòng trưởng này ở vùng tổng Sốm cũ (Sốm là biến âm của Sấm, còn gọi theo âm Hán – Việt là Cổ Lôi, rồi Đại Lôi), nay là địa bàn chủ yếu của hai xã Phú Lãm – Phú Lương của huyện Thanh Oai – Hà Tây, là những người kế thế truyền đời trông nom phần mộ và thờ cúng các vị liệt tổ liệt tông đã gây dựng nên cơ đồ dân tộc và các vị có công đối với đất nước…

“Mẫu Thượng Ngàn” có tên là Hồng Đăng Ngàn, thời trẻ là một cô gái xinh đẹp thuộc bộ tộc Lộc Y, là con của chúa Động Đình Quân cai quản vùng hồ Động Đình của Trung Quốc hiện nay. Ở thời Bách Việt, biên giới phía bắc của nước Xích Quỷ là đến hết phần đất phía nam của lưu vực sông Dương Tử, do Đế Minh Nguyễn Minh Khiết cai quản. Khi có giặc Ma Mạc nổi dậy ở vùng Tử Di Sơn (chân phía đông của dãy Hymalaya và là thượng nguồn của sông Dương Tử), con của Đế Minh là Nguyễn Lộc Tục cùng người chú thứ ba (Nguyễn Long Cảnh) và 8 người cậu họ Đỗ đã hành quân lên đường đánh dẹp. Khi dừng chân nghỉ lại ở vùng hồ Động Đình một thời gian, Đức ông Nguyễn Lộc Tục đã gặp gỡ rồi ước hẹn với bà Hồng Đăng Ngàn. Sau đó, khi đã dẹp yên giặc Ma Mạc, Đức ông quay trở lại vùng này và cưới bà làm vợ. Vua cha Đế Minh nhân đấy cử Đức ông ở lại cai quản xứ ấy. Từ sự kiện này mà về sau Đức ông được gọi là Kinh Dương Vương, do phần đất mà Đức ông cai quản có tên là Kinh Châu – Dương Việt.

Sau nhiều năm trị vì, vua cha Đế Minh già yếu rồi qua đời, đất nước do các người con vợ bé của Ngài ở Khương Đình (ngoại thành Hà Nội bây giờ) cai quản, gây nên cảnh chia rẽ, lòng người bất phục. Vì thế 15 bộ trong nước mới họp lại, rồi cử người đi đón Kinh Dương Vương trở về kế ngôi. Bà Hồng Đăng Ngàn cũng theo chồng về nước trong dịp này.

Là người sinh ra và lớn lên ở xứ sở trồng dâu chăn tằm và dệt the lụa sồi đũi, nên bà cũng đem theo cả những nghề này về trong nước với sự trợ giúp của Kinh Dương Vương.

Về cách thức ăn mặc của người nước ta ở trước thời Kinh Dương Vương, theo Bách Việt tộc phả ghi lại, là bằng “lá cọ” và các đồ “xô gai”. Xô gai tức là sợi vỏ cây được tước ra đan lại (tức là đan bằng tay, như kiểu đan mây, tre), hoặc được tết lại (như kiểu tết dây để thành lưới bắt cá, nhưng tết thật dày) để thành “vải” khoác lên người và thành “mũ” đội lên đầu. Vì thế mà thời này còn được gọi là “Việt thường thị”, tức là thời dùng dây (“thường” = “thừng”) để chế tạo ra “quần áo” và “mũ” đội.

Nghề trồng dâu chăn tằm và dệt the lụa sồi đũi do bà Hồng Đăng Ngàn và Kinh Dương Vương đem về trong nước, do vậy, đã làm thay đổi hẳn cung cách ăn mặc của người dân nước ta. Chính vì vậy mà sau khi bà Hồng Đăng Ngàn “hóa”, được dân chúng tôn vinh là “Bà chúa Tằm” và “Bà chúa Lĩnh”. Trong Bách Việt triệu tổ cổ lục, Bà còn được gọi là Xích hậu, tức là Hoàng hậu của vua nước Xích Quỷ (của Kinh Dương Vương), và “Mẫu Thượng Ngàn”, tức là gọi theo tên một cách tôn kính, nhưng đồng thời cũng ám chỉ: Bà có nguồn gốc xuất xứ từ miền rừng núi phía bắc của Bách Việt.

Ngày bà “hóa” là vào mồng 3 tháng 3 âm lịch. Để tưởng nhớ công đức của Bà, ngay từ thời Bách Việt, ngày này đã được lấy làm ngày Quốc lễ, và lễ vật dâng cúng thì bằng “bánh trôi bánh chay” cùng nhiều thức ăn quý giá khác.

Bánh trôi bánh chay bây giờ tuy có được cải tiến, nhưng về cơ bản, theo chúng tôi, cũng không có sự khác biệt đáng kể nào so với thuở ban đầu. Nguyên liệu là bột gạo nếp được nhào nước rồi nặn thành viên, ở trong có nhân đường (bánh trôi), nhân đỗ (bánh chay). Nặn xong thì cho vào nồi nước lã đun sôi, khi chín bánh nổi lên, vớt ra cho vào bát đĩa, để nguội là có thể ăn được. Đặc điểm của hai thứ bánh này là làm rất đơn giản (nên ở thời Bách Việt đã có), và chỉ ăn khi bánh đã nguội hẳn (vì để nguội thì mới khỏi bị dính môi trong khi ăn, và ăn khi nguội thì bánh mới có mùi vị ngon).

Dùng bánh trôi bánh chay để làm lễ vật cúng tế Mẫu Thượng Ngàn, theo nhận xét của chúng tôi, là một hành vi văn hóa vừa thiết thực vừa có ý nghĩa tưởng nhớ thật vô cùng sâu sắc, lại đã có nguồn gốc xuất xứ lâu đời: ngay từ thời Bách Việt.

Ai cũng biết trồng dâu chăn tằm, trông bề ngoài thì an nhàn, nhưng thực ra lại là nghề vất vả, phải thức khuya dậy sớm luôn, và thường thì phải ăn vào những lúc đã quá bữa, khi cơm canh và thức ăn đã để nguội cả. Chẳng thế mà người nước ta đã có câu tục ngữ để chỉ nghề này: “Làm ruộng ăn cơm nằm. Chăn tằm ăn cơm đứng” – nghĩa là một nghề mà ngay cả khi ăn cũng chẳng được thảnh thơi.

Cúng tế vị Thủy tổ của nghề trồng dâu chăn tằm làm ra quần áo mặc bằng thứ thức ăn tinh khiết đã để nguội là “bánh trôi bánh chay” kia, thiết tưởng người dân nước ta đã có cách tưởng nhớ của mình, vừa độc đáo mà cũng vừa mang đầy những giá trị nhân bản.

* Nếu so về thời gian thì thời Xuân Thu hay thời Đông Chu liệt quốc (có chuyện Tấn Văn Công và Giới Tử Thôi) của Trung Quốc là có sau thời nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương có sự tích Bà Hồng Đăng Ngàn (hay Mẫu Thượng Ngàn) là thủy tổ của nghề trồng dâu chăn tằm và dệt the lụa sồi đũi của nước ta.

Sự tưởng nhớ Mẫu Thượng Ngàn vào ngày quốc lễ mồng 3 tháng 3 âm lịch hàng năm của người dân nước ta, là có nguồn gốc xuất xứ từ thời Bách Việt, chứ không phải là học theo người phương Bắc với truyện tích Giới Tử Thôi của họ. Cho nên, đúng như đã xảy ra trên thực tế, là mặc cho ai nói gì thì nói, thì người dân nước ta, đến ngày mồng 3 tháng 3 hàng năm, vẫn làm bánh trôi bánh chay để cúng lễ tổ tiên, chứ không ai tưởng gì đến Giới Tử Thôi cả, và dân ta cũng không có tục lệ phải kiêng đốt lửa trong ba ngày kể từ ngày mồng ba, như người phương Bắc.

Sự tưởng nhớ Mẫu Thượng Ngàn theo nghi thức quốc gia được tổ chức hàng năm (vào ngày mồng 3 tháng 3) ở vùng tổng Sốm cũ, do các vị tộc trưởng họ Nguyễn (được các triều đại từ Đinh đến Nguyễn phong là Quốc công, Quốc phụ, Hương Quận công và được giao cho quản lý 2.400 mẫu ruộng ở vùng này, để tôn tạo đền chùa, hàng năm tổ chức lễ hội, đón Hội đồng tộc biểu và đồng bào cả nước về dự) đứng làm chủ tế tại đền Thượng (thờ Kinh Dương Vương và các vị vua thời Bách Việt) và đền Mẫu (thờ Tứ vị Đức Bà, tức là thờ bốn bà Hoàng hậu của các vị Đế Minh, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương thứ nhất), trong khu “Nam thiên thất thập nhị từ” (72 ngôi đền). Từ thời Đinh (968) đến cuối thời vua Thành Thái (1907) nhà Nguyễn, nghĩa là trong suốt 940 năm, tình hình diễn ra là như vậy.

Chỉ sau khi thực dân Pháp tàn phá xong “Nam thiên thất thập nhị từ” (vào cuối thời Thành Thái, đầu thời Duy Tân) thì sự thờ cúng Mẫu Thượng Ngàn nói riêng và các vị tổ tiên ở thời Bách Việt nói chung, mới không còn theo nghi thức quốc gia và tập trung nữa. Tuy nhiên, ở các địa phương và tại mỗi gia đình, thì người dân vẫn thực hành việc làm bánh trôi bánh chay và thờ cúng, như đã có từ thuở xa xưa vẫn còn truyền lại. Sự tích Mẫu Thượng Ngàn có thể nhiều người dân không biết, vì trong sách Bách Việt triệu tổ cổ lục có lời dặn lại: “Tuyệt đối không truyền ra ngoài”, tức là không muốn để lộ tung tích thật và nơi an táng các vị liệt tổ liệt tông, nhưng đó là do quan niệm của một thời, còn bây giờ, theo chúng tôi, thì mọi người nên biết, để nhớ về tổ tiên, về những vị đã có công gây dựng nên cơ đồ của dân tộc.

NGUỒN GỐC, Ý NGHĨA TẾT ĐOAN NGỌ (MỒNG 5 THÁNG 5 ÂM LỊCH)

Tết mồng 5 tháng 5 âm lịch, gọi là tết Đoan ngọ hay Đoan dương, còn gọi theo âm Hán – Việt là tết “Trùng ngũ”.

Trong Việt Nam phong tục, được viết vào khoảng năm 1913 – 1914, cụ

Phan Kế Bính đã nói về cách thức thực hành và nguồn gốc của tết này như sau:

“Tết này ta hay lấy lá nhuộm các đầu ngón tay, ngón chân cho trẻ, chỉ trừ ra ngón tay trỏ và ngón chân trỏ. Sáng sớm hôm ấy, ăn rượu nấp, trứng luộc, kê, bánh đa, đào, mận, muỗm, dưa hấu, uống nước dừa. Người lớn thì uống rượu hòa ít tam thất đơn hoặc hồng hoàng, gọi là giết sâu bọ. Trẻ con ăn xong, thì bôi hồng hoàng vào thóp đầu, vào ngực, vào rốn để trừ trùng.

Nhiều người mua bùa chỉ đeo cho con trẻ. Bùa chỉ kết bằng chỉ ngũ sắc, và lấy những mụn lụa the kết hoa sen, quả đào, quả khế, quả ớt v.v… Lại mang áo lụa mang đến các cửa chùa, cửa tĩnh in dấu vẽ bùa rồi mặc cho trẻ, có ý để trừ tà ma cho khỏi quấy.

Giữa buổi trưa hôm ấy thì làm cỗ cúng gia tiên, rồi đi hái lá mồng năm, bất cứ lá gì… mà nhất là hay hái lá ích mẫu, lá cối xay, lá muỗm, lá vối… đem về ủ rồi phơi khô, về sao đem nấu uống, cho rằng uống thế thì lành”.

“Lại nhiều người đi lấy lá ngải cứu, tùy năm nào thì tết hình con thú năm ấy…, như năm Tý thì tết con chuột, năm Sửu thì tết con trâu… Kết đoạn treo giữa cửa, để trừ sự bất thường, và để về sau ai có bệnh đau bụng, thì đem làm thuốc tốt lắm”.

  • Về tục hái lá, cụ Phan cho rằng: “Tục hái lá do tự điển Lưu Thần, Nguyễn Triệu đời nhà Tấn. Hôm mồng năm hai gã vào núi Thiên Thai hái thuốc gặp tiên, bởi thế mà thành tục”.
  • Về nguồn gốc tết Đoan ngọ, cụ Phan dẫn lời người khác và viết: “Tục này không rõ nguyên uỷ từ đâu, có người cho là do từ đời Xuân Thu. Bấy giờ nước Sở có một vị trung thần tên là Khuất Nguyên, vì can ngăn vua Hoài Vương không được, bực mình ôm đá gieo mình xuống sông Mịch La mà tự vẫn. Hôm ấy chính là ngày mồng năm tháng năm, xứ ấy thương tiếc người trung nghĩa, cứ mỗi năm đến ngày ấy thì làm bánh đường bánh ngọt, cuốn chỉ ngũ sắc ở ngoài rồi đua nhau bơi thuyền ra giữa dòng sông mà ném bánh xuống, để cúng ông ấy. Cuốn chỉ ngũ sắc là có ý làm cho cá sợ khỏi đớp mất”.

Cuối cùng, cụ Phan kết luận: “Vậy tết ấy là một ngày kỷ niệm ông Khuất Nguyên, mà ta thì thấy người Tàu ăn tết cũng theo. Nhưng theo thì theo chứ không ai cúng gì Khuất Nguyên”.

* Qua những điều trình bày của cụ Phan, chúng tôi xin có mấy nhận xét:

  • Về tục nhuộm móng chân móng tay (chứ không phải là ngón chân ngón tay), uống rượu, ăn bánh trái hoa quả (gọi là “giết sâu bọ”), đeo bùa chỉ, mặc áo vẽ bùa cho trẻ, lấy lá ngải cứu tết hình con thú trong năm v.v…, không thấy cụ nói là đã dựa vào sách nào, phong tục tập quán nào của người phương Bắc. Thế nhưng, nếu căn cứ vào những thứ như lá móng, rượu nếp, bánh đa, đào, mận, nước dừa, lá ngải cứu v.v…, tức là những sản vật và hoa quả ở xứ ta, do người nước ta gieo trồng và làm ra, có nguồn gốc xuất xứ từ xa xưa và đến nay vẫn còn nguyên như thế, thì có thể nói rằng: Đó là những phong tục tập quán của nước ta, chứ không thể là của người Tàu truyền vào nước ta được. Trong quá trình lịch sử diễn ra sự giao lưu giữa hai nền văn hóa, có thể một số phong tục tập quán nào đó đã có sự lan truyền, tuy nhiên, đấy chỉ là những tiểu tiết, chứ không thể có sự thay đổi về cơ bản được. Nếu có sự thay đổi về cơ bản thì cũng có nghĩa chúng ta bị đồng hóa ngay từ thời Bắc thuộc rồi. Những hoa quả ở xứ ta, những sản vật do người nước ta làm, thì chỉ có thể là người nước ta mới biết cách sử dụng như thế nào cho thích hợp, chứ không thể có chuyện đi hỏi người nước ngoài để biết cách sử dụng được.
  • Tục hái các loại lá vào ngày 5 tháng 5 đem về ủ, phơi khô rồi dùng nấu nước uống dần, cụ Phan bảo là “do tự điển Lưu Thần, Nguyễn Triệu đời nhà Tấn…”, theo chúng tôi, cũng là thiếu cơ sở hiện thực, bởi vì những thứ lá mà cụ dẫn ra như lá ích mẫu, lá cối xay, lá muỗm, lá vối v.v…, thì chính là những thứ lá đã có ở xứ ta từ bao đời nay rồi, qua quá trình thử nghiệm lâu dài, người dân nước ta hiểu được dược tính và ích lợi của những thứ lá ấy, vì thế mới đi hái về ủ, phơi khô, dùng để nấu nước uống dần. Theo chúng tôi hiểu thì đấy là những thứ lá có vị mát, dùng làm nước uống rất thích hợp với thể trạng của người ở xứ nóng như nước ta, vì thế, đây không thể là phong tục tập quán đi học từ nhà Tấn ở xứ ôn đới được. Có thể người nước Tấn cũng có tục lệ này khi họ đi hái những thứ lá dùng làm nước uống ở xứ sở của họ, song nếu từ đấy mà bảo rằng người nước ta uống nước có pha lá là do được truyền sang từ “đời nhà Tấn” thì chẳng lẽ trước thời nhà Tấn đến hàng nghìn năm…, người dân nước ta chỉ biết uống có một thứ là nước lã đun sôi thôi hay sao? Đây hoàn toàn là điều phi lý, không thể có trên thực tế được. Còn về việc tại sao người nước ta cũng hái lá vào ngày 5 tháng 5 thì đã căn cứ vào một sự tích khác, có trước cả sự tích Lưu Thần, Nguyễn Triệu đến hàng nghìn năm (chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau), nên không phải là chuyện chúng ta đi bắt chước của người nước ngoài.

Về nguồn gốc của tết Đoan ngọ, cụ Phan dẫn tích Khuất Nguyên tự vẫn ở sông Mịch La, rồi nói đến việc người phương Bắc đến ngày nay thì “làm bánh đường bánh ngọt, cuốn chỉ ngũ sắc ở ngoài rồi đua nhau bơi thuyền ra giữa dòng sông, ném bánh xuống để cúng ông ấy”. Trong khi đó, ở nước ta, vào ngày này thì người dân, khắp nơi nhà nhà làm bánh trôi bánh chay và các thứ thức ăn ngon, trước để cúng tổ tiên, còn sau thì cha mẹ, con cháu trong nhà cùng hưởng (giống như tết “mồng 3 tháng 3”), chứ không có ai “buộc chỉ ngũ sắc vào các thứ bánh để ném xuống sông” như người phương Bắc.

Người dân nước ta khi được biết về sự tích của Khuất Nguyên, tuy vẫn thương tiếc và kính trọng một người trung nghĩa và yêu nước như Khuất Nguyên, nhưng phong tục tập quán của nước ta vào ngày tết Đoan ngọ thì đã xuất phát từ một sự tích của nước ta, còn trước cả thời Khuất Nguyên rất lâu, chứ không phải xuất phát từ sự tích về Khuất Nguyên được. Ngày mất của Khuất Nguyên chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên với ngày mất của một vị liệt tổ mà chúng ta tôn thờ, do vậy, tết Đoan ngọ của nước ta là để tưởng nhớ về vị liệt tổ ấy, chứ không phải để tưởng nhớ về Khuất Nguyên của nước Sở.

* Sự tích Mẫu Thoải và tết mồng 5 tháng 5 của nước ta

“Mẫu Thoải” là “Mẫu Thủy” mà sự khác nhau chỉ là do cách gọi “kiêng nói thẳng” của người dân nước ta. “Mẫu Thoải” là tên hiệu của bà Âu Cơ, vợ của Lạc Long Quân (Nguyễn Lâm) có sự tích được ghi trong Bách Việt triệu tổ cổ lục, do các vị tộc trưởng họ Nguyễn ở tổng Đại Lôi cũ (nay là địa bàn chủ yếu của hai xã Phú Lãm – Phú Lương, đầu huyện Thanh Oai – Hà Tây), ghi chép từ rất lâu đời, đến nay còn truyền lại. Trong 940 năm, từ đầu thời Đinh (968) đến cuối thời vua Thành Thái (1907) nhà Nguyễn, các vị tộc trưởng họ Nguyễn ở đây được phong là Quốc công, Quốc phụ, Hương Quận công, kế thế làm chủ tế “Nam thiên thất thập nhị từ” (72 ngôi đền), quản lý 2.400 mẫu ruộng ở vùng này để dùng vào việc xây dựng, tôn tạo đền chùa, hàng năm tổ chức lễ hội, tế lễ, rước sách, đón Hội đồng tộc biểu và đồng bào cả nước về dự.

Sự tích của bà Âu Cơ được ghi chép trong bộ sách ấy, chúng tôi xin thuật lại như sau:

Âu Cơ là con gái của Đế Lai (tức Nguyễn Như Lai), cháu gái Đế Nghi (tức Nguyễn Nghi Nhân).

Đế Nghi và Đế Minh (tức Nguyễn Minh Khiết) là anh em sinh đôi, con của cụ Đế Thừa (hay Sở Minh Công), đóng đô ở Tiên La. Thuở còn trẻ, khi chưa được kế nghiệp vua cha, hai anh em thường dẫn đầu nhiều người đi đánh cá ở hồ Mây mù (tức Hồ Tây ở Hà Nội bây giờ), cùng quen biết và đem lòng thương yêu một người con gái đẹp, con của vị chúa hồ ở vùng này, tên là Đỗ Thị Ngoan (sau Bà được đặt hiệu là Đoan Trang, còn trong Đại Việt sử ký toàn thư thì chép là Vụ Tiên, nhưng không có sự tích).

Tuy Đức ông Nguyễn Nghi Nhân (em) là người quen biết trước, nhưng Đức ông Nguyễn Minh Khiết (anh) mới là người lấy được bà Đỗ Thị Ngoan. Sở dĩ có sự trớ trêu ấy là do hai anh em sinh đôi giống nhau như đúc, đến nỗi bà Đỗ Thị Ngoan không phân biệt nổi hai người, lại cứ tưởng chỉ có một.

Sau đám cưới, bà Ngoan về quê chồng ở Tiên La (nay là làng Thanh Lãm, xã Phú Lãm), một năm sau thì sinh con trai là Nguyễn Lộc Tục (sau là Kinh Dương Vương, sinh ra Lạc Long Quân). Ấy thế mà đôi khi bà vẫn bị nhầm lẫn khi gọi tên chồng hoặc tên em chồng. Điều này khiến cho Đức ông Nguyễn Minh Khiết tức tối, nghi ngờ bà có tư tình với em trai. Thế là Đức ông bỏ bà, đi lấy một bà khác ở làng Khương Đình (nay thuộc Thanh Trì – Hà Nội).

Sau sự kiện ấy, bà Đỗ Thị Ngoan mang theo con vào tận động Tiên Phi (nay thuộc Hà Nam và Hòa Bình) đi tu, rồi trở thành người khởi xướng ra đạo Sa môn, ở nước ta.

Còn Đức ông Nguyễn Nghi Nhân, sau sự kiện này cũng phẫn chí, muốn rời làng rời quê, ra đi biệt xứ. Ngài xin với vua cha cấp cho thuyền bè, lương thực, công cụ, vũ khí… rồi cùng với nhiều binh lính và dân chúng, tìm con đường lập nghiệp ở nơi xa. Ngài ra đi, đi mãi… tới vùng hồ Động Đình của Trung Quốc ngày nay mới dừng lại, rồi chinh phục các bộ tộc ở đấy, lập nên nước Sở. Các hậu duệ của Ngài còn kế thế đến 18 đời sau, gọi là dòng Sở Hùng Thông, mà các sử sách của Trung Quốc cũng đã ghi lại1.

Tuy Đế Nghi mất ở nước Sở, nhưng đến đời con của Ngài là Đế Lai, sau khi đã giao quyền trị nước cho con trưởng là Đế Ai, thì mang theo một người con gái (“ái nữ”) là Âu Cơ, trở về thăm lại nước cũ. Âu Cơ sau đó lấy Lạc Long Quân, là hai người chắt có chung một cụ (Đế Thừa) lấy nhau, chứ không phải như Ngô Sĩ Liên chép trong Đại Việt sử ký toàn thư ở phần Ngoại kỷ Hồng bàng thị, là chú lấy cháu, do không biết quan hệ anh em, họ hàng của các đời trước đó.

Kinh Dương Vương có 5 con trai: Nguyễn Nghiêm, Nguyễn Bé, Nguyễn Quyền, Nguyễn Lâm và Nguyễn Huề, trong đó Nguyễn Bé chẳng may lâm bệnh mất sớm. Bốn người con còn lại, đến tuổi trưởng thành, được vua cha giao cho mỗi người trông nom một công việc cụ thể, và do vậy, nơi ở của từng vị và gia đình, được gọi theo những cái tên khác nhau:

  • Nguyễn Nghiêm trông coi các việc về tế lễ, trông nom phần mộ và thờ cúng tổ tiên…, nơi ở được gọi là “Thiên phủ”.
  • Nguyễn Quyền trông nom các việc về rừng núi (săn bắn, thuần hóa các giống cây trồng, vật nuôi, thu hái dược liệu v.v…), nơi ở được gọi là “Nhạc phủ”.
  • Nguyễn Lâm trông nom các việc về sông nước (đào ao giếng, đóng thuyền, đánh cá, làm muối, diệt trừ các loài thủy quái v.v…), nơi ở được gọi là “Thủy phủ”.
  • Nguyễn Huề trông nom các việc về thổ mộc (cấy trồng lúa nước, hoa màu, làm nhà cửa v.v…), nơi ở được gọi là “Địa phủ”.

Xét từ công việc, có thể thấy trong bốn người con của Kinh Dương Vương, thì Nguyễn Lâm đã đảm nhận những phần việc khó khăn, nguy hiểm hơn, và do vậy, đòi hỏi phải có vừa nhiều tài trí, vừa là người dũng mãnh can trường. Vì thế mà về sau, Ngài được vua cha lựa chọn để truyền ngôi, trở thành Lạc Long Quân. Bà Âu Cơ là vợ của Lạc Long Quân, do căn cứ vào nơi ở của hai vị, mà các đời sau mới gọi là “Mẫu Thủy” (hay “Mẫu Thoải”).

Về tên gọi “Thủy phủ” – nơi ở của Lạc Long Quân và Âu Cơ, còn thấy được chép trong Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp: “Lạc Long Quân… đặt ra các thứ bậc vua tôi… Có khi trở về Thủy phủ mà trăm họ vẫn yên vui vô sự”.

* Như đã nói, bà Âu Cơ tuy có nguồn gốc phương Nam nhưng lại được sinh trưởng từ phương Bắc, tức là cùng quê với bà mẹ chồng là Hồng Đăng Ngàn (tức “Mẫu Thượng Ngàn”), vợ của Kinh Dương Vương.

Là người sinh ra và lớn lên ở xứ sở trồng dâu chăn tằm và dệt the lụa sồi đũi (tức vùng xung quanh hồ Động Đình), nên khi về làm dâu trong nước, bà Âu Cơ cũng kế nghiệp luôn những công việc này của bà mẹ chồng, trở thành vị tổ thứ hai, sau Mẫu Thượng Ngàn là vị tổ thứ nhất, của nghề chăn tằm và dệt the lụa sồi đũi, của nước ta. Vì thế mà trong Bách Việt triệu tổ cổ lục mới chép: “Bà là người hiền đức, kế nghiệp mẹ chồng dạy dân nghề chăn tằm dệt vải…”. Không những thế, trong bộ sách này còn chép: “Sinh thời Bà thường chăm sóc cho các gia đình binh lính, vì thế, sau khi bà “hóa”, được dân chúng tôn xưng là Bà chúa Lính”. Điều ấy có nghĩa là: Sinh thời Bà hay chăm sóc cho gia đình những người theo Lạc Long Quân đi diệt trừ các loài thủy quái gây hại, nhưng chẳng may bị thương tích hay bị thiệt hại đến tính mạng.

Cũng giống như bà mẹ chồng, khi chăn tằm thì bà Âu Cơ cũng thường xuyên phải “ăn cơm đứng” (Tục ngữ: “Làm ruộng ăn cơm nằm, chăn tằm ăn cơm đứng”) – tức là lúc nào cũng tất bật, chẳng được thảnh thơi ngay cả trong khi ăn. Vì thế mà sau khi bà “hóa” vào ngày 5 tháng 5 âm lịch, được các đời sau tôn vinh là “Mẫu Thủy”, “Bà chúa Lính”, và cúng Bà thì bằng bánh trôi bánh chay và các thức ăn ngon, giống như đối với bà mẹ chồng (tức “Mẫu Thượng Ngàn”) vào ngày 3 tháng 3. Đó là cách tưởng nhớ của người dân nước ta, vừa thiết thực vừa thể hiện đầy đủ những giá trị nhân bản.

Bây giờ chúng ta hãy trở lại với tục “nhuộm móng chân móng tay cho trẻ em” và “hái các loại lá đem về ủ, phơi khô để dùng nấu nước uống dần”trong ngày 5 tháng 5, mà cụ Phan Kế Bính đã nhắc đến.

Trong Bách Việt triệu tổ cổ lục có nói tới việc thời Kinh Dương Vương, khi Nguyễn Lâm (Lạc Long Quân) được giao trông nom các công việc về sông nước, thì Ngài đã tổ chức một đoàn gồm nhiều thanh niên trai tráng lực lưỡng và dũng cảm, dùng thuyền cùng cung tên giáo mác (có mũi bằng sắt) đi đến những nơi có thủy quái gây hại (như thuồng luồng, giải, cá sấu…), để diệt trừ chúng. Để đánh lừa các loài thủy quái, Ngài cùng mọi người săm mình để có hình dạng bên ngoài giống với thủy quái, từ đó mà dễ bề hành động tiêu diệt được chúng, nhất là khi phải lặn lội xuống các vùng nước sâu. Vì thế mà trong dân gian các đời sau mới lưu truyền nhiều câu chuyện truyền thuyết về Lạc Long Quân đánh Hồ tinh, đánh Ngư tinh… được ghi lại trong sách Lĩnh Nam chích quái. Và như vậy, xét từ tục săm mình đã có ở thời Lạc Long Quân với tục nhuộm móng chân móng tay cho trẻ em ở giai đoạn sau đó, ta sẽ thấy chúng có quan hệ tương đồng, do vậy, có thể khẳng định rằng đây là một phong tục tập quán của nước ta, có nguồn gốc từ thời dựng nước, chứ không phải tục lệ chúng ta đi học và làm theo người phương Bắc.

Việc “hái các loại lá đem về ủ, phơi khô, dùng để nấu nước uống dần” mà cụ Phan bảo là “do tự điển Lưu Thần, Nguyễn Triệu đời nhà Tấn”, ta có thể đối chiếu với điều đã được ghi trong Bách Việt triệu tổ cổ lục về sự tích của cụ Đế Thừa (hay Sở Minh Công) – sinh ra Đế Minh và Đế Nghi, còn trước cả thời Lưu Thần Nguyễn Triệu đến hàng trên một nghìn năm nữa: “Ông lớn lên chăm chỉ chuyển hướng lúa nương sang trồng lúa nước, trồng dâu, dệt the, nếm cây thảo dược làm thuốc chữa bệnh, nên người trong nước gọi là vua Thần Nông”.

Nếu so sánh việc “nếm cây thảo dược làm thuốc chữa bệnh” với việc “hái các loại lá đem về ủ, phơi khô, để nấu nước uống dần”, ta thấy chúng có cùng tính chất. Đó là việc ngay từ thời dựng nước, sau một quá trình thử nghiệm (“nếm”) lâu dài, tổ tiên ta đã biết sử dụng cây cỏ hoa lá… làm dược liệu để chữa bệnh. Vậy thì, việc “hái các loại lá ủ, phơi khô, để nấu nước uống dần”, chỉ là một công đoạn đơn giản, khởi đầu của quá trình kia, làm sao lại phải chờ đến hàng nghìn năm sau mới xuất hiện theo cái cách “đi học của người nước ngoài” được?

Việc “nhuộm móng chân móng tay…” và “hái lá nấu nước uống…” ấy, được tiến hành vào ngày 5 tháng 5, theo những ghi chép từ Bách Việt triệu tổ cổ lục, thì đó chính là sự tưởng niệm của người dân nước ta trong ngày quốc lễ, về một vị tổ mà khi sinh thời đã có rất nhiều công lao, và sự nghiệp thì xứng đáng để các thế hệ mãi mãi lưu truyền.

Phong tục tập quán của nước ta còn rất nhiều nữa và nếu đem so với người phương Bắc thì đúng như Nguyễn Trãi đã từng viết trong Bình ngô đại cáo:

Như nước Đại Việt ta thuở trước
Vốn xây nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác.

 (Theo bản dịch của cụ Bùi Kỷ)

NGUỒN GỐC, Ý NGHĨA CỦA VIỆC THỜ CÚNG 12 BÀ MỤ

Trong sách Việt Nam phong tục, học giả Phan Kế Bính đã viết về tục “cúng mụ” như sau:

“Trong sách Bắc hộ lục (của người Trung Quốc) có nói: Tục Lĩnh Nam nhà giàu đẻ con được ba ngày, hoặc đầy tháng, thì tắm cho con, làm một bữa tiệc, gọi là “đoàn du phạn”(nghĩa là bữa cơm tròn trặn trơn tru).

Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn thì nói rằng: Tục nước ta, đẻ con được ba ngày, làm vài mâm cỗ cúng mụ. Đến hôm đầy tháng, hôm 100 ngày, hôm đầy tuổi tôi, đều có làm cỗ cúng gia tiên, bày tiệc ăn mừng…

Cứ như tục lệ thành phố Hà Nội bây giờ (vào khoảng năm 1913 – 1914) thì đẻ con ra đầy cữ, đầy tháng, đầy tuổi tôi, mới làm cỗ cúng mụ. Trong lễ cúng thì dùng 12 đôi hài, 12 miếng trầu, cua, ốc, nham, bánh đúc, v.v… Vì ta tin rằng có 12 bà mụ nặn ra người”.

Nhận xét: Trong tục “cúng mụ” kể trên, ta thấy Phan Kế Bính đã dẫn đến hai nguồn tư liệu từ sách vở:

  • Của người Trung Quốc viết về nước ta thì không nói đến tục “cúng mụ”, mà chỉ nói là bữa tiệc “đoàn du phạn”, nhưng chỉ “nhà giàu” mới làm.
  • Còn sách của Lê Quý Đôn (cuối thời Lê) mới nói đến tục “cúng mụ” này, ở thời điểm “đẻ con được ba ngày”, và lễ vật thì “vài mâm cỗ”.

Đến nguồn tư liệu thứ ba được quan sát trực tiếp từ đời sống, thì Phan Kế Bính mới thấy: “đầy tuổi tôi mới làm cỗ cúng mụ”, và lễ vật thì “12 đôi hài, 12 miếng trầu v.v…”

Như vậy, nếu đúng như Phan Kế Bính quan sát thì có thể thấy, tục “cúng mụ” với “12 đôi hài, 12 miếng trầu…” chỉ mới xuất hiện trước thời Phan Kế Bính viết Việt Nam phong tục (1913 – 1914) không lâu. Còn tại sao lại như thế, thì tác giả chỉ trả lời chung chung: “Vì ta tin rằng có 12 bà mụ nặn ra người”. Điều này cũng giống như thơ Hồ Xuân Hương (sau thời Lê Quý Đôn ít lâu) viết: “Mười hai bà mụ ghét chi nhau. Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu”. Nghĩa là có quan niệm “12 bà mụ nặn ra con người”, nhưng quan niệm này xuất hiện từ đâu, vào thời điểm nào…, thì các tác giả cũng chưa trả lời được.

°°°

Trong mấy năm vừa qua, khi đi điền dã tìm hiểu phong tục tập quán, tín ngưỡng ở vùng tổng Sốm (Sốm là biến âm từ Sấm, còn gọi theo âm Hán – Việt là Cổ Lôi, rồi Đại Lôi…) ngày trước, nay là địa bàn chủ yếu của hai xã Phú Lãm – Phú Lương, đầu huyện Thanh Oai, Hà Tây, chúng tôi được cụ tộc trưởng họ Nguyễn ở đây giải thích và cho xem các văn bản cổ có liên quan đến tục “cúng mụ” này. Nay xin trình bày lại như sau:

Sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, thì dòng đích của cụ Hùng Định (cha đẻ của Hai Bà Trưng) không còn một ai, vì vậy, các vị tộc trưởng họ Nguyễn ở Cổ Lôi đã thờ cúng các vị liệt tổ liệt tông chung gây dựng nên cơ đồ dân tộc, thì cũng thờ cúng cả cụ Hùng Định, cụ Đỗ Năng Tế, Hai Bà Trưng… và tất cả các bà mẹ, các vị tướng lĩnh đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa này, tổng cộng là 12 bà mẹ và 36 vị tướng cả nam lẫn nữ (có đầy đủ danh sách được ghi trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư).

Việc thờ cúng ấy diễn ra trong suốt thời Bắc thuộc, nhưng dưới hình thức thờ cúng cha mẹ, ông bà tổ tiên và không khoa trương, nên quan lại cai trị phương Bắc cũng không “động” đến.

Vào năm 968, khi vua Đinh chính thức đăng quang, thì Ngài cũng phong ngay cho vị tộc trưởng họ Nguyễn khi ấy là Nguyễn Đức (là anh ruột của Định quốc công Nguyễn Bặc và Hoàng hậu Đan Gia) tước vị Quận công và giao quyền quản lý 2.400 mẫu ruộng ở vùng này, để dùng vào việc xây dựng, tôn tạo đền chùa miếu mạo, cúng giỗ cho các vị liệt tổ liệt tông và các vị có công đối với đất nước, hàng năm tổ chức lễ hội, tế lễ, rước sách, đón Hội đồng tộc biểu và đồng bào cả nước về dự.

Trong số 2.400 mẫu ruộng thờ kể trên, thì 1.600 mẫu để thờ các vị liệt tổ liệt tông và các vị có công ở thời dựng nước, còn 800 mẫu để thờ cụ Hùng Định, cụ Đỗ Năng Tế, Hai Bà Trưng, 12 bà mẹ, 36 vị tướng của cuộc khởi nghĩa này.

Có 72 ngôi đền được dựng lên ở khu vực này trong thời kỳ ấy, do các vị Nguyễn Đức, Nguyễn Bặc và Hoàng hậu Đan Gia chủ trì, gọi là “Nam thiên thất thập nhị từ”, được chia ra làm ba khu vực: khu đền Thượng 24 ngôi, khu đền Trung 24 ngôi và khu đền Hạ 24 ngôi.

Cụ Hùng Định, cụ Đỗ Năng Tế, Hai Bà Trưng, 12 bà mẹ, 36 vị tướng được thờ tại khu vực 24 tòa (ngôi) đền Trung.

Các ngày giỗ chính trong năm về thời “Hai Bà Trưng” như sau:

  • Ngày 20 tháng 2 (âm lịch): giỗ Hai Bà Trưng.
  • Ngày 16 tháng 10 (âm lịch): giỗ hai vợ chồng cụ Đỗ Năng Tế (thầy dạy học của Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh).
  • Ngày 9 tháng 3 (âm lịch): giỗ hai vợ chồng cụ Hùng Định (sinh ra Hai Bà Trưng).

Tuy nhiên, đến ngày 9 tháng 3 (âm lịch) hàng năm, thì vừa tổ chức cúng giỗ cho hai vợ chồng cụ Hùng Định, lại vừa tổ chức cúng giỗ chung cho tất cả các bà mẹ và các tướng lĩnh trong cuộc khởi nghĩa này. Cỗ cúng là cỗ mặn, theo nghi thức trọng thể (lễ “tam sinh”).

Trở lên, đó là những nét khái quát chung về việc thờ cúng các vị có công đối với đất nước ở thời kỳ “Hai Bà Trưng”. Như vậy, khu vực tổng Sốm thời trước mới là nơi thờ chính và nơi tổ chức cúng giỗ tập trung cho các vị. Tình hình này kéo dài trong suốt 940 năm, từ thời Đinh (968) đến cuối thời vua Thành Thái (1907) nhà Nguyễn, và chỉ chấm dứt khi thực dân Pháp đã tàn phá xong khu vực “Nam thiên thất thập nhị từ”.

* Việc tổ chức cúng giỗ cho 12 bà mẹ có công trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chẳng những diễn ra tập trung tại khu vực tổng Sốm, mà còn diễn ra trong các địa phương trên địa bàn toàn quốc nữa. Điều này có thể lý giải là do nỗi lòng thương tiếc của toàn dân đối với các vị, bởi vì người phụ nữ khi xưa đi lấy chồng thì thuộc về “người nhà chồng”. Thế nhưng đến khi ngay cả nhà chồng cũng không còn ai “nối dõi” nữa, do vậy cũng không còn ai thờ cúng nữa như trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, thì “linh hồn” của các vị sẽ trở thành bơ vơ. Đấy là cội nguồn của nỗi tiếc thương của người dân đối với các vị, và đấy cũng là khởi đầu để khắp các nơi trong cả nước tổ chức cúng giỗ cho các vị.

Việc tổ chức cúng giỗ cho 12 bà mẹ có công trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng trên địa bàn toàn quốc, như vậy là đã được manh nha rồi định hình ngay từ sau khi cuộc khởi nghĩa này thất bại. Nhưng dưới áp lực của gần suốt một nghìn năm Bắc thuộc, hình thức cúng giỗ ấy đã bị “biến dạng”: Người dân không tổ chức cúng giỗ tập trung vào một ngày có nhiều người tham gia, mà tổ chức theo hình thức “dân gian” tại mỗi gia đình ở các địa phương. Và theo cách thức đó, ta thấy sự nghiệp của 12 bà mẹ vẫn như còn sống mãi. Đó là việc vào ngày đầy tháng của mỗi đứa trẻ, cả nam lẫn nữ, đều được cha mẹ, ông bà và mọi người thân tổ chức cúng lễ để cầu mong các bà về phù hộ độ trì cho nó hay ăn chóng lớn. Lễ cúng ấy gọi là “cúng mụ”, tức là cúng 12 bà mẹ trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, từ nay sẽ là “Thần linh” phù hộ độ trì cho đứa trẻ.

Tuy nhiên, như đã nói, dưới áp lực của gần một nghìn năm Bắc thuộc, để che giấu sự nhòm ngó của các quan lại cai trị phương Bắc, nên người dân chỉ nói “cúng mụ” là “cúng cho các bà đã nặn ra đứa trẻ”, hoặc đến thời người Pháp cai trị, khi trả lời nhân viên Trường Viễn đông bác cổ điều tra về việc này, thì các cụ ở vùng tổng Sốm đã nói với họ: “Vì các bà mụ nặn mồm nặn miệng đứa trẻ, nên phải cúng”.

Cúng 12 bà mẹ anh hùng trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng dưới hình thức này, có thể sẽ dẫn đến sự hiểu lầm: đó là cúng 12 vị thần của các tháng trong một năm về phù hộ độ trì cho đứa trẻ, hoặc cúng các vị thần của 12 trực trong một năm đó. Chúng tôi xin trả lời rằng: những quan niệm ấy là hoàn toàn không có cơ sở, bởi lẽ không có 12 vị thần riêng biệt cho từng tháng trong một năm, mà chỉ có 5 vị thần ứng với 5 mệnh của các năm, chứ không phải của các tháng. Còn các trực, tuy mang con số 12, nhưng không phải ứng với tháng, mà là ứng với từng tuổi của mỗi người.

°°°

Cách thức tổ chức và lễ vật bày biện trong một buổi “cúng mụ” trong dân gian cũng thật đơn giản, đơn sơ, dù nhà giàu hay nhà nghèo cũng đều có thể làm được:

  • Cách thức tổ chức: có thể cúng tại nhà hoặc cúng trong chùa, có thể mời thầy cúng hoặc tự cúng lấy, cách nào cũng đều được cả. Phần lớn người dân đều chọn hình thức cúng tại nhà và tự khấn lấy. Lời khấn (đại ý): “Chúng con lễ bạc lòng thành kính lạy Đức Thánh Mẫu và 12 bà mụ về chứng giám cho ngày đầy tháng của cháu… ở… Kính mời các cụ về… phù hộ độ trì cho cháu được hay ăn chóng lớn”.
  • Lễ vật: Lễ vật được bày ở trên bàn, đặt ở gian giữa trong nhà hoặc được đặt ở trước sân. Trên bàn gồm có:
  • 13 con cua và 13 con ốc
  • 13 đôi hài: 1 đôi màu đỏ, 12 đôi màu xanh (vàng mã)
  • 13 bộ quần áo, mũ: 1 bộ màu đỏ, 12 bộ màu xanh (vàng mã)
  • 1 quả trứng cắt thành 13 miếng
  • 1 nắm cơm cắt thành 13 miếng
  • 1 chẻo bánh đúc cắt thành 13 miếng
  • 1 miếng thịt ba chỉ chín (lấy ở phần có vú lợn) cắt thành 13 miếng
  • 13 con bún
  • 13 miếng trầu têm cánh phượng
  • Hương thắp 3 nén.

(Có thể thêm: 1 chai rượu, 1 con gà luộc, nhưng không có cũng được).

Nhận xét: Qua cách thức tổ chức và lễ vật kể trên, ta thấy ở đây đúng là một hình thức “dân gian”, thật đơn giản, chỉ cốt ở tấm lòng thành. Còn về việc tại sao các lễ vật đều mang con số 13, mà không phải 12, là do đã có trong lời khấn: “Kính lạy Đức Thánh Mẫu và 12 bà mụ”. “12 bà mụ” là 12 bà mẹ trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Còn “Đức Thánh Mẫu” là bà Hồng Đăng Ngàn, hiệu là “Mẫu Thượng Ngàn”, vợ của Kinh Dương Vương, người đã cùng chồng mang theo nghề trồng dâu chăn tằm, dệt the lụa sồi đũi về trong nước để làm quần áo mặc, thay cho việc trước đó chỉ dùng lá cọ và đồ “xô gai” (bằng sợi vỏ cây được đan hoặc tết lại) che thân. (Tư liệu này có trong Bách Việt triệu tổ cổ lục).

°°°

Kết luận: Như vậy, nguyên ủy của tục cúng “12 bà mụ” là có từ sau thời Hai Bà Trưng. “12 bà mụ” là 12 bà mẹ tham gia trong cuộc khởi nghĩa này, được quan niệm là các “Thần linh” phù hộ độ trì cho một đứa trẻ sau khi đã đầy tháng tuổi. Còn quan niệm “12 bà mụ nặn ra người” chỉ là một cách nói tránh tiếng, bởi vì theo đó, chẳng lẽ các vị tổ tiên trước cả thời Hai Bà Trưng lại cũng do các vị nặn ra hay sao? Nếu quan niệm các vị là những người đầu tiên “nặn ra con người” thì với câu hỏi đặt ra: “Ai nặn ra các vị?”, sẽ không có lời giải đáp.

Cùng với các hình thức tín ngưỡng khác, như Tam phủ công đồng, Tứ phủ công đồng, Ngũ vị tôn ông Tứ vị chầu Bà v.v…, thì cúng 12 bà mụ cũng là một hình thức tín ngưỡng của người dân nước ta để tưởng nhớ về các vị đã có công đối với đất nước. Đó là một nét văn hóa đẹp, thấm nhuần sâu sắc đạo lý: “Ăn quả nhớ người trồng cây; Uống nước nhớ nguồn” của người dân nước ta có nguồn gốc từ sau thời khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Ts. Lã Duy Lan


TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

  1. Đào Duy Anh: Việt Nam văn hóa sử cương (tái bản), Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1992.
  2. Đào Duy Anh: Lịch sử cổ đại Việt Nam (Nguồn gốc dân tộc Việt Nam). Tập san đại học, Hà Nội, 1957.
  3. Đào Duy Anh: Lịch sử cổ đại Việt Nam (Vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc), Tập san đại học, Hà Nội, 1957.
  4. Đào Duy Anh: Lịch sử cổ đại Việt Nam (Văn hóa đồ đồng và trống đồng Lạc Việt), Tập san đại học, Hà Nội, 1957.
  5. Đào Duy Anh: Lịch sử cổ đại Việt Nam (Giai đoạn quá độ sang chế độ phong kiến), Tập san đại học, Hà Nội, 1957.
  6. Toan Ánh: Nếp cũ hội hè đình đám, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1991.
  7. Toan Ánh: Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1992.
  8. Toan Ánh: Nếp cũ con người Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 1991.
  9. Phan Kế Bính: Việt Nam phong tục, Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp, 1990.
  10. Nguyễn Từ Chi: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb. Văn hóa Thông tin – Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, Hà Nội, 1996.
  11. Nguyễn Văn Huyên: Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995.
  12. Trần Đình Hượu: Từ hiện đại đến truyền thống, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1995.
  13. Nguyễn Duy Hinh: Tín ngưỡng Thành hoàng Việt Nam, Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.
  14. Cao Huy Đỉnh: Người anh hùng làng Gióng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969.
  15. Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên – Võ Quang Nhơn: Văn học dân gian Việt Nam (in lần thứ 4), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2000.
  16. Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.
  17. Tạ Chí Đại Trường: Thần, người và đất Việt, Văn nghệ xuất bản, California USA, 1989.
  18. Nhiều tác giả: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc – Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, Hà Nội, 2000.
  19. Nhiều tác giả (Trung Quốc): Tri thức văn hóa Trung Quốc (Nguyễn Thị Thu Hiền dịch và biên soạn), Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội, 2000.
  20. Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983.
  21. Lý Tế Xuyên: Việt điện u linh, Nxb. Văn hóa, Paris, 1979.
  22. Vũ Quỳnh – Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1900.
  23. Phan Ngọc: Thử xét văn hóa, văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2000.
  24. Nhiều tác giả: Văn học so sánh, lý luận và ứng dụng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001.
  25. Lê Trung Vũ (chủ biên): Lễ hội cổ truyền của người Việt Bắc Bộ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992.
  26. Nguyễn tộc, dòng trưởng (ở Văn Nội, Phú Lương, Thanh Oai, Hà Tây): Bách Việt triệu tổ cổ lục, Kinh khâm thiên giải ách Ngọc Hoàng cốt tủy, Kinh ngũ bách danh…
  27. Jean Chevalier – Alain Gheerbrant: Từ điển biểu tượng Văn hóa Thế giới (Nhiều người dịch, Phạm Vĩnh Cư chủ biên), Nxb. Đà Nẵng – Trường viết văn Nguyễn Du, 2000.
  28. Trần Ngọc Thêm: sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.