173. 🌟 Nền tảng văn hóa Việt thời Lý – Trần

Việt Nam thuộc bán đảo Đông Dương gần hai quốc gia khổng lồ không chỉ về lãnh thổ mà cả về văn hóa là Ấn Độ và Trung Quốc. Bởi vậy vùng này nói chung là có nhiều ảnh hưởng và mang tính chất của hai nền văn hóa Ấn – Trung. Khoảng một thế kỷ trước Tây lịch và những thế kỷ sau đó, hai luồng văn hóa Ấn – Trung thâm nhập vào văn hóa Việt. Người dân Việt phải vận dụng nội lực – tinh hoa của văn hóa Việt, dung hóa và Việt hóa văn hóa Ấn Độ mà đại diện là Phật giáo; đồng thời hóa giải văn hóa Trung Quốc mà đại diện là Nho giáo, để không bị đồng hóa và tạo điều kiện thuận lợi để tam giáo Nho – Lão – Phật đồng lưu tại Việt Nam dưới thời đại Lý – Trần (vấn đề này không thuộc bài viết, xin để dịp khác đi vào chi tiết).

Thời Đinh, Lê, Lý, Trần, đối với tầng lớp bình dân, Phật giáo có tịnh, mật; còn đối với tầng lớp trí thức, Phật giáo có thiền, mặc dù thiền, tịnh, mật ở Việt Nam không tách rời nhau. Năm 580, Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Việt Nam thành lập thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, kết hợp thiền với mật. Năm 820, Vô Ngôn Thông đến chùa Kiến Sơ dựng nên phái Thiền Quán Bích, kết hợp thiền với đạo. Đầu thế kỷ thứ 11, nhà Lý lập nên phái Thảo Đường, dung hợp giữa thiền, tịnh và nho.

Kế tiếp văn hóa thời Lý, năm 1227 nhà Trần cho tổ chức thi tam giáo. Năm 1230, cuốn Quốc Triều Thống Chế Quốc Triều Thường Lễ bắt đầu được biên soạn.

Phật giáo vẫn được nhà Trần và dân chúng ủng hộ. Năm 1231, Thái Tông xuống chiếu trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng Phật để thờ. Năm 1299, Thượng Hoàng Nhân Tông vào núi Yên Tử, lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Năm 1231, nhà nước tổ chức thi tăng nhân hỏi Kinh Kim Cang.

Về Nho giáo, năm 1253, nhà nước đã lập Quốc Học Viện, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Mạnh Tử, vẽ tranh Thất Thập Nhị Hiền để thờ. Nhưng có lẽ Nho giáo thời Trần vẫn chưa phát triển mạnh. Nói về văn hóa thời Trần, chúng ta không thể bỏ qua một điểm khá đặc biệt. Đó là sự xuất hiện chữ Nôm, bắt đầu từ Hàn Thuyên năm 1282. Từ đây, dân tộc ta không những chỉ có lãnh thổ riêng mà còn có chữ viết riêng, cùng với sự phê phán việc bắt chước phong tục tập quán phương Bắc. Điều đó chứng tỏ ý thức độc lập, tự lực tự cường của Đại Việt ở thế kỷ 13. Từ đó, nó đòi hỏi cần có một tư tưởng độc lập tương xứng. Chính vì vậy mà Thiền Trúc Lâm ra đời để tập họp các thiền phái ở Việt Nam lại thành một tụ điểm như một dòng sông lớn. Có thể nói Thiền phái Trúc Lâm là tiêu biểu cho Phật giáo Việt Nam, mang sắc thái bao hàm những tính chất của nếp sống Việt – giản dị, thực tiễn, hài hòa, dung hợp, phóng khoáng, vô chấp, vì nước, vì dân, phục vụ quên mình – trong nền văn hóa nông nghiệp ổn định.

Về  mặt  tông  phái, Thiền  Trúc  Lâm  thoát  thai  từ  dòng Vô Ngôn Thông. Nó mang tính kết hợp thiền với đạo. Nhưng các thiền sư đã mang trong mình sự kết hợp thiền phái Vô Ngôn Thông với phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Thảo Đường. Chẳng hạn Thiền Sư Thường Chiếu, thế hệ thứ 12 dòng Vô Ngôn Thông (mất năm 1203) lại trụ trì ở tổ đình của phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Mặt khác, Thiền Sư lại là học trò của Sư Quảng  Nghiêm  (1122  –  1190),  người  đã  kết  hợp  dòng Vô Ngôn Thông với dòng Thảo Đường.  Như vậy, ngay bản thân Thiền Sư Thường Chiếu đã mở đầu cho sự kết hợp ba dòng thiền Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Thảo Đường ở Việt Nam vào cuối triều Lý. Học trò của Thường Chiếu là Thông Sư (mất 1228), học trò của Thông Sư là Tức Lự, rồi Tức Lự truyền cho Ứng Thuận (xem sơ đồ). Đó là những tổ gần  như  là  cuối  cùng  của  dòng  Vô  Ngôn  Thông  ở  Thăng Long.

Mặt khác, một người học trò của Thường Chiếu là Hiện Quang (mất năm 1221), Ngài là người khai mở dòng Vô Ngôn Thông ở Yên Tử. Hiện Quang truyền cho Đạo Viên (hay Viên Chứng mà trong Khóa Hư Lục, Vua Trần Thái Tông gọi là Trúc Lâm Quốc Sư Đại Sa Môn. Học trò của Đạo Viên là Đại Đăng. Còn Tiêu Dao thầy của Tuệ Trung Thượng Sĩ – là người kết hợp cả hai nhánh Yên Tử và Thăng Long (Vô Ngôn Thông). Vua Trần Nhân Tông lại học đạo với Tuệ Quang Thượnng Sĩ.

Có thể nói biểu hiện tiêu biểu nhất cho sắc thái Thiền Trúc Lâm Yên Tử là biểu hiện qua tư tưởng và hành động của Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ và Trần Nhân Tông.

Trần Thái Tông là người đặt nền tảng cho Thiền Trúc Lâm Yên Tử

Bài tựa của Thiền Tông Chỉ Nam ghi Vua Thái Tông bỏ ngôi báu vào núi Yên Tử xuất gia. Đạo Viên Trúc Lâm Quốc Sư nói: “Trong núi vốn không cóPhật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là Phật”. Quốc Sư còn khuyên Vua trở về ngôi vị: “Đã làm vua thì không còn có thể theo ý riêng mình được nữa. Phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình, phải lấy lòng dân làm lòng của mình. Nay dân đã muốn vua trở về thì vua không về làm sao được”.  Quốc Sư cho rằng Vua có thể vừa trị dân vừa tu học. Qua các lời khuyên, Quốc Sư đã nói lên tiếng nói vừa tích cực vào đời phục vụ nhân sinh, vị tha của Phật giáo Việt Nam, vừa tỉnh thức rời khỏi chấp thủ ngã. Vua Trần Thái Tông đã thực hiện đúng theo lời khuyên của Quốc Sư.

Nhà vua không theo các nghi lễ phiền phức, các tế đàn tốn kém, cũng không đi vào các thần chú của mật tông. Ngài vận dụng khả năng và nỗ lực của chính mình để chuyển hóa các tâm thức tham, sân, si thành không tham, không sân, không si, đi vào sâu định và tuệ giải thoát. Ngài vận dụng tu tập ngay trong đời sống xã hội, ngay giữa trách nhiệm phục vụ dân tộc, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ xứ sở. Đấy là Phật giáo, dòng Thiền mang sắc thái Việt Nam mà rất phù hợp với giáo lý truyền thống.

Tuệ Trung Thượng Sĩ là người thầy tư tưởng vĩ đại của Thiền Trúc Lâm Yên Tử

Tìm hiểu, nghiên cứu Thiền Trúc Lâm Yên Tử về mặt tư tưởng không thể không đề cập đến tư tưởng của Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291). Tuệ Trung là người thầy đáng kính của Trúc Lâm đệ nhất Tổ Trần Nhân Tông. Ông là một vị cư sĩ, nhưng được Nhân Tông tôn làm thầy.  Bởi vậy, những tư tưởng của ông có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành phái Trúc Lâm Yên Tử.

Nét đặc thù ở Thượng Sĩ (Bồ Tát) là tánh phóng khoáng tự tại bộc hiện cả đến hình thức sinh hoạt bên ngoài. Tuệ Trung Ngữ Lục ghi lại một câu chuyện: lúc dùng cơm chung với Hoàng Hậu Thiên Cảm (mẹ Vua Nhân Tông), Thượng Sĩ dùng luôn cả thức ăn mặn khiến Hoàng Hậu kinh ngạc hỏi: Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được? Thượng Sĩ đáp: Phật là Phật, anh là anh, anh không cần thành Phật, Phật không cần thành anh.

Khi Vua Nhân Tông hỏi về tông chỉ thiền để biết chỗ giác ngộ của Thượng Sĩ, ông đã nói: “Hãy quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ ấy, không thể đạt được từ một ai khác”.  Đó là nỗ lực tự thân – tự tri, tự giác, tự chủ, tùy dụng, lợi tha – để giải thoát mọi ràng buộc về vật chất cũng như tinh thần hầu tự giác giải thoát tự thể hiện. Chính Đức Thế Tôn đã nhiều lần nhắc nhở các vị Tỳ Kheo: ‘Hãy là ngọn đèn, hãy là nơi nương tựa cho chính mình, đừng tìm một nơi nương tựa nào khác” hay “Ngươi là nơi nương tựa cho chính ngươi, ai khác có thể lànơi nương tựa?” (Kinh Pháp Cú) hoặc “Trở về chính mình, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, làm chỗ nương tựa” (Trường Bộ Kinh III).  Ca dao Việt Nam cũng có câu: “Trăm hay xoay vào lòng” “ngọn đèn được tỏ trước khêu bởi mình”. 

Với Thượng Sĩ, đạo không phải là cái gì để hỏi, để bàn hay để tìm kiếm mà là để sống. Sống đạo có nghĩa là sống đời mà giác tỉnh, bỏ các vọng niệm như tham, sân, si … Nói khác đi, đạo chính là đời được loại bỏ các tư dục, phiền não: Sống tỉnh thức mà tâm tĩnh lặng.

Một vị tăng hỏi: Thế nào là đạo?

Thượng Sĩ đáp: Đạo không có trong câu hỏi, câu hỏi không có trong đạo.

“Hỏi” và “trả lời” là của thế giới khái niệm mà không phải là của thực tại. Đạo hay thực tại chính nó khác với khái niệm. Cái nhìn chân xác và thiết thực của Thượng Sĩ giúp người đời trở về với những hành động thiết thực của đời sống hàng ngày, đưa mình và người bước vào con đường giải thoát khỏi các phiền não và vọng tưởng. Chân lý không ở đâu xa mà ở ngay trong vạn pháp tức là ngay trong cuộc sống, ngay trong chính con người mình.

Đối với Tuệ Trung Thượng Sĩ, đạo với đời không tách rời nhau; đời cũng là đạo mà đạo cũng là đời. Tìm sự giác ngộ là tìm ngay trong đời sống hiện thực này. Điều này cũng phù hợp với chủ trương của Lục Tổ Huệ Năng.

Phật pháp tại thế gian
Chẳng rời thế gian giác
Lìa thế tìm bồ đề
Cũng như tìm sừng thỏ 

Chính cuộc đời này là nơi thử thách, tôi luyện con người. Chẳng thế mà các vị Phật, Bồ Tát muốn giác ngộ đều lấy cuộc đời con người làm nơi thử nghiệm. Thượng Sĩ đã nói rằng chẳng có gì lạ, giống như hoa sen nở trong lò lửa cuộc sống.  Ở bài Thị Chúng, Thượng Sĩ cho rằng trong bùn ao đen ngòm nhơ bẩn, vẫn vươn lên những bông sen hồng thơm ngát mà không hôi tanh mùi bùn (liên nhị hồng hương, bất trước nê).  Ca dao Việt Nam cũng có câu:

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn 

Các vị Phật, Bồ Tát cũng vậy, cũng xuất hiện từ trần tục, nhưng không nhiễm bởi trần tục, tức không bị trần tục vấy bẩn. Tư tưởng này góp phần làm cho Phật giáo Việt Nam có tinh thần nhập thế tích cực đặc biệt sống động linh hoạt, mang sắc tháiViệt Nam, khác hẳn tinh thần nhập thế của Phật giáo Trung Quốc.

Cái nhập thế mang sắc thái dân tộc là cái nhập thế vì dân, vì quê hương đất nước, vì cộng đồng dân tộc, vì sự an vui hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại, chứ không vì giải thoát bản ngã cá nhân, vì “khái niệm” kiền tánh thành Phật và giải thoát sinh tử luân hồi. Cái nhập thế mang sắc thái dân tộc có nghĩa cốt lõi là Việt Nam, Phật giáo chỉ là lớp sơn bên ngoài, cái vỏ hay cái áo, cái nhãn hiệu của thời đại. Nói cách khác, các thiền sư, các cư sĩ thiền sư, các nhà lãnh đạo Việt Nam (các Vua Lý – Trần) dù là Phật tử, vẫn còn mang trong người cái cốt lõi Việt, nói theo ngôn từ của thời đại “cái geneViệt”.

Các Ngài đã phục hoạt và vận dụng được cái cốt lõi nếp sống Việt – triết lý sống Việt – tinh thần đạo học Việt để xây dựng một nền văn hóa sáng chói ở Đông Nam Á dười thời độc lập, tự chủ Lý – Trần.

Chính vì thế mà dân tộc Việt Nam đã hai lần đánh thắng quân nhà Tống và ba lần đánh đuổi quân Mông ra khỏi đất nước. Trong lúc đó, phật tử, thiền sư Trung quốc không đóng góp tích cực được gì cho đất nước, nên Trung Quốc (120 triệu dân) bị Kim (2 triệu dân) chiếm nửa nước, gọi vua Kim bằng bác, xưng thần, nộp lễ vật hàng năm, sau đó bị Mông Cổ (2 triệu rưỡi dân) thống trị gần một trăm năm. Rồi Chu Nguyên Chương, người khai sáng triều Minh, xuất thân là chú tiểu ở chùa Viên Giác tại tỉnh An Huy.  Khi lên ngôi, vua Thái Tổ nâng đỡ và tích cực phát triển Phật giáo. Đích thân nhà vua thường vẫn tập đại chúng, giảng kinh, thuyết pháp. Theo sử liệu, chỉ trong hai năm đầu (1373 – 1375) đã có hơn 100.000 tăng sĩ được thọ giới. Có thể nói đời Minh, Phật giáo hưng thịnh và phát triển rộng rãi: tổ chức rất chặt chẽ, có Ty Tăng Lục để giám sát tình hình Phật giáo toàn quốc. Thế mà Mãn Châu (1 triệu dân) đã diệt Minh (150 triệu dân) và đô hộ Trung Quốc gần ba thế kỷ (1616 – 1911): nam thắt bín, nữ thích mặc áo xường xám, các thiền sư uống trà theo kiểu cách Mãn Châu.

Điều đó cho thấy các thiền sư Việt Nam, các cư sĩ thiền sư như Vua Lý Thánh Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông … các tướng Trần Tung (Tuệ Trung Thượng Sĩ), Trần Khắc Chung … biết vận dụng cái cốt lõi của tinh thần Việt – quên mình, vì dân, vì nước, tinh thần tự chủ, tính tự lực tự cường, … – đã lãnh đạo thành công cuộc chiến chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Như vậy phải chăng yếu tố văn hóa dân tộc – cốt lõi nếp sống Việt – là yếu tố chính trong việc bảo vệ đất nước, còn tôn giáo (Phật giáo) chỉ là yếu tố phụ, nếu không muốn nói là nhãn hiệu của thời đại? Chính Vua Trần Nhân Tông – nhà vua hai lần chiến thắng vẻ vang quân xâm lăng Mông Cổ – đã đem lại vinh quang cho Phật giáo Việt Nam, chứ không phải Phật giáo Việt Nam hay Trung Quốc hoặc Ấn Độ đã làm cho Vua Trần Nhân Tông trở thành người anh hùng dân tộc đáng kính.

Trong Thượng Sĩ Ngẫu Lục còn có tư tưởng “tùy nghi” “hợp thời đúng lúc”. Đó là một trong những nét đặc trưng của triết lý Việt mà ông cha ta đã nắm bắt được qua sự quán chiếu hệ quả của nghề trồng lúa nước: “thời vụ tính”. Gieo trồng, gặt hái, phải đúng chỗ, đúng lúc, hợp thời đã giúp ông cha ta ý thức được rằng mọi hành động muốn đạt kết quả tốt phải tùy thời, tùy chỗ, tùy việc, tùy người …

Đắc thời đắc thế thì khôn
Sa cơ rồng cũng như giun khác nào 

Nét đặc trưng này đã được ông cha ta huyền thoại hóa qua biểu tượng thần tổ kép Tiên Rồng để con cái Việt noi theo, không nên chắp nhặt vào mặt Tiên hay mặt Rồng mà phải tùy thời. Đối đầu với quân xâm lăng thì hùng dũng như Rồng, khi chiến thắng quân thù rồi thì nhân ái như Tiên. Dù chiến thắng vẻ vang (thể hiện cái uy dũng kiên cường bất khuất của Rồng) trên các chiến trường Bạch Đằng, Hàm Tử, Chương Dương, Chi Lăng, Đống Đa … Nhưng sau những chiến thắng oai hùng đó, các nhà lãnh đạo đất nước chủ động cầu hòa, chịu triều cống, xưng thần, thể hiện mặt uyển chuyển, mặt nhẫn nhục của Tiên, không dồn địch vào chân tường, hầu đem lại an vui, thanh bình cho toàn dân và để cùng sống với người; đồng thời cũng nhắc kẻ địch đừng quên bài học quí báu vừa qua. Nắm vững triết lý sống Việt, Thượng Sĩ cho rằng “phải hợp thời đúng lúc chứ đừng có lờ mờ”.

Nếu tùy nghi, hợp thời, đúng lúc thì trong những lúc quân xâm lăng đang dầy xéo quê hương đất nước, giết hại đồng bào, toàn dân đoàn kết quyết tâm đánh đuổi kẻ xâm lăng, chẳng lẽ mình lại đứng ngoài – đóng cửa chùa, trốn vào núi tu tập – mà nhìn. Như thế có hợp thời không? Hợp thời lúc này là không làm gì trái với người đời, hòa mình cùng thế tục, cầm gươm lên ngựa, cùng toàn dân đánh đuổi kẻ xâm lăng.

Mọi oai nghi “đi, đứng, nằm, ngồi”, mọi hành động “giã gạo, bổ củi, thổi cơm, gánh nước” (Huệ Năng) – “không làm không ăn, làm việc cũng là tu như làm vườn, tưới rau, cầy ruộng” (Bách Trượng) là thiền. Kết hợp với tư tưởng “tùy nghi” hợp thời đúng lúc trên thì “đánh giặc” cũng là thiền. Phải chăng đây là nét đặc sắc độc đáo của Phật giáo Việt Nam mang tính chất bản sắc dân tộc?

Tóm lại, bức thông điệp của các bậc thầy – Thiền Sư Đạo Viên, Vua Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ – truyền cho Thiền Trúc Lâm Yên Tử (Vua Trần Nhân Tông) :

– Trong núi không có Phật, Phật ở trong tâm Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là Phật.
– Đời và đạo là một. Vào xã hội cứu đời, không nghiêng nặng về thái độ trầm tư mặc tưởng, hành thiền ở nơi tịch mịch xa cách đời.

Phật ở các bậc thầy, cả Vua Trần Nhân Tông là Phật vào xã hội cứu đời. Phật vì dân tộc giống nòi, vì đất nước. Nói cách khác, những người đặt nền tảng tư tưởng cho Trúc Lâm Yên Tử như Đạo Viên (vừa tự dân vừa tu học), Vua Trần Thái Tông (vận dụng tu tập ngay trong đời sống xã hội, ngay giữa trách nhiệm xây dựng và phát triển xứ sở), Tuệ Trung Thượng Sĩ (cầm gươm đánh đuổi kẻ xâm lăng) đều chủ trương cái Phật giáo vì dân, vì nước, vào xã hội cứu đời.

Đến đời vua Trần Nhân Tông, Thiền Trúc Lâm Yên Tử là dòng thiền rất Việt Nam, mang tính chất dân tộc. Đó là nền Phật giáo nhập thế sống động đặc biệt liên hệ mật thiết với chính trị, quân sự, xã hội và phong hóa. Lúc tại ngôi, Vua cùng với Hưng Đạo Đại Vương và các tướng lãnh nhà Trần đã hai lần đánh tan đạo quân Mông Cổ, một đạo quân mạnh nhất thế giới thời bấy giờ đã đánh bại cả Trung Quốc và Âu Châu. Dưới triều đại ông, đã có hai hội nghị lịch sử: Hội nghị tướng lãnh ở Bình Than (1282), tạo sự đoàn kết giữa các vương hầu và trăm quan, đồng thời bàn kế sách chống quân xâm lăng; và Hội nghị Diên Hồng (1284) để biết ý toàn dân – hòa hay chiến – qua các đại diện bô lão, thể hiện tinh thần dân chủ trong nền văn hóa Việt ở thế kỷ thứ 13.

Dưới thời Vua Trần Nhân Tông, tinh thần dân tộc – đoàn kết, tự chủ, tự lực, tự cường – lên cao chưa từng thấy. Tinh thần dân tộc còn bộc lộ qua việc hình thành một thiền phái mới của người Việt, do người Việt, vì người Việt. Trong thời gian xuất gia, Điều Ngự (Vua Trần Nhân Tông) tập hợp bốn thiền phái (Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường) thành một dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử – thống nhất các thiền phái nói riêng, thống nhất Phật giáo nói chung – như một dòng sông lớn. Do đó, những thiền phái Trung Quốc (Lâm Tế, Tào Động) du nhập vào Việt Nam giống như những dòng sông nhỏ đổ vào dòng sông lớn đã có sẵn. Mặt khác, Điều Ngự có ý thức xây dựng một giáo hội Việt Nam thống nhất, cái mà ông nội (Trần Thái Tông) muốn, nhưng vì hoàn cảnh đất nước chưa thực hiện được. Cho nên khi lên núi Yên Tử tu hành, Điều Ngự vẫn đi khắp các chùa trong nước như Phổ Minh ở Thiên Trường, Sùng Nghiêm ở Chí Linh, Báo Ân ở Siêu Loại, Vĩnh Nghiêm ở Lam Giang … để hoằng dương Phật pháp. Điều Ngự viễn du khắp nơi – năm 1302 sang tận Chăm Pa – hoằng hóa và thường quan tâm đến một số vấn đề quốc sự quan trọng, đặc biệt là mối bang giao Việt Chiêm.

Ngoài tinh thần dân tộc, thống nhất Phật giáo và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, mang sắc thái dân tộc, Vua Trần Nhân Tông còn thể hiện tư tưởng thân dân, thương dân, khoan sức dân để làm gốc rễ lâu dài. Nhà vua đã đốt hết danh sách những người xin hàng quân Mông Cổ để yên lòng kẻ phản trắc. Ở ngôi vua đến năm 41 tuổi thì nhường ngôi cho Anh Tông và xuất gia ở Yên Tử.

Trần Nhân Tông cho rằng Bụt ở trong bản thân mình, không phải tìm ở đâu khác bên ngoài. Tục ngữ Việt Nam có câu “Bụt ở trong nhà mà lại đi cầu thích ngoài đường”.  Thật ra, tư tưởng này ông tiếp thu của người thầy khả kính Tuệ Trung Thượng Sĩ. Tuệ Trung cho rằng hãy quay về cái gốc của mình chứ không tìm đâu khác được. Thật ra đây chỉ là một sự diễn đạt khác quan điểm Phật tại tâm, Phật không có ở bên ngoài mà Quốc Sư Phù Vân khuyên Trần Thái Tông khi nhà vua muốn bỏ ngai vàng lên núi Yên Tử tu. Đó là tư tưởng của Bồ Đề Đạt Ma; Tâm là Phật. Không có Phật ngoài Tâm. Để đả phá quan điểm thông thường cho Tây phương cực lạc, tịnh độ là một vương quốc ở phía Tây đâu đó rất khó hình dung, Trần Nhân Tông viết: “Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi Tây phương”.

Theo Tam Tổ Thực Lục thì năm 1304, Ngự Hoàng (Vua Nhân Tông) đi khắp nẻo thôn quê, khuyên bảo dân chúng phá bỏ dâm từ và thực hành giáo lý Thập Thiện. Như đã trình bầy ở phần trên, giáo lý căn bản của Phật giáo như duyên khởi, nhân quả luân hồi được du nhập vào Việt Nam chỉ đặt tên, chữ nghĩa hóa những đặc tính của nếp sống Việt.  Ở đây Thập Thiện cũng chỉ đặt tên và hệ thống hóa những yếu tính của nếp sống, đạo sống Việt. Do đó, những giáo lý của Phật giáo nói chung, Thập Thiện nói riêng đã hòa nhập vào nếp sống Việt một cách dễ dàng tự nhiên, cho nên có một số người ngộ nhận cho rằng ngay từ thế kỷ II – III, Phật giáo Giao Châu đặc biệt là Khương Tăng Hội  đã xây dựng giáo lý Thập Thiện này thành một đạo lý của người Việt để góp phần chống lại văn hóa Trung Quốc và sự đồng hóa. Dần dần cái của người biến thành cái của mình, giáo lý Thập Thiện trở thành đạo sống của người Việt Nam cổ đại (?). Thật ra, như chúng ta đã biết, trước khi tiếp xúc với Phật giáo Ấn Độ, người nông dân Việt đã sống quần cư hài hòa trong xóm làng: hòa cả làng.  Họ “coi nhau như bát nước đầy”, trọng tình nghĩa,  “thương người như thể thương thân, công bằng là đạo người ta ở đời”, khước từ bạo lực “khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời”, “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, … Điều đó cho thấy phải chăng triết lý sống Việt, nếp sống Việt bao hàm cả Thập Thiện? Triết lý sống đã trở thành nếp sống nên rất thực tiễn. Phải chăng việc khuyên mọi người thực hành Thập Thiện là biểu hiện của việc kêu gọi toàn dân hãy trở về với tinh hoa truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa trồng lúa nước?

Nhận thức của Điều Ngự về đạo Phật nói chung, về thiền nói riêng rất cơ bản và chính xác. Thái độ sống đạo rất tự nhiên và phóng khoáng, nhưng rất đúng với chánh pháp:

Sống đời vui đạo hãy tùy duyên
Hễ đói thì ăn, mệt nghỉ liền
Trong nhà có ngọc đừng chạy kiếm
Đối ảnh tâm không, hỏi chi Thiền
 

Câu đầu nói lên thái độ sống hồn nhiên trong sáng, phóng khoáng tự nhiên. Đó là thái độ sống thích nghi hoàn toàn với mọi hoàn cảnh xã hội mà mình đang sống. Chấp nhận hiện tại với tinh thần “không chấp thủ” (tùy duyên), không oán trách quá khứ. Biết vui hưởng cái mình đang có, gặp khổ không oán trách vì thấu suốt luật nhân quả. Biết vui hưởng cái mình đang có trong tầm tay mình.

Câu thứ hai nói lên thái độ sống tỉnh thức, biết rõ những gì đang xẩy ra nơi thân cũng như trong tâm. Cách sống tùy duyên tức cách sống tỉnh thức trong hiện tại một cách như nhiên. Đói, biết mình đói. Đói thì ăn, không chần chờ, suy tính. Mệt, biết mình mệt. Mệt thì nghỉ, không suy nghĩ tính toán lung tung.

Câu thứ ba ý nói trong mỗi người đều có Phật tính (trong nhà có ngọc). Vua Trần Nhân Tông cũng đã nói ý này trong một dịp khác, nhưng với một giọng văn dân dã hơn:

Bụt ở trong nhà
Chẳng phải tìm xa,
Nhân khuẩy bổn (quên mất gốc) nên ta tìm Bụt
Chỉn mới hay chính Bụt là ta.
 

Chúng ta vốn là Phật, nhưng lại không tự biết. Cho nên cứ chạy đi tìm Phật ở đâu đâu (chùa, kinh điển) không chịu quay đầu lại tìm Phật ở trong bản thân mình. Thiền Sư Đạo Viên đã nói với Vua Trần Thái Tông rằng: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là Phật”. Tâm là Phật, không có Phật ngoài tâm. Tưởng tượng Phật ở ngoài tâm hay hình dung Phật ở bên ngoài là mê sảng (Bồ Đề Đạt Ma). Quay vào trong, trở về với chính mình, nương tựa chính mình, chính trí tuệ của mình, bằng nỗ lực của mình; trở về tính giác của mỗi người (trong nhà có ngọc), không cầu xin, thờ lạy, vọng ngoại. Đó là thái độ sống đạo biểu hiện tinh thần tự độ, tự giác, tự chủ, tùy dụng, lợi tha của Phật giáo. Nó cũng là biểu hiện tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc.

Câu thứ tư nói lên thái độ sống nhìn đời mà không dấy khởi tham, sân, si của mình. Vô tâm ở đây có nghĩa là không có

phản ứng tâm lý tham, sân, si đối với ngoại cảnh. Nhìn cảnh mà không khởi tham, không khởi sân hận, có nghĩa là giải thoát khỏi tham sân. Tham, sân là nhân chính dẫn vào khổ đau sinh tử. Giải thoát khỏi tham, sân là ý nghĩa và là nội dung của giải thoát khổ đau. Sống là đi từng bước giải thoát như thế, từng bước làm chủ tâm lý mình ra khỏi tham, sân. Con đường sống ấy có nghĩa là con đường giải thoát. Không tham, không sân là không chấp thủ, không vướng mắc ngoại cảnh là ý nghĩa đích thực của thiền. Sống nếp sống xa rời tham ái và chấp thủ, tức sống tỉnh thức mà tâm tĩnh lặng thì bàn luận về khái niệm thiện làm gì.

Vua Trần Nhân Tông đã Việt hóa chữ tâm trong “tức tâm tức Phật” thành chữ lòng rất Việt Nam mà nội hàm vừa bác học vừa dân gian. Bác học thì lòng là tâm theo nghĩa thiền tông. Dân gian thì lòng là tấm lòng của con người mang tính chất hướng thiện trong hành vi xã hội, phù hợp với tinh thần của nếp sống Việt. Vua Trần Nhân Tông đã sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, mang sắc thái dân tộc, đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam. Ông đã góp phần quan trọng trong việc thanh lọc tâm hồn con người, làm lành mạnh không khí tinh thần của thời đại bằng cách kêu gọi tu hành “Thập Thiện”, xiển dương Phật giáo. Cộng với lối sống tùy duyên (rất phù hợp với nếp sống Việt) nhàn hạ. Vua Trần Nhân Tông đã làm cho thời đại ông vừa anh hùng vừa thơ mộng, khiến cho thời Lý – Trần trở thành thời vẻ vang nhất trong lịch sử.

Sắc thái thiền đặc biệt Việt Nam, mang tính chất dân tộc ở đây là thể hiện nếp sống tỉnh thức mà tâm tĩnh lặng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, ngay cả lúc đánh giặc cứu nước cứu dân. Đó là nếp sống xa rời tham ái và chấp thủ. Nó rất linh động thích hợp với mọi người đi vào xã hội cứu đời, phát huy đạo, không nghiêng nặng về thái độ trầm tư mặc tưởng, hành thiền ở nơi tịch mịch xa cách đời. Chủ trương lý nhập, tức mượn giáo (kinh điển) để ngộ vào tông (yếu chỉ) mặc dù thiền tông (thiền Trung Quốc) xâm nhập vào Việt Nam, không ai phủ nhận, nó giữ một vai trò khá quan trọng trong thiền học Việt Nam, nhưng đánh, đập, la, hét, chê Phật, khinh tổ, chẻ tượng, giải công án, không bao giờ là tính trội vượt trong thiền Việt Nam. Cho nên nói thiền Việt Nam là thiền tông tức một chi của thiền Trung Quốc là không phù hợp với thực tế.

Phật giáo Ấn Độ du nhập vào Việt Nam trước, rồi mới đến Phật giáo Trung Quốc trên cơ sở tín ngưỡng phồn thực, sinh con đẻ cái, cầu mây (pháp vân Phật), cầu mưa (pháp vũ Phật), v.v… Phật giáo Việt Nam chủ sinh, chứ không chủ diệt. Nó mang tính dân gian và được tiếp nhận như một tín ngưỡng. Dù dưới thời Lý Trần và chỉ dưới thời Lý Trần, Phật giáo được vua, quan, giới trí thức nghiên cứu như một hệ tư tưởng, nhưng cũng không trở thành một cao trào sâu rộng như ở Ấn Độ và Trung Quốc.

Vì Trung Quốc tiếp nhận Phật giáo như một hệ tư tưởng nên có đôi lúc phải tranh luận gắt gao với những hệ tư tưởng khác (Nho, Lão …) bằng lý luận và cả bằng gươm đao. Hơn nữa, như đã trình bầy ở phần trên, những đặc tính cốt lõi của Phật giáo Ấn Độ cũng là đặc tính cốt lõi của nền văn hóa trồng lúa nước ổn định lâu đời hàng ngàn năm trước khi Phật giáo được hình thành tại Ấn Độ. Nói cách khác, Phật giáo Ấn Độ du nhập vào Việt Nam chỉ đặt tên, chữ nghĩa hóa và hệ thống hóa những đặc tính của nếp sống Việt (bình đẳng, tình thương, vô chấp, nhân quả …) mà người dân Việt đang sống. Cho nên, tinh thần Phật giáo Ấn Độ thâm nhập dễ dàng vào tâm hồn người Việt một cách sâu sắc, khiến tựa hồ ai ai cũng là tín đồ Phật giáo. Chính vì thế mà nhiều người đã ngộ nhận rằng tư tưởng Phật giáo là tư tưởng chủ đạo để chống lại văn hóa tộc Hoa Hán và dung hóa Nho – Lão dưới thời Lý Trần. Ngộ nhận vì chỉ nhìn mặt nổi ( văn hóa bác học) thường chịu ảnh hưởng nặng nề văn hóa ngoại lai mà không nhận ra được mặt chìm của văn hóa dân tộc (văn hóa dân gian).

Ngày nay khoa học (khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ học, địa chất học, đại dương học, thảo mộc học và nhất là di truyền học) đều chứng minh rằng tổ tông người Việt là chủng Nam Á ở Đông Nam Á Châu, là cái nôi cổ nhất của nhân loại ở Đông phương, đã bành trướng ra bốn phương. Và tổ tông người Việt đã thuần hóa cây lúa nước trước Trung Quốc và Ấn Độ cả vài ngàn năm. Điều đó cho thấy tổ tông người Việt đã xây dựng nền văn hóa trồng lúa nước mà cái cốt lõi của nền văn hóa đó đặt nền tảng trên sự hài hòa và tình thương mang tính nhân chủ rất vững vàng, phong phú, linh động và khai phóng mới đủ sức dung hóa và Việt hóa những tư tưởng Nho – Phật – Lão và khiến cho ba tư tưởng rất cao thâm đó đồng lưu dưới thời Lý Trần. Nói cách khác, dung hóa, Việt hóa tư tưởng ngoại nhập và ba tư tưởng Nho – Lão – Phật đồng lưu dưới chủ đạo của nếp sống Việt. Tinh hoa của triết lý sống đã trở thành nếp sống thì không cần phải đặt tên, hệ thống hóa và thuyết phục. Nó đã trở thành tự nhiên như nhiên, như đói ăn, khát uống, thấy người hoạn nạn thì thương, lá lành đùm lá rách, coi nhau như bát nước đầy,  hòa cả làng …

Tóm lại, Vua Trần Nhân Tông đã kết hợp Phật – Nho – Lão và tín ngưỡng văn hóa dân gian trên cơ sở của nếp sống Việt – triết lý sống Việt, dưới nhãn hiệu Phật giáo – ngôn từ của thời đại, để tạo nên một hệ tư tưởng có khả năng đáp ứng được nhu cầu xã hội của thời đại, thời Trần, thế kỷ 13 – 14. Vua Trần Nhân Tông đã tạo sự đoàn kết toàn dân trên nền tảng của tinh thần dân chủ, qua Hội Nghị Diên Hồng; và đã lãnh đạo toàn dân toàn quân đánh thắng một đạo quân mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, quân Mông Cổ. Ngài đã phát huy cao độ tinh thần dân tộc qua việc hình thành một thiền phái mới của người Việt, do người Việt, vì người Việt – Thiền Trúc Lâm Yên Tử – mang sắc thái dân tộc liên hệ mật thiết với chính trị, quân sự, xã hội và phong hóa. Ngoài việc phát huy tinh thần dân tộc, Vua Trần Nhân Tông còn phục hoạt truyền thống dân tộc qua chính sách thân dân, thương dân, khoan thư sức dân để làm gốc rễ lâu dài.

Vua Trần Nhân Tông là một ông vua anh minh, một nhà lãnh lạo có tầm nhìn xa trông rộng, biết hòa quyện chính trị với tư tưởng để phục vụ đất nước, một nhà quân sự lỗi lạc, một nhà tư tưởng, một nhà văn hóa và một thiền sư. Chính Vua Trần Nhân Tông đã đem lại vinh quang cho Phật giáo Việt Nam, chứ không phải Phật giáo làm cho Vua Trần Nhân Tông trở thành một trong những anh hùng dân tộc đáng kính.

Hiện nay chỉ còn một số ít tài liệu về Thiền Trúc Lâm Yên Tử nói riêng và về văn hóa thời Lý Trần nói chung. Hầu hết những tài liệu, những trước tác thời Lý Trần đều bị thất lạc. Nhưng chỉ qua một số ít tài liệu văn hóa còn lại, chúng ta cũng thấy được những nét độc đáo, mang sắc thái dân tộc, đậm đà mầu sắc đặc thù Việt Nam. Lịch sử cũng minh chứng văn hóa thời Lý Trần rất hưng thịnh, biểu hiện qua một số chiến công hiển hách – đánh Tống, bình Chiêm, đuổi Mông Cổ – và qua chính sách thương dân như con của các vua Lý và thần dân, khoan thư sức dân để làm gốc rễ lâu dài của các vua Trần, với tinh thần dân chủ qua Hội Nghị Diên Hồng, Hội Nghị Bình Than. Những sự kiện đó cho thấy các vua Lý Trần, các nhà lãnh đạo thời Lý Trần đã phục hoạt và phát huy được truyền thống dân tộc.

Phải chăng vì thế mà nhà Minh, đầu thế kỷ 15, đã cương quyết đập tan cái cốt lõi của nền văn hóa Việt. Cái cốt lõi mà các vua nhà Lý và nhất là các vua nhà Trần đã ra công sức phục hoạt, củng cố và phát huy trên 300 năm, để làm nền tảng cho nền văn hóa dân tộc dưới nhãn hiệu Phật giáo, nếu không muốn nói dưới chiêu bài phát huy Phật giáo. Sắc chỉ của Minh Thành Tổ gửi cho Chu Năng, tướng chỉ huy đoàn quân xâm lược ngày 21/08/1406 viết: một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không tiêu hủy; ngoài ra hết thẩy các sách vở, văn tự, cho đến cả các loại ca lý dân gian hay sách dạy trẻ … một mảy, một chữ đều phải đốt hết (Việt Kiện Thư, Q. 2, Thư mục q. 8 – VHVN chống PKTQ, nxb KHXH Hà Nội, 1981, trg 208). Trong đạo sắc chỉ thứ hai đề ngày 16/06/1407, Minh Thành Tổ cho biết, theo mật báo tâu về thì vẫn còn một số sách vở và bia đá của người Việt chưa bị đốt hoặc đập phá tại chỗ. Vì vậy ông ra lệnh: phải thi hành nghiêm chỉnh sắc chỉ trước, truyền cho quân lính hễ thấy sách vở, văn tự Việt ở bất kỳ nơi nào là phải đốt ngay không được lưu lại. Những đống lửa không lồ đã cháy suốt trong hai năm với mưu đồ cắt đứt tận gốc rễ văn hóa dân tộc Việt. Năm 1418, nhà Minh còn sai Tiến sĩ Hà Thi và Hành nhân Hạ Thanh sang tìm tòi lượm lặt tất cả những sách chép về lịch sử và sự tích xưa do người Việt viết để đem về tiêu hủy.

Theo sắc chỉ của Minh Thành Tổ thì các sách kinh và bản in của đạo Phật và đạo Lão không bị tiêu hủy. Vậy nhà Minh muốn đốt phá cái gì? Họ đốt phá, tiêu hủy những gì mang sắc thái dân tộc Việt Nam, truyền thống Việt, những gì khác với văn hóa Trung Quốc. Qua chính sách tiêu hủy văn hóa vô cùng thâm độc với mưu đồ cắt đứt tận gốc rễ văn hóa dân tộc Việt, chúng ta nhận thấy văn hóa Việt dưới thời Lý Trần rất phong phú, mang sắc thái dân tộc độc đáo. Điều đó củng cố và phát huy được truyền thống dân tộc, con đường sống của dân tộc nói chung và cốt lõi tư tưởng Việt nói riêng.

Qua dòng lịch sử, chúng ta nhận thấy khi nào các nhà lãnh đạo Việt Nam vận dụng được con đường sống của dân tộc, cốt lõi tư tưởng Việt vào đời sống thì dân tộc hưng thịnh. Cuối đời Hậu Lê – sau Nguyễn Trãi – các nhà lãnh đạo Việt Nam chạy theo tư tưởng ngoại lai, hết Tống Nho đến Thanh Nho và sau đó nô lệ tư tưởng Tây phương, cộng sản, tư bản … – thì dân tộc, đất nước càng ngày càng đi xuống, không vươn lên nổi.

LƯ TẤN HỒNG
Tập san Tư Tưởng, số 27/28.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.