164. Rìu Việt ở nam Mỹ và Polynesia

untitled-1-copy3

van-hoa-sa-huynh-6

Ai cũng đã biết rằng nói tổng quát Thổ Dân Mỹ châu từ châu Á và nói chính xác hơn, từ Đông Nam Á, di cư qua Mỹ châu vào thời tiền sử (đã được minh chứng bằng DNA và rõ hơn nữa là người Maya có DNA giống như người Việt cổ Đông Nam Á)  qua con đường chính là từ Đông Nam Á  đi lên phía bắc, vượt cầu đất Bering và một phần, có thể  là phụ, từ Đông Nam Á đi xuống Nam Hải (Nam Đảo, Đa Đảo, Đại Dương châu…) rồi tới Mỹ châu. Vì thế văn hóa Thổ Dân Mỹ châu có những điểm tương đồng với văn hóa Đại Tộc Việt cổ và văn hóa của họ còn giữ được nhiều nét chính thống của nền văn hóa cổ Đông Nam Á (không bị ảnh hưởng của Trung Hoa hay Ấn Độ) (xem Sự Tương Đồng Giữa Maya và Việt Cổ). Vì thế thay vì cứ dựa vào những tài hiệu cổ Trung Hoa để nghiên cứu văn hóa Việt cổ, ta có thể dùng văn hóa Thổ Dân Mỹ châu để nghiên cứu, kiểm chứng, điều chỉnh lại những thiếu sót và gạt bỏ đi những lệch lạch, bóp méo, xuyên tạc, miệt thị về văn hóa Việt cổ vì dựa theo văn hóa Trung Hoa (và ngược lại).

Trên con đường đi tìm dấu tích văn hóa của Đại Tộc Việt ở Mỹ châu từ Alaska nơi có cầu đất Bering cho tới chỏm hình chóp nón Nam Mỹ châu, lần đi Nam Mỹ này, tôi đã tìm thấy hình bóng chiếc rìu Việt tại vùng đất Chile qua chiếc rìu thờ của tộc Mapuche.

(Tôi đã tìm thấy chiếc rìu Việt này tại Chile, khi rời Chile được bẩy ngày thì trận động đất 8.8 xẩy ra).

Hiển nhiên chiếc rìu Việt có mặt ở Nam Mỹ châu là chuyện hợp lý.

Để hiểu rõ về hình ảnh chiếc rìu Việt này tại Chile, trước hết ta hãy tìm những sự tương đồng giữa văn hóa Việt cổ và văn hóa  người Mapuche, một tộc Thổ Dân Mỹ châu sống ở phần đất Chile ngày nay.

SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA VIỆT CỔ VÀ MAPUCHE

Người Mapuche là một tộc Thổ Dân Mỹ châu  chính ngày trước sống trên một lãnh thổ rộng lớn ở phần giữa nước Chile hiện nay, lúc tiếp xúc với người Tây Ban Nha vào năm 1540, người Mapuche có dân số khoàng 31 triệu người. Về sau họ bị người da trắng tiêu diệt và đẩy dần xuống phía nam. Năm 1994, lãnh thổ của Mapuche chỉ còn lại vài vùng định cư và dân số chỉ còn khoàng 300 ngàn người. Một vài chi tộc vượt qua rặng Andes sang vùng đồng cỏ lau Pampa thuộc Argentina ngày nay.

Để bài viết ngắn gọn, tôi so sánh ngay những điểm tương đồng chính giữa Việt cổ và người Mapuche.

.Trước hết, người Mapuche có gốc từ Đông Nam Á, vậy tổng quát văn hóa của họ có những điểm tương đồng với Việt cổ là chuyện hữu lý.

.Ngay cái tên Mapuche có nghĩa là Người Của Đất cũng có thể chuyển qua Việt ngữ. Mapuchi có Mapu- là Đất, thật ra là đất vùng cao tức núi, Mapu có Ma- nếu hiểu theo nghĩa đất thì Ma- liên hệ với Việt ngữ Mô, chỗ đất cao, còn hiểu theo nghĩa Mẹ thì Ma là mẹ giống như Maya ngữ  có Ma- có một nghĩa là Mẹ (có tác giả cho rằng Mapuche ngữ liên hệ với Maya ngữ, xem dưới) và -pu liên hệ với Việt ngữ cổ pu, pù là núi. Tác giả Lê Trọng Khánh trong Phát Hiện Hệ Thống Chữ Khoa Đẩu Thuộc Văn Hóa  Đông Sơn (Hà Nội 2008) đã thu thập được rất nhiều từ Pu có nghĩa là Núi từ vùng Lưỡng Việt (Lưỡng Quảng) cho tới Miền Đông Nam Bộ. Pù (núi) chuyển âm thành Phu, Phù (núi). Loại địa danh này rất phổ biến ở nước ta. Lấy vài ví dụ là vùng trung du Vĩnh Phú có các địa danh: Phù Hang, Phù Trung, Phù Chinh, Phù Cốc, Phù Lập, Phù Phong (Huyện Vĩnh Tường). Huyện Từ Sơn: Phù Loa, Phù Tảo, Phù Châu, Phù Lạc, Phù Lưu, Huyện Mai Động: Phù Liệt. Huyện Hiệp Hòa: Phù Sơn. Huyện Thanh Oai: Phù Vân, Phù Ninh (Tốt Động). Huyện Ứng Hòa: Phù Lưu Tế, Phù La, Phù Liễn (Kiến An, Hải Phòng). Thanh Hóa: Phù Nam, Phù Lộc (Bỉm Sơn), Phù Vinh….

Và Mapuche có –che là người. Theo ch=c=k, –che = Việt ngữ kẻ (có một nghĩa là người).

Như thế Mapuche là Người Của Đất Núi hay là Người của Mẹ Đất Núi (giống như Mẹ Tổ Âu Cơ). Hiện nay hiểu tổng quát Mapuche là Người Của Đất chưa được hoàn chỉnh phải hiểu là vùng đất vùng cao, núi, Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới (xem thêm ở dưới).

.Vậy cốt lõi văn hóa, vũ trụ quan của người Mapuche phải có những điểm giống văn hóa Việt cổ ở Đông Nam Á cổ tức là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương. Vũ trụ quan này thấy rất rõ qua hình ảnh mặt trống thờ kultrun, lịch của người Mapuche, qua bà Đồng Machi và chiếc rìu toki…

Ta hãy so sánh văn hóa của người Mapuche và Việt cổ dựa vào cái cốt lõi văn hóa Vũ Trụ Tạo Sinh này.

.Hư Vô, Vô Cực

Hư không, không gian, cõi trên, Thượng Thế thấy rõ qua Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) và qua chiếc trống tế kultrun hình nồi tròn và các hình trang trí trên mặt trống (xem dưới).

.Thái Cực

Truyền thuyết sinh tạo của Mapuche có hai vị thần sinh đôi có nghĩa là cùng sinh ra  từ một trứng tức Trứng Vũ Trụ, sinh ra từ Thái Cực (xem dưới).

.Lưỡng Nghi

Nguyên lý lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương thấy rất rõ trong vũ trụ quan, nhân sinh quan của người Mapuche. Nguyên lý này được diễn tả trên mặt trống tế kultrun. Chữ thập chia mặt trống thành bốn vùng ứng với tứ phương. Nhánh ngang của chữ thập chia ra phía trên là trời và phần dưới là đất. Đất-trời đối nghịch nhau tương đương với nòng nọc, âm dương hay là chu kỳ sinh tạo của thiên nhiên, tạo hóa. Người Mapuche tin là các khí lực thiện và ác, tốt và xấu ảnh hưởng lên tính thái con người. Trong các nghi thức tế lễ và vũ trụ quan, sự bù trừ, hài hòa của thần lực thiện (Ngnechen) tức dương và ác (weküfe) tức âm bao giờ cũng được tin tưởng, sùng bái. Thần lực thiện có nghĩa là sự sống và tạo dựng, còn thần lực ác là hủy diệt và sự chết.

Tính chất lưỡng hợp này cũng thấy rất rõ qua truyền thuyết hai vị thần nữ sinh đôi là Nữ Thần Đất Mắn Sinh và Nữ Thần Biển sinh ra người Mapuche. Thưở xa xưa có hai vị thần linh dưới hình hai con rắn khổng lồ là Cai Cai hay Cai Vilu (Thần Nước), vị thần này rất thù ghét loài người thường gây ra biển động, sóng thần để hãm hại người; vị kia là Ten Ten hay Tren Tren (dễ nhớ vì cùng âm với Việt ngữ Trên Trên có nghĩa là Trên Cao, Cao) hay Tren Tren Vilu (Thần Đất), rất thương người. Một ngày kia, Thần Biển muốn giết hết loài người bèn dâng nước lên cao. Thần Đất thấy vậy, loan báo cho con người và muôn thú phải leo lên phía đỉnh núi cao. Thần Đất làm cho những mô đất, những ngọn đồi cao thêm lên mỗi khi Thần Biển dâng nước cao lên. Có nhiều người không muốn di tản, chậm chân vì tiếc của bị chết chìm, chỉ có một số nhỏ chạy thoát được lên các đỉnh núi cao. Những người này chính là tổ tiên của người Mapuche. Tuy vậy họ vẫn phải hiến tế con cái họ cho thần biển thì Thần Biển mới vừa lòng rút nước xuống bờ biển. Mấy chục năm trước đây, vào năm 1960, tục này vẫn còn, sau một trận sóng thần do động đất gây ra, người ta tìm thấy xác một bé trai năm tuổi, bị cắm thẳng đứng ở bờ biển dùng làm vật tế Thần Biển, để thủy triều dâng lên cuốn xác ra biển…

Có tác giả cho rằng truyền thuyết này họ hàng với các truyền thuyết về Đại Hồng Thủy mà ta cũng thấy ở các sắc tộc ở Việt Nam.

Trước khi có đại hồng thủy thì hòn đảo Chiloé, hòn đảo quan trọng của người Mapuche còn dính đất liền. Ngày nay có nhiều giả thuyết về tên Chile nhưng đa số tin rằng tên Chile là do tên Chiloe này đẻ ra.

Ta cũng thấy truyền thuyết Thần Núi, Thần Biển này gần cận với truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh.

Những điểm quan trọng ta rút ra được từ truyền thuyết này là:

-Ta phải hiểu cho đúng là người Mapuche sống ở vùng đất cao nên Mapuche thường được hiểu là  Người Của Đất  thì phải hiểu là Đất cao còn sót lại sau đại hồng thủy tức Người Của Núi, Tộc Núi, Núi Trụ Thế Gian (xem dưới).

-Hai vị thần này là sinh đôi có nghĩa là cùng sinh ra  từ một trứng tức Trứng Vũ Trụ, sinh ra từ Thái Cực.  Hai người phân sinh ra thành hai cực ứng với lưỡng nghi phân sinh ra từ Thái Cực, một là sinh tạo, thiện và một là  hủy diệt, ác.

-Hai vị thần này là thần nữ nên đều mang khuôn mặt rắn. Như thế người Mapuche là tộc núi nhưng thuộc về ngành nòng âm ứng với khuôn mặt âm về phía chồng Lạc Long Quân của Âu Cơ.

.Tứ Tượng

Như đã nói quan niệm tứ tượng, tứ phương của vũ trụ quan của người Mapuche được diễn tả bằng bốn phần, bốn cõi như thấy qua sự trang trí bằng hình chữ thập diễn tả vũ trụ trên mặt  trống tế kultrun (xem dưới). Hai trục chữ thập thẳng góc chia mặt trống ra làm bốn phần ứng với tứ tượng. Người Mapuche ở trung tâm của vũ trụ, nơi bốn phương trời tụ lại (giao điểm của chữ thập vũ trụ). Đây là meli witran mapu, đất của bốn góc vũ trụ, bốn góc trời (land of four corners).

Như thế người Mapuche ở tâm vũ trụ trên Trục Thế Giới. Mapuche có nghĩa là Người Của Đất, thì phải hiểu là Đất trung tâm vũ trụ nằm trên Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới, hiểu theo dân tộc học là người ở vùng đất cao, vùng núi, người Mapuche là -che = kẻ, kì. Như thế người Mapuche có một khuôn mặt ứng với Xích Quỉ (Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời) tộc Kì, tộc Kẻ, tộc Núi của Kì Dương Vương, vua mặt trời thái dương thiên đỉnh ở trên đỉnh núi Kì, Trục Thế Giới.

Đối chiếu với Dịch ta cũng thấy nếu vũ trụ được diễn tả theo bốn cõi, bốn phương như người Mapuche và trong ma phương 5/15 (có số 5 là số trục và các nhánh có ba con số trong ma phương cộng lại bằng 15) thì số trục 5 là số Li, lửa thế gian ứng với Núi Trụ Thế Gian. Theo Dịch Trung Hoa, nếu ngũ hành diễn tả theo hình vuông thì hành Thổ nằm ở tâm hình vuông còn bốn hành kia ở tứ phương. Theo Việt Dịch thì tứ tượng ở bốn đỉnh hình vuông. Tứ Tượng sinh ra Tam Thế biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Cây này mang một hình ảnh Trục Thế Giới, Núi Trụ Thế Gian nằm ở tâm hình vuông (tại số trục số 5). Ta cũng đã biết chữ Thổ trên giáp cốt khắc hình trụ đá biểu tượng cho núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới. Như thế rõ như ban ngày người Mapuche quan niệm là họ ở tâm vũ trụ tức ở số trục số 5 ứng với hành Thố của Trung Hoa và tâm Trục Thế Giới, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) của chúng ta có nghĩa Mapuche là Người Của Đất  thì phải hiểu là  Núi Trụ Thế Gian, Núi Kì, là tộc -che, tộc Kẻ, tộc Quỉ (có nghĩa là Người), ứng với Xích Quỉ.

Cũng xin nói thêm là Kì Dương Vương là vị vua đầu tiên của Đại Tộc Việt cũng là con người đầu tiên của nhân loại (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Nhân loại sau đó chia ra làm Bốn Giống Người tức Tứ Dân. Quan niệm Tứ Dân này thấy qua người Trung Hoa cổ gọi các tộc xung quanh là Tứ Di và như đã nói trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, các Thổ Dân ở Bắc Mỹ châu cũng có quan niệm Bốn Giống Người ở tứ phương. Xích Quỉ của Kì Dương Vương và người Mapuche là tộc người đầu tiên của loài người ở tâm vũ trụ trên Trục Thế Giới.

Xin lưu tâm

Xin nhắc lại Trung Hoa có ngũ hành, chúng ta như thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn chỉ có tứ hành. Tứ Hành sinh ra Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Người Trung Hoa lấy Cây Vũ Trụ làm thành hành thứ năm là hành mộc. Quan niệm vũ trụ, muôn sinh do tứ hành sinh ra của chúng ta theo di truyền học ngày nay chính xác, đúng hơn ngũ hành. DNA là một chuỗi bốn di thể CAGT gọi là Bốn Mẫu Tự của Sự Sống (Four Letters of Life)…

Trong bốn phương ứng với tứ tượng thì hai phương Đông và Nam là hai hướng tốt và hai phương Tây và Bắc là xấu. Thần hướng Đông là Pillan sống sau rặng núi cao. Phương Đông không những là hướng mặt trời mọc mà còn là nơi của tất cả các thần lực, sinh lực có thể đảm bảo, sinh tạo ra sự sống. Phải triệu thỉnh vị thần Pillan này mới có thể lên được thế giới thần linh cõi trên. Những ngôi nhà tranh ruka của người Mapuche đều hướng về hướng Đông này cũng như bà đồng machi cũng hướng bàn thờ rewe về hướng này. Hướng Bắc là hướng Gió, có thời tiết xấu, trong khi hướng Tây là hướng mặt trời lặn và là cõi chết (www.mapa.uchile.cl/…/ingles/histor.htm).

Ta thấy quan niệm về bốn phương của người Mapuche tương đồng với chúng ta, chúng ta cũng trọng hướng Đông, bàn thờ Tổ Hùng mặt trời mọc cũng để ở hướng Đông và chúng ta cũng cho hướng Nam là hướng tốt. Nhà của người Mapuche quay về hướng Đông là quay về miền đất tổ Đông Nam Á ở phương Đông.

Cây Tam Thế

Người Mapuche cũng có Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Cây này được diễn tả bằng nhiều nấc bậc ứng với các cõi, các tầng vũ trụ.

cvt
Cây Tam Thế và Thần Mẫu của người Mapuche tộc Neuquén. (Hình trích trong The Mapuches of Neuquén, Art and Culture in the Argentine patagonia, vì quá vội tôi quên lấy tên tác giả).

Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống)  sinh ra Thần Mẫu, Mẹ Đời,  diễn tả bằng hình người nữ trên đầu đội một cái bình (biểu tượng cho âm, nữ) có hình quả bầu (biểu tượng cho bầu vũ trụ, bầu trời, sinh tạo) (xem dưới). Họ chọn cây foye làm Cây Vũ Trụ. Bà đồng machi là hiện thân của Cây Vũ Trụ, của Mẹ Đời, Thần Nữ Sinh Tạo. Chiếc trống tế thiêng liêng phải được làm từ gỗ của cây này. Mọi hình thức tế lễ, chữa bệnh đều dưới bóng hình của Cây Vũ Trụ qua sự điều khiển của machi (xem dưới).

.Bà Đồng Machi

Huyền thọai, đức tin và truyền thống của người Mapuche hiện rõ nhất qua hình ảnh Machi (mang tất cả các khuôn mặt của đồng bóng, vu hích, pháp sư, phù thùy, thầy thuốc). Machi là trung gian giữa thế giới con người và thần linh; machi giữ cân bằng giữa thiện và ác ở trên quả Đất, cõi người. Ngày xưa machi có thể là một người ái nam, ái nữ hay lại cái (hiện nay các học giả Tây phương nhìn dưới con mắt “lác” cho là đồng tính luyến ái) hay phái nữ nhưng về sau gần như phái nữ độc quyền. Đối chiếu với cổ sử Việt, ngày trước và gần đây chúng ta cũng có những bóng cậu, ông mo ái nam ái nữ. Những ái nam ái nữ này đội lốt các vị thần lưỡng tính phái ở tầng Thái Cực mang tính sinh tạo chung cho cả hai phái, hai ngành nòng nọc, âm dương. Từ mo có nghĩa là bao, bọc túi như mo cau là cái bao hoa qua. Bao bọc biểu tượng cho không gian, nang Trứng Vũ Trụ. Thái Cực.  Còn phái nữ ứng với bà Đồng của chúng ta. Đồng có một nghĩa là Mẹ như đồng áng là (công việc) mẹ cha, Mã Lai ngữ indong là mẹ. Bà đồng này đội lốt Mẹ Đời, Thần Nữ Sinh Tạo, các vị thần nữ  ở tầng Lưỡng Nghi mang tính sinh tạo cho các tộc thuộc ngành nòng, âm. Người Mapuche có Mẹ Tổ sinh ra là Nữ Thần Đất (Núi) Tren Tren đội lốt rắn nên họ  nghiêng hẳn về Machi nữ là chuyện tất nhiên. Các hình tượng kể cả Thần Nữ, Mẹ Đời trên đầu đội một cái bình, hiện nay được giải thích là để hứng nước mưa! Nếu nhìn dưới lăng kính nòng nọc, âm dương thì bình biểu tượng cho âm, nữ. Bình hình bầu biểu tượng cho bầu vũ trụ, bầu tạo hóa, bầu sinh tạo. Cái bình hình bầu cho thấy người Mapuche thuộc dòng nòng, âm, nữ, không gian.

Machi hành động như một tu sĩ và điều khiển các lễ tế. Họ cầu an lành, may mắn và tiên đoán những biến cố sẽ xẩy ra trong tương lai cho bộ tộc. Họ liên lạc với thần linh ở cõi trên. Họ tiếp cận với thần linh qua sự lên đồng (trance) khởi động bởi tiếng trống thờ Kultrun, nhẩy múa, hát tế và dùng các chất ma túy, ảo giác.

Machi chẩn đoán và chữa trị qua sự phù trợ của siêu nhiên, thần linh. Bệnh coi như là do ác thần (Wecufe) gây ra. Bổn phận của machi là đuổi bệnh đi. Qua cơn lên đồng, machi nhờ thần linh hướng dẫn chọn lựa cây cỏ dùng làm thuốc và hướng dẫn phương pháp trị liệu.

Hiển nhiên Machi nữ mang hình bóng bà Đồng của chúng ta.

Rõ hơn là Machi là hiện thân của Mẹ Đời, Mẹ Tổ Thần Mẫu sinh ra từ Cây Vũ Trụ. Điểm này tương đồng với truyền thuyết và cổ sử Việt  là Mẹ Tổ Mường Việt là Dạ Dần sinh ra Từ Cây Si, một thứ Cây Vũ Trụ (cũng xin nhắc lại, như đã viết trong Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, Mẹ Tổ, Thần Nữ của Indus Valley cũng sinh ra từ Cây Vũ Trụ). Bà Đồng là Bóng Mẹ Tổ sinh ra từ Cây Vũ Trụ (như đã biết đồng có nghĩa là Mẹ) giống như machi (machi có ma- biến âm với Maya ngữ ma, Việt ngữ má, mạ là mẹ). 

Machi  mang hình bóng Mẹ Đời, Thần Nữ, mang hình bóng của Dạ Dần Mường Việt thấy rõ nhất qua hình ảnh machi lúc lên đồng đứng trên Mẹ Đời, trước Cây Vũ Trụ, tay gõ chiếc trống nhập đồng kultrun.

machi
Machi đang lên đồng đứng trên Thần Mẫu và trước Cây Vũ Trụ (Photo in Halifax, p. 85)

Ta thấy rõ sự nối tiếp của hình bóng bà Đồng từ hàng nghìn năm xưa từ châu Á qua Nam Mỹ châu. Cũng xin nhắc lại là văn hóa Trung Hoa không có đồng bóng, họ thường chế nhạo bọn Tứ Di, Man Di có tục đồng bóng mọi rợ. Đồng bóng, hát chầu văn ở Việt Nam hãy còn tới ngày nay.

. Trống Thờ Kultrun Hay Kultrung.

Một tế vật quan trọng vào bậc nhất của người Mapuche là chiếc trống thờ thiêng liêng Kultrun hay Kultrung (dễ nhớ vì có -trun, trung biến âm với Việt ngữ trống).  Machi nhập đồng đi lên cõi trên của thần linh qua tiếng trống thờ kultrun và lời hát tế. Kultrun biểu tượng cho thần lực của machi. Cái thần lực siêu nhiên của machi được bổ túc bởi tiếng trống thiêng liêng kultrun trong lúc cầu nguyện và trong các tế vụ.

Để làm thùng trống kultrun, machi dùng vỏ cây foye hay Voigue (Drymis winteri), được coi như một thứ cây thiêng, coi như là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) của người Mapuche. Màng trống làm bằng da guanaco (loài thú giống lạc đà ở Nam Mỹ), cừu hay ngựa. Khi làm trống, machi hát tế cho lời nhập vào trống trước khi bịt mặt trống lại để gởi hồn mình trong đó và cũng bỏ vào trong trống những vật linh thiêng nho nhỏ như sỏi đá, lông thú hay cây cỏ làm thuốc. Những vật này tạo ra những âm thanh khi dùng trống làm trống rung (rattle).

Kultrun biểu tượng cho tiểu vũ trụ của machi và văn hóa của người Mapuche mang quan niệm thần linh của vũ trụ. Mặt trống biểu hiện siêu cấu trúc vũ trụ và các thành tố phi vật thể khác nhau. Một chữ thập chia mặt trống ra làm bốn phần, đường thẳng đứng (trục tung) biểu tượng cho vũ trụ chiều đứng (Thượng và Hạ Thế) và đường nằm ngang (trục hoành) biểu tượng cho cõi Đất bằng (Trung Thế). Giao điểm hai trục là trung tâm Thế Giới, nơi thiêng liêng là chỗ người Mapuche tiếp cận với Thần Linh và Tổ Tiên qua sự hỗ trợ của tiếng trống kultrun.

Nửa phân trên biểu tượng cho cõi trên, cõi trời wenu mapu, nơi có các thần linh, đứng đầu bởi Ngnechen, chúa tể của loài người. Trong khi nửa dưới là cõi dưới, cõi đất, cõi người.  Đất-trời đối nghịch nhau tương đương với nòng nọc, âm dương hay là chu kỳ sinh tạo của thiên nhiên. Ngoài ra còn có mặt trời, không gian, trăng, sao, tất cả đều là những vị thần linh như mặt trời anti, mặt trăng killen, sao mai weñelfe, sao wanglen…

Mặt kia của kultrun là cái thùng trống hình nồi với các vật biểu tượng biểu hiện hạ tầng cấu trúc của vũ trụ và quả đất cùng với những thành tố vật thể khác nhau.

Xin đưa ra một vài trang trí về Vũ Trụ Tạo Sinh trên mặt trống tế kultrun.

mt
Một vài trang trí mặt trống theo Vũ Trụ Tạo Sinh. (Hình trích trong The Mapuches of Neuquén, Art and Culture in the Argentine patagonia).

Các hình trang trí ở mặt trống trong hình trên cho thấy mặt trống kultrun diễn tả các giai đoạn Vũ Trụ Tạo Sinh: trục ngang biểu tượng cho mặt bằng cõi Đất Trung Thế, Trục đứng biểu tượng cho Thượng Thế và Hạ Thế (nối thiên đỉnh Zenith với rốn đất Nadir), chữ thập biểu tượng cho  tứ tượng. Trong các mặt trống này: có mặt trống có bốn phần để trống không diễn tả  khoảng trống không, vô cực; có mặt trống có hình vòng tròn là hư vô, không gian đã định hình hay mặt trời nguyên tạo hay mặt trời nòng âm đĩa tròn không có tia sáng; có mặt trống có hai vòng tròn đồng tâm là không gian hay mặt trời thái âm dòng nữ; có mặt trống có mặt trời có nhiều tia sáng cong mang âm tính thuộc dòng nòng âm, thái dương nữ; có mặt trống có mặt trời  tia sáng xoáy hình chong chóng là mặt trời sinh động; có mặt trống có mặt trời hình chữ vạn là mặt trời sinh động cõi tứ tượng…

Lưu ý đây là những hình, dấu, biểu tượng, chữ viết trong chữ nòng nọc vòng tròn-que, thứ chữ cũng thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Trống thờ kultrun của các machi dùng làm phương tiện đi lại ba cõi Tam Thế  liên lạc với thần linh và có thể cả với quỉ thần, diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh hiển nhiên là trống biểu của Vũ Trụ giáo. Và chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy có mặt trống kultrun diễn tả hình mặt trời giống hệt như hình mặt trời có tia sáng thái dương nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (cũng là trống biểu của Vũ Trụ giáo).

kultrun
Trống thờ thiêng liêng kultrun có hình mặt trời-không gian, vũ trụ. (Hình trích trong The Mapuches of Neuquén, Art and Culture in the Argentine patagonia).

Trên trống Kultrun ở hình này, mặt trời thái dương có tia sáng nọc mũi tên cũng có vòng tròn bao quanh đầu tia sáng diễn tả mặt trời-không gian, vũ trụ giống hệt như trên mặt trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trống này là trống mặt trời-không gian, vũ trụ, nòng nọc, âm dương  trống biểu của Vũ Trụ giáo in hệt như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Trống tế kultrun là hình bóng nguyên sơ của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Ý nghĩa và Chức Vụ của kultrun tổng quát tương đồng như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

.Lịch Mapuche

Vũ Trụ Tạo Sinh thấy rõ hơn nữa qua thiên văn, qua lịch của người Mapuche.

lich
Lịch Mapuche (lấy tại đây)

Lịch Mapuche theo âm lịch giống như ở Á châu.

Ta thấy người Mapuche có trống kultrun là trống biểu của Vũ Trụ giáo và có lịch tương tự như mặt trống thì Việt cổ Đông Sơn có trống đồng thì cũng có thể có một thứ lịch Đông Sơn. Lịch này liên hệ với lịch rùa Việt Thường cũng có chữ viết nòng nọc, diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh (“mở ra trời đất).

.Lễ Lạc Chính Của Người Mapuche

Những lễ hội chính của người Mapuche là lễ Cầu An và Tạ Ơn nguillatun, lễ chữa trị machitun, lễ tết năm mới  wentripantu vào lúc đông phân ( winter solstice); tang lễ và  lễ thành nhân (dậy thì)…

NGUILLATUN là lễ chính của người Mapuche. Hàng năm người Mapuche mở lễ hội này để tạ ơn và cầu xin thần linh, tổ tiên cho được an bình. Lễ tổ chức vào mùa gặt hái, vào lúc trăng rằm. Lễ kéo dài bốn ngày. Khoảng không gian tế lễ hình chữ U, phần mở chữ U qua về hướng Tây tức phía tròn đỉnh chữ U hình đỉnh núi quay về hướng Đông. Bàn thờ hay Rewe làm bằng cây cũng hướng về hướng Đông. Lễ do machi điều khiển. Trong lúc tế lễ có những lễ tục như cầu nguyện, hát tế, nhẩy múa và dâng cúng lễ vật. Đặc biệt là có hiến tế thú vật. Máu thú vật hiến tế đem rắc tứ phương và rồi phần còn lại đem chia cho các chức sắc tham dự. Con thú sau đó được nướng trên lửa hồng để tất cả cùng chia xẻ. Họ cũng rắc các mudai (các hạt lên men như cơm rượu, rượu nếp) hay chicha, trà mate, thuốc lá trước khi chia nhau cùng thưởng thức. Dĩ nhiên tiếng trống kultrun và kèn pifika giữ một vai trò trọng yếu trong lễ hội này.

Ta thấy lễ tế cũng tương tự như người Việt cổ.

Người Mapuche cũng thờ phượng tổ tiên, anh hùng nằm trong Vũ Trụ giáo như Đại Tộc Việt.

. Ngôn Ngữ học

Ngôn ngữ người Mapuche có hai nhánh hiện còn nói là Huillice và Mapudungun. Nhánh chính Mapudungun được các nhà ngôn ngữ học xếp loại là liên hệ với ngôn ngữ Penutian, Bắc Mỹ. Nhóm khác lại cho rằng nó nằm trong nhóm ngôn ngữ Andes (Greenberg 1987, Key 1978), một nhóm nữa lại cho rằng có sự liên hệ giữa ngôn ngữ Araucanian (tên người Tây Ban Nha gọi người Mapuche) và Maya (Stark 1970, Hamp 1971).  Croese (1989, 1991) đưa ra giả thuyết là nó liên hệ với ngôn ngữ Arawak. Khảo cứu DNA gần đây cho thấy loài gà Mapuche thời tiền-Columbus đến từ Đa Đảo, dẫn tới sự suy diễn cho rằng có sự tiếp xúc giữa người Mapuche và Đa Đảo (dẫn).

Trong Tiếng Việt Huyền Diệu tôi đã gợi ý là có sự liên hệ giữa tiếng Thổ Dân Bắc Mỹ châu và Việt ngữ vì thế nếu ngôn ngữ Mapudungun liên hệ với Penutian thì cũng có thể dính dáng tới Việt ngữ (điều này cũng dễ hiểu vì họ có gốc từ Đông Nam Á). Còn cho rằng Mapudungun liên hệ với Maya ngữ và Đa Đảo ngữ thì dù không do tiếp xúc thì do ruột thịt cũng có thể xẩy ra vì cả hai nhánh đều phát xuất từ Đông Nam Á. Mapudungun liên hệ với Maya và Đa Đảo thì hiển nhiên liên hệ với Việt ngữ (xem Đức Chúa Jesus Nói Tiếng Việt).

.Mapuche, Một Tộc Kiêu Hùng

Một điểm cũng cần nói tới là người Mapuche là một dân tộc mang một dòng máu kiêu hùng, thiện chiến. Mapuche là tộc Thổ Dân Mỹ châu duy nhất không bị người Tây Ban Nha thống trị. Trong suốt ba trăm năm ròng rã, người Mapuche dũng mãnh chiến đấu chống lại người Tây Ban Nha . Họ cũng đã đánh bại đế quốc Inca toan tính xâm lăng lãnh thổ họ. Những dũng sĩ nhất là những lãnh tụ «cầm rìu» Việt  là những anh hùng, họ chiến đấu cho tới khi gục ngã trên chiến trường không bao giờ rút lui (xem dưới).

Mapuche kiên cường, oai hùng như tộc Việt Nam là tộc duy nhất trong Bách Việt cho tới ngày nay chưa bị người Trung Hoa đồng hóa.

Ta đã thấy rõ có sự tương đồng giữa cốt lõi văn hóa Vũ Trụ Tạo Sinh của người Mapuche và cổ Việt. Đặc biệt nhất là sự tương đồng giữa trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn và trống tế kultrun của người Mapuche. Trống tế là dạng nguyên sơ của trống đồng nòng nọc, âm dương diễn đạt Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo giống như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Người Mapuche chưa hề bị thống trị bởi một tộc nào, văn hóa của họ còn giữ được những nét chính thống của văn hóa cổ Đông Nam Á. Điểm này cho thấy rõ văn hóa của đại tộc Đông Sơn qua trống đồng nòng nọc, âm dương là văn hóa bản địa ở Đông Nam Á không phải của Trung Hoa.

Văn hóa người Mapuche thuộc tộc lên núi, con của Nữ Thần Đất Sinh Tạo Mắn Sinh Tren Tren ứng với khuôn mặt của Mẹ Tổ Âu Cơ…

Bây giờ chúng ta hãy nói tới một chứng sử  qua khảo cổ học rất quan trọng là chiếc rìu Việt có mặt trong văn hóa của người Mapuche.

Trước hết xin hãy tìm hiểu chiếc rìu Việt như thế nào.

RÌU VIỆT

Qua bài viết Việt là Gì? Ta đã biết Việt có một nghĩa chính là một vật nhọn, sắc, một thứ Rìu. Việt biến âm với vọt (roi), vớt (con dao lớn cán dài dùng làm vũ khí).

Rìu Việt phải hiểu theo một nghĩa biểu tượng là một tộc biểu, vương biểu, khí biểu. Chúng ta thuộc họ Việt Mặt trời rạng ngời, Mặt trời thái dương dòng thần mặt trời Viêm Đế ngành nọc (vật nhọn, mặt trời) nên các vị vua cổ của chúng ta đều là những Lang (chàng, đục, đực, con trai, dương, mặt trời), đều có những vật, thú biểu  có ý nghĩa biểu tượng cho Vật Nhọn, Nọc, Đực, Hùng, Dương, Mặt trời thái dương. Trong đó rìu Việt  là vật biểu thiêng liêng của Đại Tộc Việt Mặt trời thái dương. Ta thấy rõ rìu có một khuôn mặt là Việt biểu qua câu chế diễu người Việt ở vùng quê hãy còn mang hình bóng thuần cổ Việt là “bọn răng đen mã tấu”. Mã tấu (một loại dao, khí giới, một vật sắc nhọn) họ hàng với cây vớt và răng đen (là nét đặc thù của tộc Việt ngành âm nước Lạc Việt, mầu đen là mầu nước thái âm) là hai nét đặc thù của của  người Việt cổ.

Như thế từ Việt bắt buộc phải hiểu, phải lấy theo nghĩa gốc là vật nhọn (dao Vớt, Rìu).  Điểm chính yếu là ta phải hiểu Việt, Vớt, Rìu là vật biểu, tế biểu của Đại Tộc Việt và phải hiểu theo nghĩa biểu tượng của vật nhọn. Vật nhọn biểu tượng cho đực, nọc, dương, mặt trời. Tên của một dân tộc, một nước bắt buộc phải chọn nghĩa biểu tượng thích hợp nhất là mặt trời. Việt phải hiểu theo ý nghĩa biểu tượng chính yếu và đúng nhất là mặt trời thái dương.

Việt là một loại rìu thờ thiêng liêng rất đặc biệt có hình dáng đặc thù và mang tính cách biểu tượng cho một đại tộc. Đại Tộc Việt được gọi tên theo khí biểu (khí giới biểu tượng) chiếc rìu thờ Việt này.

Rìu Việt như thế nào?

.Rìu Việt Ở Phần Đất Trung Hoa Ngày Nay

Dấu tích lâu đời nhất của rìu Việt gọi là yue theo một tài liệu Trung Hoa là chiếc rìu yue Việt làm bằng ngọc thạch với mục đích trang trí tìm thấy ở Liangzhu cổ khoảng 5.000 năm (vào thời Tân Thạch). Theo khảo cứu thì rìu yue Việt biểu tượng cho vinh quang (glory). (dẫn)

Hình ảnh đặc biệt của rìu yue Việt còn thấy trong chữ Hán cổ thường gọi là chữ khoa đẩu có hình con lăng quăng (là di duệ của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que của tôi). Chữ này còn ghi khắc trên mai rùa, trên xương gọi là giáp cốt văn. Rìu Yue được diễn tả bằng một chiếc rìu có lưỡi hình vòng tròn có cán dài.

yue-4
Chữ yuè khắc trên giáp cốt và kim văn có hình rìu lưỡi tròn cong (Wang Hongyuan).

Chữ này thấy vào thời nhà Thương (Shang 1523-1028 BC), cổ hơn ba ngàn năm.

Theo các tài liệu của Hán thư cổ thì rìu Việt Yuè là thứ rìu thờ mang tính biểu tượng. Trong Sử Kí (Shih Ji) của Tư Mã Thiên (Sihma Cian) thì vua Đường (Tang) của nhà Thương cầm rìu Việt và tuyên bố khởi binh đi đánh vua Jie nhà Hạ (Sia). Vua Wu nhà Châu (Jhou) cũng cầm yuè, khi triệu tập các chư hầu ở Muye khởi chiến với vua Châu (Jhou) của Triều Đại nhà Thương. Khi Vương Mãng (Wang Mang) thoán quyền nhà Hán, những lực lượng chống đối nổi lên khắp nơi trong nước. Vương Mãng sai tướng Wang Syun đem quân trấn giữ Lạc Dương. Syun đánh mất chiếc rìu yue. Một nhà tiên tri cảnh báo cho Syun biết đây là điềm không tốt phải đề phòng cẩn thận. Ngay sau đó Syun bị giết. Những điều này cho thấy nguyên thủy rìu Việt mang tính chất biểu tượng.

Về sau rìu Việt mới dùng làm khí giới. Điểm này cho thấy Đại Tộc Việt dùng chiếc rìu Việt này làm tên gọi cho tộc, cho quốc gia mình là điều dễ hiểu. Thứ rìu dùng làm tên Việt này là rìu mang nghĩa biểu tượng chính.

Từ dạng hình tròn cong nguyên sơ mang tính cách biểu tượng thuần tùy thấy trên giáp cốt văn này về sau khi dùng thêm công dụng của một rìu chiến thì hình dáng của lưỡi rìu Việt có biến đổi đi thành hình lưỡi bán nguyệt hay tròn cong có móc như chiếc câu liêm (liềm), hình sừng hay hình con dao rựa cong có móc (ngày nay con dao rựa này còn thấy ở miền Trung  và ở các tộc Tây Nguyên).

.Rìu Việt Trên Đất Việt

Rìu Việt là tế vật, vật thờ, vật thiêng liêng của Đại Tộc Việt vì thế khảo cổ học đào thấy rất nhiều rìu thờ trên đất Việt. Chứng tích thờ rìu còn thấy qua những chiếc rìu thờ bằng đá hay bằng đồng Đông Sơn.

Theo Bình Nguyên Lộc các dân tộc người Thượng Việt Nam và Mường ngày nay vẫn còn gọi rìu là cây việt. Tác giả so sánh chữ Việt nguyên thủy đời nhà Thương có hình bán nguyệt với chiếc rìu đào được ở Quốc Oai đã tái tạo lại cái cán bằng cành cây của viện Viễn Đông Bác Cổ. Cả hai có hình giống hệt nhau (Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam tr.156).

nha-thuong

Nhưng chứng tích cụ thể và vững chãi nhất là hình ảnh rìu Việt thấy trong các loại rìu Đông Sơn.

ds

Các loại rìu thờ Đông Sơn (ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử Hà Nội).

Ví dụ đặc biệt nhất là chiếc rìu đồng Đông Sơn đã thấy hình ở phần đầu bài mà tôi gọi là rìu Hồng Bàng thế gian. Chiếc rìu khắc hình giao long, hươu sủa gạc hai mấu và sói lang. Nếu nhìn chung, đây là Rìu Tam Thế (Cõi Trên-Gió-Lang Trời, Cõi Giữa- Đất-Hươu Cọc và Cõi Dưới-Nước-Giao Long), nếu nhìn dưới diện họ Mặt Trời thái dương thì đây là Rìu Hồng Bàng thế gian: Kì Dương Vương-Hươu Cọc, Lạc Long Quân-Giao Long và Hùng Vương thế gian-Lang Trời (xem thêm Hình Tiêu Biểu Tháng 3, 2010).

Trong các loại rìu Việt thấy khắp nơi, thì rìu Việt Đông Sơn là loại còn ghi khắc lại nhiều biểu tượng của Đại Tộc Việt nhất.

Về sử liệu thì tên Việt vương Câu Tiễn thời Xuân Thu cũng có thể liên hệ với rìu Việt. Các nhà sử học dựa vào “chữ”, “chữ thánh hiền” có thể giải thích tên Câu Tiễn theo một nghĩa bác học đầy ý nghĩa bóng bẩy nào đó nhưng vì vua Câu Tiễn là người Việt, nếu giải thích theo nghĩa ngang của người Việt thì Câu là cái móc cong như lưỡi câu, cái liềm (câu liêm), Tiễn là Cắt như tiễn mía, là Tiện (cắt) như thợ tiện. Tiễn là vật nhọn như mũi tên như hỏa tiễn (tên lửa). Câu Tiễn là vật sắt bén để cắt chặt hình móc câu. Câu Tiễn có nghĩa ngang là Rìu Việt cong như chiếc Câu Liêm, vị vua này lấy biểu tượng Rìu Việt Câu Tiễn làm bản mệnh.

Ta cũng thấy rõ tại sao “Việt cùng họ với Sở”. Sở biến âm với Sỏ (sọ) với Sừng (sừng sỏ). Sừng là vật cong, cứng, nhọn, một nghĩa của Việt. Có loại sừng cong nhọn giống câu liêm.

.Rìu Việt Trên Đất Bách Việt Cũ

Dĩ nhiên dấu tích rìu Việt cũng phải còn tìm thấy trong địa bàn của Đại Tộc Việt cũ, nhiều nhất phải còn thấy ở vùng Bách Việt. Thật vậy trong các khảo vật đào tìm thấy ở Nam Trung Hoa có mặt rất nhiều những chiếc rìu Việt Yue. Những rìu yue này hiện đang được trưng bầy ở Viện Bảo Tàng Thành Phố Côn Minh.

yue-ax-warr

yue-battle-ax-wh-2
Rìu Việt dùng như rìu chiến ở Nam Trung Hoa hiện trưng bầy tại Viện Bảo Tàng Thành Phố Côn Minh (Gary Todd’s galery)

Lưu ý hình hai con chim nông hay chim cốc trên hai chiếc rìu ở dưới cho thấy rìu Việt này là rìu biểu tượng. Chim nông, chim cốc thuộc loài chi nước, là chim biểu của ngành nòng, nước của Đại Tộc Việt sống ở vùng sông nước, không phải là chim biểu của văn hóa du mục Trung Hoa. Điều này cho thấy rìu Việt thuộc văn hóa Bách Việt sông biển, lúa nước  (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Tóm lại rìu Việt có những đặc tình như sau:

-nguyên thủy lưỡi có hình chiếc quạt mo hay con nòng nọc mang ý nghĩa thuần túy biểu tượng liên hệ với nòng nọc, âm dương, Vũ Trụ Tạo Sinh, vũ trụ quan của Việt cổ, là vật biểu của một tộc, một quốc gia thuộc Đại Tộc Việt, của Tổ Hùng.

-theo duy dương biểu tượng cho Việt mặt trời thái dương Hùng Vương ngành thần mặt trời Viêm Đế.

-về sau có thêm công dụng làm khí giới, dùng như một khí biểu cho dũng cảm, chiến thằng, vinh quang cho một  người cầm binh, tướng lãnh. Lúc này hình dạng lưỡi có thể biến đổi cho thích hợp với khí giới, lưỡi vòng tròn mở ra thành hình nửa vòng tròn, bán nguyệt, câu liêm, hình sừng, con dao rựa… nhưng vẫn giữ hình cong mang âm tính để rìu vẫn mang biểu tượng cho nòng nọc, âm dương, vũ trụ, càn khôn.

-Rìu Việt là tộc biểu của Đại Tộc Việt, của Tổ Hùng mặt trời-không gian, vũ trụ, tạo hóa, là quốc biểu của Văn Lang, là vương biểu của Hùng Vương.

Rìu Thờ Toki Của Người Mapuche

Qua nguồn gốc từ Đông Nam Á, qua sự tương đồng văn hóa giữa người Mapuche và Việt cổ ta thấy chiếc rìu Việt có mặt ở Nam Mỹ Châu dĩ nhiên là chuyện hợp lý.

Những người Tây Ban Nha đầu tiên khi tiếp xúc với người Mapuche nhận thấy các tù trường cầm một chiếc rìu đá tròn, cong (clava de piedra) như một thứ khí biểu thiêng liêng (sacred ceremonial weapon) tương đương với quyền trượng (scepters), biểu tượng cho oai quyền, quyền lực, sức mạnh, lãnh đạo.

Người Mapuche gọi rìu là toki. Các thủ lãnh chiến đấu (tương đương với tướng lãnh) người Mapuche cũng được gọi là toki có nghĩa là “người cầm rìu” và biểu tượng của cấp bậc của giới chiến sĩ là một sợi dây đeo cổ bằng đá hình cái rìu gọi là tokikura. Vào thời người Tây Ban Nha tiến chiếm lãnh thổ của Mapuche, tất cả các tộc Mapuche thống nhất lại để đương đầu với người Tây Ban Nha và  bầu ra một vị tổng tư lệnh cầm rìu (cầm trịch), vị này cũng được gọi là Toki. Về sau các tộc trưởng, tù trưởng cũng được gọi là toki.

Ở đây ta thấy rất rõ  là những lãnh tụ chiến đấu, những anh hùng được gọi là Rìu Toki thì một tộc thiện chiến, anh hùng, dũng mãnh như chúng ta được gọi là Rìu là Việt là chuyện đương nhiên. Rìu Việt là biểu tượng tuyệt hảo của Đại Tộc Việt.

Người Đa Đảo cũng gọi rìu là toki (xem dưới). Từ toki liên hệ với ngôn ngữ Đa Đảo dĩ nhiên ruột thịt với Việt ngữ. Chúng ta có con chim có mỏ rất lớn trông như chiếc rìu nên dân dã gọi là con chim rìu tức con chim cắt, Anh ngữ gọi chim này là hornbill, tên khoa học là Rhinoplax vigil, (Forst., Bucerotidae). Người Kelantan, Mã Lai gọi  chim cắt là chim torok. Chim Torok, là chim Rìu, chim Đục và  cái mỏ rìu của loài chim này được giải thích qua câu chuyện cổ tích «torok, burong tebang rumah bapok mentua (Torok, con chim bổ sập nhà bố vợ) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Từ torok có tok = tọc=  thọc = thục = đọc = đục. Chim rìu là chim đục (vật nhọn). Theo đ=n, đọc = nọc, vật nhọn (như đọc ong = nọc ong). Lộc Tục = Lộc Đục (nói tục là nói chuyện đục) = Hươu Đực, Hươu Nọc. Hiển nhiên Việt ngữ tục, đục ruột thịt với Kelantan ngữ tok, torok, Mapuche ngữ tori. Con chim rìu, chim đục là con chim torok, là con chim (có) tori. Chim cắt là chim rìu, chim nọc, chim tori là chim Việt, chim biểu của họ Nọc Việt Mặt trời thái dương Viêm Đế.

Như đã thấy ở trên, ngay cả tên Mapuchi có thể chuyển qua Việt ngữ có nghĩa là Người của Đất (Núi) thì tori của người Mapuche và Đa Đảo biến âm với Việt ngữ tục, tọc, thục, thọc, đọc, đục (chàng) là chuyện hữu lý. Ngoài ra  các nhà ngôn ngữ học còn thấy rất nhiều từ Mapuche liên hệ với Đa Đảo (xem dưới).

Như thế qua ngôn ngữ ta thấy ngôn ngữ Mapuche có liên hệ với Đa Đảo, Việt ngữ thì chiếc rìu thờ  thiêng liêng toki hình cong có thể liên hệ với rìu Việt cổ yue là chuyện hữu lý.

Rìu Mapuche có hình dáng giống rìu Việt

-Lưỡi hình tròn mang ý nghĩa biểu tượng vũ trụ quan nguyên thủy của rìu Việt .

Người Mapuche có chiếc rìu thờ thiêng liêng tiêu biểu nhất là chiếc rìu toki có lưỡi hình vòng tròn, hình cái quạt mo tròn giống như chiếc vợt đánh bóng bàn. Đến Chile, du khách thấy hình bóng chiếc rìu hình quạt mo này khắp nơi trong các biểu tượng văn hóa  Mapuche, kỷ vật, đồ trang sức… Tác giả đã đến Bảo Tàng Viện Museo Chileno de Arte Pre-Colombo, ở Santiago, thủ đô Chile để chiêm ngưỡng và chụp hình chiếc rìu này.

riu-tho-ma-puche-chile-museo-de-arte-precolombo1
Chiếc toki  Clava de Piedra (văn hóa tiền-Colombus, 1300-1500 DC) (Hình của tác giả chụp tại Museo Chileno de Arte Pre-Colombo, Santiago, Chile).

Lưu ý đây là chiếc rìu tiêu biểu nhất của người Mapuche và có hình chiếc quạt mo giống hệt như chiếc rìu Việt Yuè khắc trên giáp cốt. Đây là dạng nguyên thủy của rìu Việt mang ý nghĩa thuần túy biểu tượng. Vì thế chiếc rìu này có trang trí hình mặt trời, hiển nhiên không phải chỉ có mục đích dùng làm vũ khí.

Lưỡi rìu nhìn dưới diện chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thì lưỡi rìu có hình vòng tròn nòng O và con mắt chim là chấm nọc (.) nghĩa là chữ vòng tròn có chấm (chấm vòng tròn mang tính sinh tạo, tạo hóa, mặt trời – không gian, vũ trụ) biểu tượng cho tổ Hùng sinh ra từ cái bọc trứng vòng tròn nòng O và toàn con trai nọc, đực là chấm nọc (.) dưới dạng sinh tạo nguyên khởi.

Ta cũng thấy rìu có hình đầu chim há mỏ, có con mắt là đĩa tròn nhỏ ở tâm. Đây là Rìu con chim mặt trời tức chim biểu tượng cho mặt trời. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là con chim Việt mặt trời thái dương tương đương với chim rìu, chim cắt tức chim Việt, là chim biểu tượng cho của Đại Tộc Việt mặt trời thái dương có các vua Hùng, con cháu thần mặt trời Viêm Đế có họ Khương, sừng (vật nhọn cong như rìu Việt).

Rìu Việt này trông giống hình chiếc quạt mo biểu tượng cho sinh tạo, bầu vũ trụ, bầu trời, khí, gió. Theo biến âm qu = v (quấn = vấn), ta có Việt ngữ quạt = Phạn ngữ vát, quạt (động tứ), với vâta, gió. Theo v=m, Phạn ngữ vát (quạt) = vâta (gió) = Việt ngữ mát. Quạt thì mát, có gió thì mát. Như thế quạt có một khuôn mặt biểu tượng cho Hùng Vương. Xin nhắc lại Hùng Vương phải được hiểu và nhìn dưới mọi góc cạnh của lăng kính Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Nếu nhìn dưới dạng nhất thể, thái cực, sinh tạo, tạo hóa, lúc này nọc còn dưới dạng sinh tạo là chấm nọc (.)  thì rìu Việt quạt mo nòng nọc, âm dương, dưới dạng nhất thể biểu tượng cho Tổ Hùng với khuôn mặt Sinh Tạo, Tạo Hóa ứng với Thái Cực, Trứng Vũ Trụ (có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là vòng tròn có chấm). Ở tầng lưỡng nghi, nọc ở dạng trưởng thành hình que (I), nhìn theo diện thiếu âm (IO) nguyên thể của gió ứng với khuôn mặt bầu trời thế gian thì quạt mo đọc theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, đọc từ dưới lên, ta có cán là nọc (I), mặt quạt tròn nòng (O), ta có IO, thiếu âm, lúc này quạt mo biểu tượng cho khuôn mặt thế gian của Hùng Vương là bầu trời, khí gió. Nếu nhìn theo diện duy dương của dòng nọc thần mặt trời Viêm Đế của các Lang Hùng thì lúc này quạt là quạt giấy có 18 chiếc nan hình rẽ quạt biểu tượng cho Hùng Vương với khuôn mặt mặt trời mọc, mới sinh ra từ bọc Trứng Vũ Trụ.

.Lưỡi hình bán nguyệt hay hình câu liêm giống rìu Việt.

Khi dùng thêm làm khí giới chiếc rìu thiêng thuần túy biểu tượng này của người Mapuche cũng có những biến dạng trông như cái liềm, chiếc sừng hay con dao rựa có mũi cong hình móc như rìu Việt.

img_8459
Rìu thờ cong hình câu liêm, hình sừng hay con dao rựa đầu có móc cong (ảnh của tác giả chụp tại Museo Chileno de Arte Pre-Colombo, Santiago, Chile).

Rìu toki biểu tượng cho mặt trời giống Rìu Việt

Như đã biết Rìu Việt phải hiểu theo nghĩa biểu tượng linh thiêng của một đại tộc nghĩa là rìu, một vật nhọn có một khuôn mặt biểu tượng mặt trời. Điểm này ta cũng thấy rất rõ rìu thờ Mapuche cũng có một khuôn mắt biểu tượng cho mặt trời như thấy rõ hình mặt trời còn ghi khắc lại trên rìu toki của người Mapuche.

1. Ở hình rìu đá toki Clava de Piedra hình quạt mo ở trên ta thấy rõ rìu có hình đĩa tròn mặt trời trong có hình mặt trời có tia sáng thái dương hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) giống như hình mặt trời thái dương trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

2. Ngoài ra cũng thấy một chiếc rìu có hình như móc câu, câu liêm, hình sừng hay như con dao rựa (dao đực) trên có chạm hình con mắt.

img_8826
Rìu toki người Mapuche hình câu liêm, hình sừng hay con dao rựa của miền Trung hay Tây Nguyên Việt Nam. (Hình trích trong The Mapuches of Neuquén, Art and Culture in the Argentine Patagonia, vì quá vội tôi quên lấy tên tác giả).

Như đã biết con mắt biểu tượng cho mặt trời như thấy trong Ai Cập cổ.

3. Rìu hình chim “Rìu”

Như đã thấy chiếc rìu hình quạt mo ở trên diễn tả hình đầu chim mặt trời. Hiện thực hơn là chiếc rìu toki tìm thấy ở Laguna Purailla làm bằng đá andesite đen chà bóng có hình đầu chim. Chiếc rìu này đã bị ăn cắp vào năm 1990. May mắn còn lại hình phác họa đăng trong Archaeological Journal of La Serena.

imtoki_180
Rìu toki có hình đầu chim tìm thấy ở Laguna Purailla.

Mỏ chim rất lớn, rất vững và có “phụ đề” các răng như răng của hai gọng kìm mang đầy dương tính cho thấy đây là giống chim biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời. Với mỏ cứng nhọn, sắc như chiếc kìm, con chim này mang hình bóng của chim rìu, chim Việt, chim cắt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế.

Như vậy ta thấy rõ như dưới ánh sáng mặt trời là rìu toki của người Mapuche có một khuôn mặt là rìu biểu của mặt trời, của tộc mặt trời. Điểm này hỗ trợ, kiểm chứng lại cho thấy Rìu Việt có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời, là rìu biểu của Đại Tộc Việt mặt trời thái dương con cháu thần mặt trời Viêm Đế đúng như đinh đóng cột. Việt là mặt trời thái dương đúng trăm phần trăm.

Qua sự kiện rìu thờ toki Mapuche liên hệ với mặt trời, sự thờ phượng mặt trời thì Mapuche liên hệ với tộc Đại Tộc Việt Mặt Trời thái dương, trong đó có người Đông Sơn. Người của đại tộc Đông Sơn thuộc Đại Tộc Việt Mặt Trời thái dương thấy rõ qua sự hiện diện của  mặt trời ở trên mặt  bất cứ một trống đồng nào.

Tóm lại rìu thờ toki của người Mapuche có những đặc tính của rìu Việt:

-theo nghĩa thuần túy biểu tượng, rìu Việt biểu tượng cho sinh tạo, tạo hóa  theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp, rìu có hình con nòng nọc hay quạt mo.

-theo nghĩa biểu tượng cho mặt trời giáo, thì rìu có trang trí những biểu tượng cho mặt trời, rìu Việt là rìu biểu của tộc mặt trời thái dương.

-nếu dùng như rìu chiến, thì rìu Việt có thêm ý nghĩa biểu tượng cho dũng khí, anh hùng, chiến thắng, vinh quang…

Rìu toki người Mapuche mang hình dáng và ý nghĩa giống hệt như  rìu Việt của Đại Tộc Việt.

Kết Luận

Sự hiện diện của rìu Việt ở Nam Mỹ châu nói lên những điểm thiết yếu sau đây:

-người Mapuche từ Đông Nam Á, địa bàn của Đại Tộc Việt, đi qua Mỹ châu đúng như khảo cứu DNA đã cho biết.

-văn hóa người Mapuche tương đồng với văn hóa cổ Việt.

– rìu toki của người Mapuche còn ghi khắc lại rành rành cho thấy có một khuôn mặt liên hệ với sự thờ phượng mặt trời, là rìu biểu của mặt trời. Điểm này hỗ trợ, xác thực cho những điều tôi đã viết là Việt có gốc nghĩa là rìu thì phải hiểu Việt theo nghĩa biểu tượng là Việt mặt trời thái dương, dòng thần mặt trời Viêm Đế, còn hiểu nghĩa Việt theo các nghĩa khác của chữ Hán chỉ là những nghĩa phụ đã muộn hay theo suy diễn. Với bằng chứng cụ thể qua rìu Việt mặt trời, thờ phượng mặt trời của người Mapuche này mà các nhà làm văn hóa Việt chưa tin những điều tôi viết về tên Việt của Đại Tộc Việt, của Việt Nam thì tôi xin… chào thua.

Tuy nhiên còn một hai câu hỏi cần phải trả lời là: rìu Việt Yue có mặt trong văn hóa cổ Trung Hoa như thế người Trung Hoa và các tác giả tôn thờ văn hóa Trung Hoa có thể đòi quyền sở hữu chủ cho rằng rìu yue là của Trung Hoa được không? Rìu Việt toki của người Mapuche có cùng tên gọi toki với rìu lưỡi cong Việt thấy ở Đa Đảo, như thế rìu toki của người Mapuche có phải đến từ Đa Đảo hay không? Người Mapuche đến Nam Mỹ châu qua ngả đường từ Đông Nam Á đi xuống Nam Hải rồi tới Chile? Để trả lời, ta hãy tìm hiểu về rìu toki của Đa Đảo.

Rìu Toki Đa Đảo

Như đã biết người Mapuche giống như người Đa Đảo (Polynesia) gọi rìu thờ giống rìu Việt là toki. Như thế rìu toki của Đa Đảo phải giống như rìu toki của người Mapuche. Thật vậy, rìu toki Đa Đảo cũng có những loại giống hệt rìu toki của người Mapuche và dĩ nhiên giống luôn cả với rìu Việt. Loại rìu toki này của Maori gọi là wahaika, có nghĩa là miệng cá.

toki
Các lọai rìu toki wahaika của Maori, New Zealand. (Nguồn 1, 2, 3; 4: Hình tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Fonck, Valporaiso, Chile.)

Trở lại câu hỏi Rìu Việt toki của người Mapuche cùng tên gọi toki với rìu lưỡi cong Việt thấy ở Đa Đảo, như thế rìu toki của người Mapuche có phải đến từ Đa Đảo hay không? Người Mapuche đến Nam Mỹ châu qua ngả đường từ Đông Nam Á đi xuống Nam Hải rồi tới Chile?

Có nhiều dữ kiện cho thấy có những tương đồng giữa người Mapuche và Đa Đảo.

.Qua khảo cổ vật

Năm 1910 hai mũi mác obsidian của người Rapanui, tìm thấy trong đống mùn vỏ sò hến ở phía Nam  Valparaíso. Rapanui là tộc sống ở đảo Phục Sinh Easter ở ngoài khơi Thái Bình Dương trực diện với Valparaiso. Đảo Easter thuộc Chile nơi có những tượng hình người đặc biệt gọi là Moai. Ngày nay đã có những bằng cứ chứng minh là người Rapanui có gốc từ Đa Đảo đến đảo Easter.

moai

Tác giả đứng trước tượng đá Moai ở Đảo Easter mang về đặt ở trước Viện Bảo Tàng Fonck, tại Laparaiso, Chile.

Gần đây ba tượng bán thân nhỏ giống Moai Rapanui tìm thấy ở đảo Chiloé, đảo Mocha và đảo San José de la Mariquina.

.Ngôn ngữ học

Như đã biết người Mapuche gọi rìu là toki. Các nhà ngôn ngữ học nhận thấy rằng từ toki, họ hàng với ngôn ngữ dùng ở Đa Đảo và Đông Nam Á (indeed the word for these axes, toki-, is cognate with Polynesian and South East Asian usage). Maori ngữ toki là rìu.

Cũng được nghe kể rằng một điệu hò đốn chặt cây của người Maori cũng thấy trong truyện kể của người Mapuche.  Sau đây là một vài từ tương đồng khác giữa người Mapuche và Đa Đảo

.Mapuche piti and Rapanui iti (little). Ta thấy piti biến âm với Việt ngữ bé ti, và –ti với Việt ngữ tí ti.

.Mapuche kuri and Rapanui uri (black).

. Mapuche ngữ minga gần gũi với Rapanui umanga và Quechua.

.Ở đảo Chiloé có một loại khoai gọi là kumaka được nghĩ là từ vay mượn từ ngôn ngữ Quechua.

.Cách đánh cá và thuyền bè

Có những tương đồng về cách đánh cá. Thuyền Chiloe’ (Chile) làm bằng ba tấm ván khâu lại bằng da thú (một thứ “tam bản”) gọi là  “dalcas” giống các tộc đa đảo, khác với phần lớn các tộc Thổ Dân Mỹ châu khác dùng canoe hay thuyền độc mộc.

Từ dalca biến âm với Việt ngữ đánh cá, với Phạn ngữ dâca, người đánh cá, thuyền chài.

.Nướng thịt

Người Mapuche có cách nướng thịt trong lò đất gọi là curanto giống như cách nướng thịt umu ở Polynesia.

.Gà Mapuche

Trong cuộc khai quật tại El Arenal ở bờ biển đảo Mocha của Chile, các xương gà được tìm thấy cùng với xương người. Trước đó loài gà Araucana rất đẹp mã được cho là do người Tây Ban Nha đem tới châu Mỹ vào khoảng năm 1500. Tuy nhiên khảo cứu DNA xương gà El Arenal này cho thấy chúng liên hệ với với gà ở Đa Đảo và xương gà có tuổi hàng thế kỷ trước khi Columbus tới Mỹ châu. DNA cho thấy gà mang một đột biến rất hiếm chỉ thấy ở loài gà ở Mele Havea đảo Tonga và atu-ma-Futi ở Samoa thuộc Mỹ. Chúng cũng gần tương hợp (match) giống với DNA của gà Rapanui. Gà không phải là loài có bản quán tại châu Mỹ mà nguồn gốc xa thẳm từ Đông Nam Á, tại đây chúng được thuần hóa thành gia cầm. Gà mái Mapuche đẻ trứng mầu xanh lam là loài gà tiền Tây Ban Nha họ hàng với gà ở vùng nhiệt đới châu Á (dẫn).

ga
Gà mái Mapuche đẻ trứng mầu xanh lam là loài gà tiền Tây Ban Nha họ hàng với gà ở vùng nhiệt đới châu Á. (dẫn)

Những tương đồng này đưa đến giả thuyết là có sự giao thương giữa người Mapuche và Đa Đảo: gà trao đổi với khoai lang kumara thấy ở Nam Mỹ và Đa Đảo (ở trên đã nói kumara là ngôn ngữ Quechua).

Giả thuyết có sự giao lưu này được chấp nhận hơn là nghi vấn nêu lên là có phải người Mapuche từ Đa Đảo tới Nam Mỹ châu hay không.  Muốn trả lời nghi vấn này ta cân phải chờ khảo cứu DNA.

Rìu Việt Của Người Mapuche và Đa Đảo Từ Đâu Tới?

Như thế điều biết chắc là có sự giao lưu giữa người Mapuche và người Đa Đảo. Còn người Mapuche không hẳn là gốc từ Đa Đảo tới Chile. Có nghĩa là người Mapuche từ Đông Nam Á thời tiền sử đi ngược lên phía bắc qua cầu đất Bering sang Bắc Mỹ rồi xuôi nam đến Chile. Họ mang theo với mình chiếc rìu Việt từ Đông Nam Á, không phải lấy từ chiếc rìu Việt toki của Đa Đảo.

Vậy mặc dầu cùng gọi rìu là toki nhưng rìu Việt toki của người Mapuche và của Đa Đảo có cùng gốc từ Đông Nam Á nhưng đã đi theo hai ngả đưởng: rìu Mapuche đi lên phía bắc qua cầu đất Bering xuống Nam Mỹ châu và rìu Đa Đảo xuống Nam Hải. Cả hai cùng gọi là rìu biểu tượng toki vì có cùng một gốc và như đã biết toki liên hệ với Việt ngữ đục (chàng, vật sắc).

Rìu Việt gốc của Trung Hoa?

Như đã thấy có sư hiện diện của rìu Việt trong văn hóa cổ sơ Trung Hoa. Như thế người Trung Hoa và các người tôn thờ văn hóa Trung Hoa có thể đòi quyền sở hữu chủ của rìu yue là của Trung Hoa không? Phải chăng người Mapuche lấy của Trung Hoa trên đường lên Bering? Câu trả lời là không. Có nhiều lý do cho thấy rìu yue Việt không phải có gốc từ Trung Hoa:

-Văn hóa người Mapuche không tương đồng với văn hóa Trung Hoa:  họ thuộc tộc ngành nòng, âm, nữ, có mẹ tổ là Thần Mẫu có một khuôn mặt rắn, văn hóa chủ yếu là Vũ Trụ Tạo Sinh ngành nữ qua hình ảnh chủ yếu là bà đồng,  hiến tế người, thờ mặt trời, có trống thờ kultun là dạng nguyên sơ của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, là trống biểu của Vũ Trụ giáo.

– Có nhiều chứng tích cho thấy văn hóa cổ đại của Trung Hoa liên hệ với văn hóa cổ đại của Đại Tộc Việt như các nhân vật truyền thuyết  Thần Nông Viêm Đế, Bàn Cổ, Nữ Oa là của Đại Tộc Việt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

-Còn rìu Việt của Đa Đảo chắc chắn không lấy của Trung Hoa. Rìu Đa Đa gốc từ Đông Nam Á  đi xuống Nam hải không qua phần đất Trung Hoa, trăm phần trăm không bị ảnh hưởng văn hóa  Trung Hoa mà ngược lại chúng xác thực, xác quyết là rìu Việt có gốc từ Đông Nam Á trăm phần trăm. Như thế  văn hóa rìu Việt của Trung Hoa chịu ảnh hưởng của văn hóa Đại Tộc Việt ở Đông Nam Á.

Những thắc mắc khác.

Cũng xin nói thêm còn một vài thắc mắc nữa. Thứ nhất nếu rìu Việt có mặt ở văn hóa của người Mapuche Nam Mỹ châu như thế trên con đường từ Đông Nam Á đi lên phía bắc qua cầu đất Bering xuống tới Nam Mỹ, ngoài Trung Hoa ra, cây rìu Việt phải còn để lại dấu vết ở Bắc Mỹ châu.

Tôi đã tìm thấy hình bóng rìu Việt qua chiếc rìu của tộc Sioux (hiện còn sống nhiều ở Dakotas, Montana, Minnesota, Nebraska, Manitoba và Nam  SaskatchewanCanada).

sioux
Kỷ vật rìu chiến hình rìu Việt câu liêm hay hình sừng của tộc Sioux làm bằng xương hàm trâu buffalo tác giả mua ở Minnesota, Hoa Kỳ.

Mặt khác, tương tự,  trên con đường đi xuống Nam Hải rìu Việt phải để lại hình bóng ở các đảo quốc khác ở Nam Hải. Tôi cũng đã tìm thấy hình bóng rìu Việt Đông Sơn ở Nam Dương.

ds (1)
Rìu Đông Sơn ở Nam Dương. (dẫn)

Như thế ta thấy rất rõ sự phân tán văn hóa Việt cổ qua chiếc rìu Việt đi khắp nơi, đi theo hai nhánh từ Đông Nam Á đúng theo dấu chân di cư của người tiền sử.

Chứng tích văn hóa rìu Việt  phân tán đi khắp nơi cũng ăn khớp với sự chứng minh của James Churchward vào thập niên 30 là có một lục địa tên là Đất Mẹ Mu đã mất “The Lost Continent of Mu” lúc đó còn dính liền với Đông Nam Á và gần đây là lục địa Sunda Land trong Địa Đàng Ở Phương Đông của Oppenheimer Stephen. Cả hai tác giả cho rằng lục địa này có một nền văn hóa huy hoàng và là cái nôi văn hóa của nhân loại.

Rõ như ban ngày rìu Việt yue mang tính biểu tượng. Nguyên thủy là rìu thờ thiêng liêng hình con nòng nọc thân vòng tròn O và đuôi nọc que I hay hình quạt mo tròn mang ý nghĩa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, không gian-mặt trời, vũ trụ… Về sau dùng làm khí biểu. Rìu Việt có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời, cho thờ phượng mặt trời là tộc biểu của Đại Tộc Việt mặt trời thái dương dòng dõi thần mặt trời Viêm Đế , là bang biểu, quốc biểu của liên bang Văn Lang, là vương biểu của Hùng Vương mặt trời thái dương. Người Việt là Người Mặt Trời Thái Dương gọi tên theo biểu tượng rìu thờ thiêng liêng, rìu Việt.

Nguyễn Xuân Quang
Original 1, 2, 3
Tiêu đề do lstv đặt.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.