043. 🌟 Gốm cổ ở Việt Nam và vai trò của nó trong Văn hóa tiền sử

Mặc dù hiện nay còn có sự tranh luận của các học giả trên thế giới về nguồn gốc con người giữa hai khuynh hướng : khuynh hướng một trung tâm, cho rằng con người Hiện Đại chỉ đã xuất hiện ở một nơi duy nhất là Đông Phi rồi từ đó lan tỏa ra khắp địa cầu; và khuynh hướng nhiều trung tâm chủ trương con người có thể đã xuất hiện ở nhiều nơi cùng một lúc; nhưng thuyết Một Trung Tâm xem chừng đã có ưu thế rõ rệt : Tại nhiều sách về lịch sử và nhân chủng mới xuất hiện trong những năm gần đây, mà tiêu biểu là quyển Bách Khoa Toàn Thư The Cambridge Encyclopedia of Human Revolution của Cambridge University Press, người ta đã thấy xuất hiện một bản đồ phác họa bước phát triển của nhân loại theo quan điểm mới đó (xin xem Tập san TƯ TƯỞNG số 10, tháng 10/2000, trang 6). Theo bản đồ này, con người Hiện Đại còn gọi là con người Cực Thông Minh (Homo Sapiens-Sapiens) xuất hiện ở Đông Phi Châu nhiều nhất là khoảng 150.000 năm trước đây. Từ Đông Phi họ tiến lên phía Bắc đến vùng Cận Đông khoảng 100.000 năm trước, rồi từ đây họ tách làm hai ngả : một ngả sang phía Tây, biến đổi dần thành người Europoid – việc này xảy ra khoảng 40.000 BP – một ngả tiến sang phía Đông và trụ ở Đông Nam Á. Trên bản đồ không thấy ghi rõ thời gian người Hiện Đại đến ngụ tại vùng này. Theo những tài liệu về ngôn ngữ học mới nhất, thời gian họ đến vùng Đông Nam Á khoảng 60.000 BP. Theo những tài liệu khảo cổ mới được công bố đầu năm 2000, người ta đã tìm thấy một bộ xương người Hiện Đại tại di chỉ ở phía Nam Quảng Đông gần biên giới Việt Nam có niên đại C14 khoảng 90.000 BP. Tài liệu này còn đang được kiểm chứng, chưa thấy xuất hiện trên các văn bản kinh viện, nên tạm chưa nói đến. Tại Đông Nam Á, họ chia hai ngả một ngả ra các hải đảo Nam Thái Bình Dương, lúc đó nước biển thấp nên còn là một giải đất liền với đại lục Châu Á (tại Tây Úc đã tìm thấy xương cốt người Hiện Đại cách đây 50.000 năm); một ngả họ tiến lên phía Bắc, đến Hoa Bắc khoảng 35.000 năm, sang Nhật Bản (lúc đó còn là giải đất liền với đại lục) khoảng 30.000 năm và vượt eo Bering (lúc đó cũng còn là giải đất liền) để sang Mỹ Châu cũng khoảng 30.000 năm trước. Về lớp người qua Âu Châu, có một nhánh băng qua Bắc Âu và đổ vào Tây Bắc Châu Á, vùng sau này là Văn hóa Ngưỡng Thiều (Sơn Tây, Thiểm Tây), khoảng 20.000 năm trước, nghĩa là đến sau người từ Đông Nam Á di lên khoảng 15.000 năm.

Đó là những bước phát triển của giống người Hiện Đại (Homo Sapiens-Sapiens) theo thuyết mới nhất.

image001

Nhưng nếu hiểu loài người là một loại động vật siêu đẳng biết đi bằng hai chân thì, con người mà tên khoa học gọi là Homo-Erectus hay trước nữa Homo-Habilis đã xuất hiện sớm hơn nhiều, có thể từ trên hai triệu năm trước. Người ta còn tìm thấy cả dấu chân người ở Phi Châu có trên ba triệu năm. Nếu chỉ kể người Khôn Ngoan (Homo-Sapiens) như người Neanderthals ở Âu Châu, người Pékiniens ở Trung Hoa, sự xuất hiện của họ cũng đã có từ vài trăm ngàn năm trước. Nhưng khoa di truyền học DNA đã chứng minh họ đã tuyệt chủng vì một lý do nào đó mà nay ta chưa biết hết. Họ không phải là tổ tiên của nhân loại hiện đại (xin xem chi tiết báo cáo của nhà bác học J. Y. Chu trong The National Academy of Science U.S.A. Vol, issue 20 1736 – 1768, ngày 29/7/1990; và Tập San TƯ TƯỞNG số 7, tháng 4/2000).

Bởi mỗi nền văn hóa của con người đều có những công cụ đặc trưng tiêu biểu nên khảo cổ học cũng đã góp phần chứng minh được các bước phát triển của loài người. Riêng lấy vùng Đông Nam Á làm thí dụ khảo chứng, ta thấy ở thời Kim Khí có Văn Hóa Đông Sơn, thời Đồ Đá có Văn Hóa Hòa Bình. Đặc trưng của Văn Hóa Đông Sơn là Trống Đồng. Cứ lần theo dấu vết của trống đồng ta biết những phần đất đã chịu ảnh hưởng của Văn Hóa Đông Sơn. Đặc trưng của Văn Hóa Hòa Bình ở cuối thời Đồ Đá Cũ là Rìu có vai. Cứ lần theo dấu vết của rìu có vai ta dò ra được bước tiến của chủ nhân nó là người Hòa Bình. Ngược lại biết được bước đi của người Hòa Bình là biết được bước phát triển của Văn Hóa Hòa Bình.

Nhưng nếu về Đồ Đồng và Đồ Đá, sự phát triển theo qui luật trên có vẻ rất đúng thì về Đồ Gốm, vấn đề lại không rõ rệt, không đơn giản như vậy.

Thực vậy : nếu trống đồng Đông Sơn như trống Ngọc Lũ, trống Hoa Hạ, vừa đẹp nhất, kỹ thuật cao nhất, niên đại xưa nhất so với trống đồng ở các vùng khác; rìu đá và nói chung, công cụ đá ở Hòa Bình có niên đại xưa nhất so với niên đại đồ đá ở các nơi mà người Hòa Bình đã mang theo khi thiên cư đến thì Đồ Gốm đã không có hiện tượng đó : Những Đồ Gốm tìm được ở phần đất nay là Bắc phần Việt Nam vừa có niên đại mới hơn, vừa có kiểu dáng thô hơn đồ gốm ở Trung Hoa, Nhật Bản đã đành, mà so với gốm phía Nam ở Thái Lan, ở Nam Dương, ở các hải đảo cũng không có vẻ là Gốm mẹ, gốm của nơi phát tích.

Tại sao lại có hiện tượng này ?

Và trước hiện tượng như vậy, phải có kiến giải như thế nào mới thích đáng nhất ?

Để trả lời được câu hỏi trên, tưởng chúng ta cần phải đi từng bước :

  • Bước thứ nhất : là phải làm sáng tỏ ba vấn đề căn bản :

 1 – Lịch sử xuất hiện gốm nói chung và giả thiết về sự xuất hiện đồ gốm ở Văn Hóa Hòa Bình (Cổ Việt).

2 – Niên đại gốm cổ ở Văn Hóa Hòa Bình (Cổ Việt) và ở các vùng liên hệ.

3 – Và qui trình sản xuất gốm tại Văn Hóa Hòa Bình (Cổ Việt) để xét xem gốm này có khả năng là gốm Mẹ, gốm của nơi phát tích đầu tiên sinh ra gốm các nơi khác.

  • Bước thứ hai : Đã có những kiến giải như thế nào về hiện tượng này và lý do vì sao các tác giả đã lý giải như vậy ?
  • Bước thứ ba : Kết luận của chúng ta.

BƯỚC THỨ NHẤT : NHỮNG VẤN ĐỀ CĂN BẢN

I  –  LỊCH SỬ XUẤT HIỆN ĐỒ GỐM

Trong khoa khảo cổ, gốm là thành phần quan trọng bậc nhất giúp chúng ta tìm hiểu nếp sống, nếp suy nghĩ, nói chung những tiến bộ về văn hóa của người xưa. Đó là những công cụ làm bằng đất sét nung nhằm đáp ứng những nhu cầu của con người mà nhu cầu đầu tiên có lẽ để nấu chín những đồ ăn người ta không thể nướng được. Dần dần, đời sống càng ngày càng phức tạp, con người càng ngày càng có nhiều nhu cầu cần thỏa mãn thì kiểu dáng gốm càng ngày càng đa dạng. Từ dụng cụ dùng để nấu chín đồ ăn, gốm được dùng để chứa đựng đồ ăn như các loại nồi, bình, vò, bát, đĩa, chậu, thạp, thố, chõ, ly, chén … đến các loại đồ trang sức, công cụ ssản xuất, vật dụng nghi lễ, chôn cất, các loại tượng mỹ nghệ, kể cả gốm minh khí dùng phục vụ cho những người đã chết ở thế giới bên kia nữa … Nhiều loại gốm cho đến nay người ta cũng chưa biết rõ công dụng như : chạc gốm, gốm đấu, gốm hình hộp, gốm chân vịt, gốm sừng bò v. v…

Gốm đời nọ phân biệt với đời kia bởi kiểu dáng và bởi hoa văn. Hoa văn tiêu biểu nhất cho gốm Hòa Bình là gốm hoa văn Thừng (cord-marked pottery) mà ta sẽ nói nhiều đến ở những phần sau. Kiểu dáng gốm Việt vô cùng phong phú và đa dạng trong khi hoa văn chứng tỏ nghệ nhân Việt rất giàu tưởng tượng và gửi vào tác phẩm của mình những tư duy vô cùng thâm thúy. Nghiên cứu các kiểu dáng và hoa văn này sẽ cho ta biết được đời sống và tư duy người Việt Cổ mà nhờ đó ta có thể phác họa được đời sống văn minh của tiền nhân. Đó là đối tượng của đề tài sẽ được trình bầy trong một dịp khác.

Nay quay lại đề tài chính, con người trong quá trình tiến hóa của mình, đã phát sinh ra đồ gốm vào lúc nào ?

Thông thường, khảo cổ học cổ điển vẫn chủ trương đồ gốm xuất hiện vào cuối thời Đá Giữa, bắt đầu thời kỳ Đá Mới (Gordon Childe). Điều này đã bị thực tế chứng minh là không hẳn như vậy : nhiều nơi đã đi vào thời Đá Mới mà vẫn không có gốm. Khảo cổ học gọi thời kỳ này là “Đá trước gốm”.

Nhìn theo khía cạnh kinh tế, người ta cho gốm được phát sinh khi bắt đầu vào thời kỳ sản xuất, chứ không phải chỉ là kinh tế hái lượm, săn bắt. Lý do chính là người ta có đồ ăn dư thừa theo mùa cần tích trữ chứ không như thời săn bắt, hái lượm, đồ ăn có đến đâu ăn đến đấy. Vì vậy cần có những dụng cụ chứa đựng mới.

Nhìn theo khía cạnh xã hội, người ta cho gốm chỉ xuất hiện khi bắt đầu có định canh, định cư chứ không có trong xã hội du mục, nay đây mai đó. Chính sự định canh, định cư đã thúc đẩy con người chế tạo ra đồ gốm để cung ứng cho cuộc sống mỗi ngày một ổn định của mình.

Với những tác giả Đông Nam Á, có lẽ nhìn vào cuộc sống của tổ tiên mình là người Hòa Bình, có thực phẩm chính nuôi sống họ là các loại ốc núi, ốc sông rồi đến các loại tôm, cá, cua, sò đều là động vật tanh, khó nướng chín như thịt thú rừng, nên chủ trương gốm là công cụ đáp ứng nhu cầu nấu chín đồ ăn tanh này (Bùi Vinh ).

Căn cứ vào các tiêu chuẩn trên, lý tất gốm phải xuất hiện rất sớm ở xã hội Hòa Bình vì Văn Hóa Hòa Bình hội đủ những yếu tố cần thiết như vừa kể trên nên đã thúc đẩy con người phát minh ra đồ gốm để đáp ứng cho nhu cầu của mình.

II – NIÊN ĐẠI ĐỒ GỐM HÒA BÌNH, TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC VÙNG CHUNG QUANH

  1. Tại Việt Nam

Phải nói ngay rằng không kể thời kỳ khai phá của các nhà bác học M. Colani, H. Mansuy vào đầu thế kỷ 20 này, khi khảo cổ Việt Nam được thành lập chủ yếu là để tìm tòi, trả lời câu hỏi về sự thành lập nhà nước thời Hùng Vương, do đó nỗ lực của giới khảo cổ lúc đầu là tìm biết về thời đại đồ đồng. Những thành tựu về trống đồng cũng như những thành tựu trong việc khám phá ra những dụng cụ thời đồ đá cũ tương đối khả quan và tạm đủ để chúng ta vẽ lại nếp sống của người thái cổ qua những dụng cụ đồng thau và đồ đá đó. Nhưng sự tìm hiểu về đồ gốm hình như chưa có những thành tựu tương tự. Những nhà nghiên cứu đồ gốm đều cho rằng bằng vào những khám phá hiện chúng ta có được, việc vẽ lại đời sống của người tiền sử qua gốm là chưa đủ. Chúng ta đã tìm được rất ít những dụng cụ gốm của các nền Văn Hóa Hòa Bình hay Tiền Hòa Bình, thời Sơn Vi. Gốm cổ nhất mà hiện tại chúng ta có được ở Hang Đắng thuộc Văn Hóa Hòa Bình có niên đại C14 = 7.665 năm BP (Nguyễn Kim Dung 1983).

image003

Bởi vậy, phần lớn những gốm mà chúng ta tìm được là ở những di chỉ ven biển thuộc từ Cái Bèo, Hạ Long trở vào đến Đa Bút, Quỳnh Văn, Bầu Tró và ở Sa Huỳnh, ở miền Phai Pho, Đà Nẵng. Sau gốm tìm được ở Hang Đắng, có lẽ gốm tìm được ở Đa Bút là gốm có niên đại cổ nhất. Đa Bút là một di chỉ ngoài trời chứ không phải ở trong hang động và ở ven sông. Đây là sông Mã, Thanh Hóa. Từ năm 1932, nhà bác học người Pháp Patte đã tìm được ra di chỉ này và ở những độ sâu khác nhau, người ta đã tìm ra được những mảnh gốm có niên đại khác nhau. Các niên đại sau đây đã được xác nhận và được các phòng kiểm nghiệm quốc tế cho biết kết quả là :

  • Ở độ sâu 2m : C14 = 6.430 ± 50 BP (Bln 3510)
  • Ở độ sâu 0,8m : C14 = 6.390 ± 60 BP (Bln 3508)
  • Ở độ sâu 0,7m : C14 = 6.095 ± 60 BP (Bln 3510)

Người ta còn cho rằng nếu ở độ sâu 5m thì có thể đã có những gốm cách đây trên 7.000 năm. Tuy nhiên số này chưa được xác nhận bởi những phòng thí nghiệm có giá trị nên tạm không kể đến. Gốm ở Đa Bút tìm thấy là gốm Văn Thừng. Cùng với gốm này, chúng ta thấy rất nhiều rìu có vai mài nhẵn. Đó là đặc trưng của Văn Hóa Hòa Bình. Đa Bút là địa điểm ở Thanh Hóa. Sau Đa Bút, về phía Bắc có gốm ở Cái Bèo, Hạ Long, về phía Nam có gốm Quỳnh Văn và Bầu Tró ở vùng Nghệ Tĩnh là những gồm có niên đại cổ hơn cả. Gốm ở Cái Bèo cũng là gốm Văn Thừng có đáy tròn, có niên đại C14 = 5.646 ±    60 BP. Phải nhấn mạnh rằng gốm Cái Bèo có những đặc điểm khác với gốm Đa Bút. Trước hết là ở loại hình có tính cách hiện đại hơn, thường chất liệu bằng đất sét có trộn những vỏ bằng nhuyễn thể và ngoài gốm Văn Thừng còn nhiều loại hoa văn khác nữa. Đặc biệt có gốm sốp mà ở Đa Bút chưa thấy. Gốm ở Hạ Long còn hiện đại hơn nữa về loại hình. Người ta thấy có gốm có chân, có vòi, có tai. Về hoa văn, đã có văn đắp nổi, văn khắc vành hình học, ô vuông, ô trám, hình tròn, hình tam giác và những đường thẳng song song, lại có những vân lá, có hoa văn hình chữ S …

image005

Về phía Nam vùng Nghệ Tĩnh, gốm rất nhiều ở Quỳnh Văn kéo dài đến vùng Bầu Tró gồm đủ cả loại gốm đáy tròn văn đập lẫn gốm đáy nhọn văn trải hai mặt, niên đại C14 = 4.70 ± 60 BP (Bùi Vinh 1979).

Ta thấy ở đây gốm không phải chỉ dùng để phục vụ nhu cầu nấu nướng hay là những dụng cụ đựng đồ ăn như các loại nồi, bình, vò, bát, đĩa, cốc, chén, chậu, thạp, thố, chõ … mà ở đây gốm đã mang những kiểu dáng khác để phục vụ những nhu cầu khác nữa như những nhu cầu về sản xuất các loại dùng trong nghề chài lưới, làm đồ trang sức, làm các tượng nghệ thuật và cũng thấy cả những dụng cụ gốm phục vụ cho việc tín ngưỡng; những đồ gốm dùng để chôn cất người chết như vò gốm. Kiểu dáng rất đa dạng. Về mầu sắc, đã bắt đầu có gốm tô mầu đỏ, có ánh chì … Nếu không kể niên đại của gốm ở Hang Đắng như trên, tương đối là ít ỏi, thì đa số gốm tìm được ở Việt Nam cho đến hiện nay là những gốm tìm được ở những di chỉ ven biển. Bởi vậy lúc đầu đã có khuynh hướng cho rằng gốm đã xuất hiện ở những vùng đồng bằng ven biển rồi từ đó mới lan truyền dần vào đất liền (Bùi Vinh 1987). Chúng ta sẽ chứng minh rằng gốm tìm được ở Hang Đắng, Hòa Bình dù ít ỏi, đã có niên đại cổ hơn những gốm tìm được ở những di chỉ vùng ven biển. Không thể vì sự ít ỏi này mà có thể vội kết luận là gốm đã phát xuất từ ven biển trước rồi mới đi vào đất liền bởi sự kết luận như thế trái với nguyên tắc căn bản : con người từ đất liền thường có khuynh hướng tràn dần ra biển.

image007
(1)
image009
(1) (2) Gốm Văn Thừng và biến thể của Văn Thừng
image011
Gốm Nam Trung Quốc
image013
Gốm Ngưỡng Thiều (Bắc Trung Quốc)

Nay nếu đem so sánh những niên đại của gốm tìm được ở Việt Nam với các nơi khác như ở Trung Hoa, ở Nhật Bản thì chúng ta thấy có hiện tượng mâu thuẫn là những gốm Văn Thừng ở phía Nam Trung Hoa và Nhật Bản, theo nhiều học giả là do gốc từ Hòa Bình truyền lên, nhưng về niên đại C14 thì những gốm này lại cổ hơn gốm tìm thấy được ở Việt Nam. Ta thử tuần tự xét :

2. Tại Nam Trung Quốc

Chúng ta phải rõ rằng gốm ở Trung Hoa có hai hệ thống khác nhau : trước năm 1960, các nhà khảo cổ chỉ biết đến loại gốm văn hình học, khởi thủy tìm thấy ở vùng Anyang thuộc Văn hóa Ngưỡng Thiều. Gốm này theo các nhà khảo cổ là gốm chịu ảnh hưởng của vùng Cận Đông nay là những nước Iran, Irak, mà truyền vào Trung Hoa.

Chỉ từ sau những năm 60, khi nền khảo cổ Trung Hoa bắt đầu nở rộ, người ta mới phát hiện đã có một hệ thống gốm sớm hơn loại gốm văn hình học kể trên. Đó là gốm Văn Thừng thuộc Văn hóa Đông Nam Á. Nếu gốm văn hình học có niên đại chỉ vào khoảng 5.000 – 6.000 năm cách ngày nay thì gốm Văn Thừng có niên đại vào khoảng trên dưới 10.000 năm cách ngày nay. Có một điểm khá đặc biệt cần nhấn mạnh là càng gần quê hương Văn Hóa Hòa Bình bao nhiêu thì những gốm này thường có niên đại càng cổ hơn bấy nhiêu. Chúng ta hãy kể một số niện đại tiêu biểu như sau :

Gốm tìm được ở Quảng Tây

  • Hang Miếu Nham, Quế Lâm, có niên đại sớm nhất C14 = vào khoảng 13.100 ± 370 năm BP ở lớp II. Theo Chu Quốc Hưng (1994 :237), tại lớp năm đã tìm được những mảnh gốm Văn Thừng có niên đại C14 cách nay khoảng 15.000 năm chưa thấy công bố kết quả C14 của phòngthí nghiệm nào xác minh niên đại này. Nhưng niên đại C14 = 15.000 năm BP làm ta liên tưởng đến giả thiết của GS. W. G. Solheim II về độ tuổi của gốm Văn Thừng ở vùng Đông Nam Á và giả thiết cho gốm Văn Thừng Đông Nam Á là gốm cổ nhất trên thế giới (W. G. Solheim II, 1980 – Early protery in Northern Thailand and conjectures on its relationships. In the diffusion of material culture – University of Hawaii at Manoa i 39 – 40)
  • Hang Tăng Bình Nham cũng thuộc Quảng Tây, có niên đại C14 = 9.000 năm đến 10.000 năm cách ngày nay. Không thấy nói đến việc tìm niên đại phóng xạ C14 của loại gốm này. Nhưng cũng những mảnh gốm có đặc điểm giống gốm Tăng Bì Nham như trên tìm thấy ở Lý Ngư Chủy đã được phòng thí nghiệm Bắc Kinh xác định niên đại C14 = 12.880± 200 BP (BK 82.090, Tạ Sùng An, Trương Tiểu Hoa, 1987 : 62).
  • Bạch Liên Động có niên đại C14 = 7.080 ± 125 năm cách ngày nay (BK 82.092).

Tất cả những gốm này đều là gốm Văn Thừng mầu hồng hoặc mầu đen, thỉnh thoảng mới có gốm văn khắc vạch mà thôi.

Bây giờ sang đến Quảng Đông

Người ta cũng tìm thấy những gốm ở Cồn Sò, huyện Ung Nguyên, Thạch Mỹ Sơn, ở Cồn Sò huyện Đông Hưng đều là gốm Văn Thừng có mầu xám đen hay là mầu hồng.

Lên đến Phúc Kiến

Ở ngoài đảo Kim Môn, Cồn Sò Phú Quốc Đôn có những gốm Văn Thừng có niên đại C14 = 6.310 ± 370 BP (Trương Quang Trực 1977).

Lên nữa về phía Bắc, đến tỉnh Giang Tây

Chúng ta thấy ở Hang Tiên Nhãn Động lại có gốm Văn Thừng mầu hồng và có loại có áo mầu đen và có niên đại C14 = 8.825 ± 240 BP (ZK – 920) hoặc C14 = 10.870 ± 248 BP (ZK – 39/1).

Vào đến tỉnh Hồ Nam

Chúng ta cũng lại vẫn tìm thấy những loại gốm Văn Thừng mầu hồng và bắt đầu thấy cả loại gốm mầu trắng nữa trong di chỉ Táo Thị có niên đại C14 = 7.210 ± 110 BP (BK 87.046).

Ra đến đảo Đài Loan

Gốm Văn Thừng vẫn là chính, có mầu đỏ thẫm hoặc mầu gụ thẫm tại di chỉ Đại Phần Khanh có niên đại C14 = 7.500 BP (Đái Quốc Hoa 1989).

Nói tóm lại, những dụng cụ gốm tìm được ở Trung Hoa chia làm hai phần : không kể vùng Hoa Bắc có gốm hoa văn hình học và thường mầu đen là những gốm có nguồn gốc từ Trung Đông, còn những gốm vùng Hoa Nam từ Hồ Nam, Giang Tây trở xuống, cổ nhất vẫn là những gốm Văn Thừng. Những gốm này có niên đại cao hơn, cổ hơn vùng Hoa Bắc.

  1. Tại Nhật Bản

Gốm xưa nhất ở Nhật Bản cũng là gốm Văn Thừng. Tại bang Fuki, huyện Nagasaki, gốm có niên đại C14 = 12.700 ± 500 BP (GAK – 950) và ở trong trại Mái Đá vùng Kamikuroiva, người ta tìm thấy những gốm Văn Thừng Nhật có niên đại C14 = 12.165 ± 600 BP (I -944).

Người ta biết rằng trước khi băng hà cuối cùng tan, phần phía Bắc Nhật Bản vẫn là miền băng giá chưa có người sinh sống một cách dễ dàng được. Nhưng hồi đó mực nước biển thấp hơn ngày nay rất nhiều nên giữa những quần đảo Nhật Bản và đại lục đã có những cầu nổi đất liền khiến người có thể ra quần đảo Nhật Bản một cách dễ dàng hơn ngày nay. Có hai luồng văn hóa từ đất liền ra biển. Một là văn hóa lá xanh bóng từ vùng phía Nam Hi Mã Lạp Sơn qua vùng Bắc Thái Lan, vùng Vân Nam, vùng Hoa Nam mà vào phía Nam Nhật Bản, vùng đảo Hokaido và hai là văn hóa từ phương Bắc qua Tây Bá Lợi Á, vùng cực Bắc của Hoa Bắc Trung Hoa, vùng Đại Hàn vào phía Bắc nước Nhật. Chính đường văn hóa từ Hoa Nam vào Nhật có thể là đường văn hóa của người Hòa Bình và gốm Văn Thừng, theo các học giả Hoa Kỳ – Solheim II đại diện – có thể đã theo người Hòa Bình vào Nhật Bản bằng đường này.

image015
Gốm Đài Loan
  1. Gốm ở Thái Lan, Miến Điện, Nam Dương và các đảo tại Nam Thái Bình Dương

So với miền Bắc, ảnh hưởng của gốm Văn Thừng nói riêng và của Văn Hóa Hòa Bình nói chung ở phía Nam và các hải đảo Thái Bình Dương chưa được nghiên cứu sâu rộng bằng. Trước kia khảo cổ học cổ điển chỉ công nhận ảnh hưởng của Văn Hóa Hòa Bình về phía Nam đến đảo Java Nam Dương là ranh giới cuối cùng. Nay, nhiều khảo cứu cho thấy ảnh hưởng này đã theo chân người Đông Nam Á ra đến nhiều đảo ở Thái Bình Dương, xa tận Úc Đại Lợi ngày nay. Tuy nhiên, thành tựu của khảo cổ học ở Thái Lan là đáng lưu ý nhất. Những di chỉ khảo cổ nổi tiếng nhất ở Thái tập trung ở phía Bắc nước này, trên cao nguyên Khorat : ba di chỉ thường được khảo cổ quốc tế nhắc đến, theo thứ tự từ Bắc xuống Nam, có Ban Chiang, Ban Na Di, và Non Nok Tha. Ban Chiang có niên đại cổ nhất, kế đến là Non Nok Tha và sau chót là Ban Na Di (xin xem bản đồ 2 ở trên). Ở những di chỉ này, người ta đều tìm thấy các dụng cụ bằng đá, bằng gốm, bằng đồng có phong cách như dụng cụ tìm thấy ở các di chỉ Văn Hóa Hòa Bình ở Việt Nam. Nhiều báo cáo khoa học tỏ ra lúng túng về niên đại đồ gốm ở các di chỉ này. Báo cáo của GS. W. G. Solheim II có lẽ là báo cáo rõ ràng và đáng tin cậy nhất : rằng dùng C14 để định tuổi, người ta biết được rằng di chỉ Hang Thần đã có vào khoảng 9.700 năm trước Kỷ Nguyên (BC), có thể còn xưa hơn nữa vì nhiều đồ vật ở sâu chưa được định tuổi. Đáng lưu ý nhất là “Vào khoảng năm 6.600 trước Kỷ Nguyên (BC) có một biến cố quan trọng : đó là sự xuất hiện đồ gốm được đánh bóng, trang trí bằng hoa Văn Thừng …” (Tạp chí National Graphic, No 3, 1971 – bản dịch Vĩnh Như & Hoài Văn Tử, Tập san TƯ TƯỞNG số 2, tháng 4/1999).

Về một mặt khác, khi khảo sát về mẫu nhân chủng ở Non Nok Tha bằng phương pháp đo sọ và các hình dáng xương cốt, người ta khẳng định mẫu người tìm thấy ở Non Nok Tha có liên hệ với mẫu người tiền sử mà Colani và Mansuy đã tìm được ở Việt Nam trước đây (Pietrusewky, 1984 – theo The Archaeology of mainland Southeast – Asia của Charles Highams, Cambridge Uni Press 1989, trg 140). Mẫu người cũng như các mẫu dụng cụ bằng đá, bằng đồng tìm được ở Bắc Thái Lan chứng tỏ văn hóa tiền sử Thái Lan và Văn Hóa Hòa Bình là cùng một gốc.

Như trên đã nói, khi biển thấp hơn ngày nay 50m, các phần chính của quần đảo Nam Dương đã nối liền với đại lục Châu Á. Mực nước biển thấp nhất là 130m dưới mực nước ngày nay (18.000 năm trước) . Vì vậy, cũng không là điều lạ nếu tại Lapita, một vùng bờ biển phía Tây đảo New Caledonia, người ta đã tìm thấy gốm có phong cách như gốm ở trong hang động ở Thường Xuân (Thanh Hóa), Quỳ Châu (Nghệ An) hay Xóm Thâu (Quảng Bình). Theo J. Golson, điều này chứng tỏ văn hóa Nam Thái Bình Dương có nguồn gốc từ Đông Nam Á, từ Văn Hóa Hòa Bình (The Proceedings of Symposium Arranged by the Department of Art & History and Archaeology, Colombus University, New York City – August 1967 – Edited by Noel Bernard, Taiwan 1974).

image017

image019

Rõ ràng là gốm Văn Thừng ở Nhật Bản, ở Đài Loan, ở vùng Hoa Nam Trung Hoa, ở Thái Lan, Nam Dương, các đảo Nam Thái Bình Dương và ở Việt Nam có họ hàng với nhau và có vẻ đã phát sinh từ cùng một nguồn gốc. Nhưng chỉ bằng vào niên đại C14 của gốm không thôi thì có vẻ như những gốm này đã được chế tác ra từ Nhật Bản, từ Nam Trung Hoa trước rồi truyền vào Việt Nam (Trương Quang Trực – Chang 1977 : 90). Nếu như vậy, phải chăng điều này có vẻ đã đi ngược với nguyên tắc chung của khảo cổ học, hơn thế nữa, ngược lại cả những khám phá về di truyền học DNA mới phát minh cuối thiên niên kỷ II (xem Báo cáo của GS. Y. G. Chu). Theo những khám phá mới này, Đông Nam Á mới là nguồn gốc của con người Hiện Đại (Homo Sapiens-Sapiens). Từ trung tâm Đông Nam Á, nền Văn Hóa Hòa Bình đã tỏa dần ra các nơi khác, phía Bắc lên Trung Hoa, phía Đông ra Phi Luật Tân, lên tận Nhật Bản, phía Nam xuống Thái Lan, Nam Dương và ra các đảo Nam Thái Bình Dương. Nhiệm vụ của những nhà khảo cổ là phải tìm cho ra lý do của sự mâu thuẫn, và tìm được kiến giải hợp lý khả dĩ chấp nhận được.

III  –  QUI TRÌNH SẢN XUẤT GỐM

Khởi đầu cho việc đi tìm một kiến giải hợp lý, trước hết ta thử xét qui trình sản xuất gốm.

Bất cứ sản phẩm gốm nào cũng phải trải qua bốn qui trình chế tạo như sau :

1 – Chọn nguyên liệu để làm gốm
2 – Kỹ thuật tạo hình
3 – Cách trang trí mặt ngoài
4 – Kỹ thuật nung gốm

W. G. Solheim II nghiên cứu bốn giai đoạn này của gốm Văn Thừng thuộc Văn Hóa Hòa Bình và đã tìm thấy đến 99 yếu tố kỹ thuật chế tác khác nhau mà nhờ đó Văn Hóa Hòa Bình đã sản xuất ra được gốm Văn Thừng sớm nhất trong lịch sử gốm nhân loại. Khi thiên di đi các nơi khác, người Hòa Bình đã truyền bá được kỹ thuật làm gốm này đến những vùng đất mới (W. G. Solheim II 1964).

Chúng ta tuần tự xét :

1 –  Về nguyên liệu gốm

Nguyên liệu làm gốm là đất sét. Gốm có rất nhiều loại khác nhau tùy theo hàm lượng trong đất sét : nếu có sắt nhiều thì đất sét dễ nóng chẩy và độ dẻo cao, nếu carbonat nhiều thì ngược lại độ nung sẽ chỉ chịu được nhiệt độ thấp. Sở dĩ đất sét được chọn là nguyên liệu chính để làm đồ gốm là bởi có hai đặc tính : đặc tính thứ nhất là tính dẻo của nó và đặc tính thứ hai là tính có thể tạo hình tùy theo dạng vuông, tròn, méo … một cách dễ dàng. Tất nhiên cả hai đặc tính này nếu được chế biến thì sẽ tăng hiệu năng lên. Thí dụ về độ dẻo, nếu biết cách sàng lọc, ngâm, ủ, nhào, trộn, giã bằng cối, ủ bọc bằng lá chuối có tẩm nước trong nhiều ngày … thì độ dẻo sẽ tăng lên rất nhiều. Cũng như vậy, đặc tính tạo hình nếu biết pha trộn thêm vào những chất trơ (còn gọi là chất gầy) thí dụ như pha thêm cát thì sét dẻo sẽ trở nên chắc hơn, sẽ giảm đi tính xốp của gốm, giảm đi độ co, đồng thời lại tăng sức chịu đựng nhiệt khiến cho những đồ gốm làm bằng sét pha cát có thể chịu được độ nung nóng rất cao. Cũng có thể pha với thạch anh, với vỏ các nhuyễn thể, carbonat, với rơm băm vụn ra, với trấu là phó phẩm của thóc và nhất là với tamốt tức là những mảnh gốm cũ được nghiền nát ra hay là đất sét phơi khô giã nhỏ. Mỗi một chất trơ phụ pha với đất sét sẽ tạo ra một nguyên liệu mới có những đặc tính mới để làm gốm tùy theo nhu cầu của người chế tác ra gốm. Về điểm nguyên liệu này người ta có thể nói mà không sợ lầm rằng đất nước Việt Nam, nhất là vùng đồng bằng Bắc phần quả là quê hương của đất sét. Các loại đất sét ở đây thật là đa dạng. Đất sét có thể lấy ở đồng trên mặt đất Phú Thọ, có thể lấy ở lớp phù sa như đất gốm ở Vĩnh Yên, có thể lấy ở sâu trong lòng đất như đất pha nhiều diệp thạch đen ở Thù Phát. Gần đây, người ta cũng đã, bằng những phương pháp khác nhau của kỹ thuật khoa học, tìm biết thành phần hóa học trong đất sét cả từ những nguyên liệu tạo thành những đồ gốm trong thời tiền sử xa xưa lẫn những đất sét hiện có tại các cơ sở sản xuất gốm dân gian. Kết quả cho biết thành phần của đất sét ở Việt Nam quả đúng như điều đã khẳng định.

Bằng vào những tài liệu của các lò gốm dân gian hiện tại, người ta có thể hiểu được rằng người Việt Cổ đã biết pha chế các loại đất sét đa dạng đó với đủ loại chất trơ để tạo ra vô vàn nguyên liệu làm gốm khiến cho có thể suy luận kỹ nghệ gốm trong thời tiền sử ở Văn Hóa Hòa Bình có thể là một kỹ nghệ đã đạt được mức kỹ thuật khá cao, xứng đáng là kỹ thuật của thứ gốm Mẹ từ đó phát sinh ra gốm ở các nơi khác.

2  –  Kỹ thuật tạo hình

Nếu nguyên liệu ở Việt Nam chứng tỏ không thiếu và rất phong phú thì kỹ thuật tạo hình ngược lại thoạt nhìn có vẻ như đã không để lại được nhiều dấu vết đáng khích lệ. Lý do sẽ được trình bầy ở sau. Nói chung, ngoài việc tạo hình bằng tay do nghệ nhân nặn ra hình là kỹ thuật đầu tiên mà loài người biết sử dụng còn có những kỹ thuật khác là : thứ nhất bằng khuôn gốm, thứ nhì bằng giải cuộn (coling), thứ ba bằng dựng vòng (ring billing), thứ tư bằng bàn độc, hòn kê và thứ năm tiến bộ nhất là bằng bàn xoay. Ngoài những kỹ thuật kể trên, những đồ gốm phức tạp có những hình dạng phức tạp, thí dụ như đáy hình tròn nhưng cổ thóp lại, miệng loe ra, miệng có thể loe bằng nhiều kiểu cách khác nhau nhưng gốm phức tạp đó thường phải có sự phối hợp của các kỹ thuật vừa kể để có thể hình thành được dụng cụ gốm vừa nhanh mà lại vừa đẹp. Chúng ta đã có những chứng cớ để biết rằng tại những di chỉ có gốm đời Phùng Nguyên, nghĩa là cách đây vào khoảng 4.000 năm, người Cổ Việt đã biết phối hợp tất cả những kỹ thuật này để làm ra những gốm rất đa dạng. Tuy nhiên, trước thời Phùng Nguyên chúng ta lại chưa tìm thấy được những chứng cớ về kỹ thuật tạo hình đồ gốm như những khuôn gốm, những bàn xoay, cuộn, bàn độc … Có thể bởi hầu hết những dụng cụ dùng làm khuôn để chế tạo gốm này đã làm bằng tre hay gỗ là những thứ ở Việt Nam có rất nhiều nhưng lại dễ bị thời gian hủy hoại đi khiến ngày nay chúng ta không còn tìm thấy dấu vết nữa. Điểm này sẽ được nói rõ hơn ở dưới đây.

Đầu tiên nói đến khuôn gốm. Khởi thủy có thể nói nghề làm gốm bắt nguồn từ việc dùng đất sét trét ngoài những dụng cụ thường làm bằng tre hay bằng gỗ. Những dụng cụ bằng tre, nứa hay vầu đó có thể coi là những khuôn gốm đầu tiên. Chính những khuôn làm bằng tre này đã để lại những hoa văn trên đồ gốm có hình các dấu đan. Chúng ta đã biết rằng Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới có gió mùa và nhiều mưa nên là quê hương của các loại thực vật. Từ thời thái cổ đã có nhiều các loại cây thiên nhiên thuộc họ tre, nứa, bương, vầu … đều là loại cây có đốt, rỗng ruột. Những loại này, ngoài công việc có thể dùng để đựng các chất, nhất là chất lỏng hay ngay cả để nấu như nấu cơm bằng ống tre. Khi chẻ ra tre có thể dùng làm đủ loại dây thừng, đan đủ loại dụng cụ để dùng làm những dụng cụ đánh cá, làm bẫy bắt chim, hươu nai, thú rừng hay làm cả trăm thứ đồ dùng khác nữa. Phải chăng gốm Văn Thừng là bắt nguồn từ ưu điểm về khí hậu và địa lý của đất nước quê hương của Văn Hóa Hòa Bình, nơi có nhiều tre, nứa mà ra ?

Ngoài khuôn làm bằng tre nứa, người ta có thể làm khuôn gốm bằng những chất khác như bằng đất. Ở đây chúng ta không bàn về cách thức làm khuôn gốm mà chỉ nhấn mạnh rằng những kỹ thuật tạo hình gốm nhất là kỹ thuật làm khuôn gốm và làm bàn xoay có thể coi như là kỹ thuật tiến bộ nhất trong việc tạo hình đồ gốm. Tại Việt Nam, khuôn gốm và bàn xoay chắc đã làm bằng những chất liệu mà mình có sẵn là các loại tre nứa (xem Gluo, H. Loofs, Wiessowa 1980). Xin đừng quên Việt Nam thuộc vào vũ trụ thực vật (vegetal universe) mà nhiều nhà bác học trên thế giới đã nêu ra ngay từ đầu thế kỷ này. Những khuôn gốm và bàn xoay làm bằng tre, nứa này đã bị thời gian hủy hoại đi không còn để lại dấu tích nữa ! Bởi vậy không thể nói không tìm thấy những vật chứng là các dụng cụ kỹ thuật chế tạo gốm như bàn xoay, bàn độc, hòn kê, giải cuộn, khuôn gốm mà vội kết luận Cổ Việt không có kỹ thuật sản xuất gốm sớm chỉ bởi dụng cụ kỹ thuật này làm bằng tre, nứa … những vật liệu dễ bị thời gian hủy hoại nên nay ta không thể tìm thấy mà thôi !

3  –  Trang trí mặt ngoài

Như trên đã nói, gốm Việt Nam có những trang trí khác với gốm ở nơi khác mà đặc biệt nhất và cổ nhất là gốm Văn Thừng. Gốm Văn Thừng là gốm có hoa văn in hình dấu vết dây thừng được tạo bởi kỹ thuật bàn đập có quấn dây se kiểu thừng (Phạm Thi Ninh, KCH 1991/3). Nói gốm Văn Thừng là xác định đồ gốm đã có sau khi có dây thừng. Mà thừng là một loại dây do các cây thực vật bện mà thành, khoa học gọi là do phức hợp hướng sợi (fribe-oriented technogical complex) dùng để buộc thuyền, làm lưới trong nghề đánh cá, làm lưới bắt chim thú, làm dây cột nhà và trăm nghìn thứ công dụng khác.

Quê hương Hòa Bình trước hết là quê hương thuộc vũ trụ thực vật (vegetal universe – H. Loofs, Wiscowa 1980) sau nữa là quê hương của nghề đi thuyền và đánh cá, tất nhiên biết dùng thừng sớm nhất và nhiều nhất cũng là điều dễ hiểu.

Sau này trong những gốm nâu, gốm hoa lan, lối trang trí Việt Nam bao giờ cũng đặc biệt khác với gốm ở vùng khác. Chúng ta có thể kết luận như Solheim II là : ở đâu có gốm Văn Thừng là ở đó chịu ảnh hưởng của gốm sản xuất tự Văn Hóa Hòa Bình thuộc cổ Việt Nam.

4  –  Nung gốm

Chúng ta sẽ kết thúc phần II này bằng kỹ thuật nung gốm là một trong những kỹ thuật quan trọng bậc nhất trong qui trình chế tạo đồ gốm, bởi độ nung của gốm có đưa được lên cao thì đồ gốm mới chắc, bền, đẹp. Nung gốm có thể làm ở ngoài trời hay trong lò. Chúng ta biết nếu nung gốm ngoài trời thì chỉ đạt đến nhiệt độ trung bình khoảng 400 đến 500 độ mà thội. Nung gốm trong lò có thể đưa gốm lên trên 1.000 độ, và như vậy sẽ được loại gốm tốt hơn. Lò nung gốm không những chỉ sản xuất ra những gốm tốt mà còn có thể ổn định được việc sản xuất gốm một cách thường xuyên với số lượng lớn nữa (Sazko, Tere-khova 1981). Ở Việt Nam, chúng ta còn tìm được những dấu vết của những lò nung lớn khoảng từ hơn 2.000 năm về trước, tức là trước Kỷ Nguyên, như lò nung Hiển Lê ở vùng Mê Linh hay lò nung Làng Hoa ở Tam Đảo (Trần Anh Dũng 1986). Còn trước đó kỹ thuật lò nung ra sao, hiện nay chúng ta chưa tìm được vết tích. Nhưng từ thời Phùng Nguyên, chắc chắn đã có những lò nung lớn nên mới có thể tạo được những loại gốm tốt và chắc như vậy. Căn cứ vào dân gian học, chúng ta thấy hiện tại có những lò nung gốm lớn đạt được kỹ thuật rất cao. Những kỹ thuật này đã học được từ tiền nhân qua những lò nung gốm ở Tam Thọ (Thanh Hóa), ở Đồng Đậu (Vĩnh Phú), ở Gia Lương (Hà Bắc) và tất nhiên còn có thể ở những lò nung từ trước rất xa xưa nữa mà khảo cổ học có nhiệm vụ phải tìm ra. Tuy khảo cổ học non trẻ của Việt Nam chưa tìm đủ chứng cớ để chứng minh gốm đã có từ thời đại rất cổ xưa, nhưng chỉ bằng vào những gốm tìm được ở Phùng Nguyên và những gốm tìm được ở Hang Đắng cách đây hơn 7.000 năm, chúng ta có thể kết luận rằng kỹ thuật sản xuất gốm phải có trước đó khá lâu thì đến lúc đó chúng ta mới có những sản phẩm gốm tốt đẹp được đến như vậy.

Chưa cần khảo sát cả 99 yếu tố kỹ thuật để chế tác gốm như W. G. Solheim II, chỉ căn cứ vào những điều vừa trình bầy ở trên về bốn qui trình sản xuất gốm của người Việt Cổ, tưởng ta cũng có thể đồng ý với nhà học giả lỗi lạc này là gốm Văn Thừng của Văn Hóa Hòa Bình sản xuất ra có thể là gốm có sớm nhất trong lịch sử làm gốm của nhân loại.

BƯỚC THỨ HAI  : NHỮNG LỐI KIẾN GIẢI

Đã có ba lối kiến giải về gốm ở Việt Nam :

1- Lối kiến giải của GS. Solheim II như trên vừa nói cho rằng gốm Văn Thừng (cord-marked pottery) là loại gốm có sớm nhất trên thế giới do cư dân Hòa Bình phát minh khoảng 15.000 năm cách ngày nay.

2 – Kiến giải thứ hai là của các nhà khảo cổ Việt Nam căn cứ vào niên đại cổ nhất của gốm đào được ở Hang Đắng, rừng Cúc Phương, có niên đại C14 = 7.665 năm cách ngày nay, nên cho gốm nói chung, và gốm Văn Thừng nói riêng là sản phẩm của thời kỳ Văn Hóa Bắc Sơn hay Văn Hóa Hòa Bình muộn là lúc mà người Hòa Bình đã thuần hóa cây lúa nước và nghề nông bắt đầu phát triển.

3 – Kiến giải thứ ba của Ông Trương Quang Trực chủ trương có thể gốm Văn Thừng phía Nam Trung Hoa, cụ thể là của Văn hóa Cồn Sò, Đông Hưng, vùng ven biển Quảng Đông, tiếp giáp với Việt Nam đã là nguồn gốc của gốm Cổ Việt.

BƯỚC THỨ BA : KIẾN GIẢI CỦA CHÚNG TA

Ba lối kiến giải trên có mâu thuẫn nhau không ? Nói cách khác, phải hình dung sự phát triển của gốm ở Việt Nam như thế nào là sát sự thực nhất ?

Trước hết lối kiến giải của các học giả Việt Nam là rất đáng trân trọng vì nó phù hợp với tinh thần khoa học là phải có vật chứng mới có thể kết luận.

Và nếu cho rằng có vật chứng mới là khoa học thì sự kiến giải của các học giả Việt Nam đưa đến sự kiến giải của học giả Trương Quang Trực cũng là sự tất nhiên.

Tuy nhiên khoa học đây chỉ là khoa học có tính cục bộ, dựa thuần trên kết quả của sự khảo sát những di chỉ khảo cổ có khi thực hiện chưa đến mức. Đây không phải là lỗi tại ai. Phải hiểu rằng khảo cổ Việt Nam còn rất non trẻ lại phải thực hiện trong điều kiện khoa học và vật chất còn rất thiếu thốn.

Đặc biệt hơn nữa là trong phạm vi đồng bằng Bắc phần và Bắc Trung phần, lại phải lưu ý đến một yếu tố vô cùng quan trọng là biển tiến. Bởi sự kiện hết sức quan trọng này nên trước khi đưa ra kiến giải riêng, tưởng ta cần dừng lại xét về hiện tượng biển tiến trước đã. Có thể trình bầy hiện tượng biển tiến tuần tự như sau :

Từ hơn một phần tư thế kỷ trước, khi học giả R. W. Fairbridge nghiên cứu về hiện tượng biển tiến trong thời kỳ Flandrian, nhà bác học thiên tài M. Colani, chỉ bằng vào sự nghiên cứu các trầm tích khi phát hiện các địa điểm Đa Bút và Giáp Khẩu, năm 1931, đã đưa ra được giả thiết đồng bằng sông Hồng có thể là một vịnh biển cũ. Năm năm sau, vào năm 1936, học giả P. Gourou, cũng cùng một quan niệm như vậy đã đưa ra ý kiến về hai giai đoạn của đồng bằng sông Hồng, một giai đoạn mực nước biển thấp và một giai đoạn nước biển cao tương ứng với thời kỳ băng hà Wiirm cuối cùng tan. Nhưng phải đợi đến 1958, khi R. W. Fairbridge cho công bố tham luận “Ghi chú về những vận động cuối cùng của mực nước biển Đệ Tứ kỳ” (Viện Hàn Lâm Khoa Học New York 1958, T.20, trg 478 – 482). Theo tham luận này, khoảng 18.000 năm trước lúc nước biển bắt đầu tăng vì băng hà Wiirm bắt đầu tan, mực nước biển thấp hơn ngày nay khoảng 100m, bờ biển ở Vịnh Bắc phần lúc đó kéo dài đến tận đảo Hải Nam. Nước biển mỗi năm tiến khoảng 10mm, vì vậy đến khoảng 8.000 năm, nước biển tương đương với mực nước ngày nay.

Mười bốn năm sau, H. Fontaine đã nghiên cứu bổ túc vấn đề này. (Mức nước biển kỳ Đệ Tứ ở Việt Nam, trong Việt Nam địa chất khảo lục, Saigon 1972). Tuy nhiên hệ lụy của việc biển tiến thì hình như chưa có ai nghiên cứu đến một cách qui mô và từ bấy đến nay, hình như cũng chưa có cuộc nghiên cứu đầy đủ nào về vấn đề tối quan trọng này. Phải nói ngay là hiện tượng biển tiến là hiện tượng chung trên thế giới. Tại vùng Đông Nam Á gần đây vẫn còn nhiều học giả danh tiếng nghiên cứu về vấn đề này (J. Gibbons and F. Clunie “Sea level changes and Pacific prehistory – Journal of Pacific History, 21, 1986 – P. Bellwood “The Impact of sea level changes on Pacific prehistory – Journal of Pacific HIstory 22, 1987). Việc khảo sát đã đưa đến những kết quả tương tự như R. W. Fairbridge, tuy có những chi tiết cụ thể hơn như vào khoảng 40.000 năm cách ngày nay mức nước biển thấp hơn ngày nay 50m, lúc đó các đảo Bornéo, Sumatra và Java cũng đã dính liền vào lục địa Âu – Á (Eurasia). Đến 18.000 năm cách ngày nay nước biển xuống đến độ thấp nhất là 130m thấp hơn ngày nay. Sau đó nước biển lại bắt đầu dâng lên do ảnh hưởng của băng hà Wiirm tan, mỗi năm cao thêm 10mm. Khoảng 8.000 năm cách ngày nay, nước biển đã tương đương với mực biển bây giờ và biển còn tiếp tục dâng đến 6.000 năm cách ngày nay thì cực đại, rồi mới bắt đầu rút dần.

image021image023

Ảnh hưởng của biển tiến đối với nhân loại thời đó là có thực và rất quan trọng. Điều này thì không ai phủ nhận. Nhưng mức độ quan trọng đến thế nào thì lại là điều không được sự đồng ý của các học giả nghiên cứu. Nay chỉ giới hạn sự thảo luận tại miền nay là Bắc phần và Bắc Trung phần Việt Nam, cũng đã thấy có nhiều ý kiến khác biệt. Xin đơn cử nhận xét của hai vị có uy tín và trách nhiệm về khảo cổ Việt Nam : thứ nhất, GS. Phạm Huy Thông, nguyên Viện Trưởng đầu tiên của Viện Khảo Cổ, nhận định “Nước biển dâng dần cả vạn năm (từ 17.000 năm đến 7.000 năm trước) mang tên đợt Flandrian, được phần lớn chúng ta nghĩ là không thể không ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống đương thời; có thể chính nó đã là động lực cấp bách, thôi thúc con người đi đến nghề nông – sơ khai – để tránh diệt vong” (KCH 1 -2/1984, trang 157), và thứ hai, theo GS. Hà Văn Tấn, đương kim Viện Trưởng Viện Khảo Cổ, thì tuy việc biển tiến có làm tăng dân số và giảm môi trường sinh sống thực, nhưng có là sự thúc đẩy cho việc ra đời và phát triển nông nghiệp hay không thì không có cơ sở khoa học để chứng minh (Hà Văn Tấn 1986 : 84).

Có cần nói thêm rằng việc biển tiến ở Bắc phần Việt Nam so với các nơi khác trong vùng Đông Nam Á còn đặc biệt hơn nhiều vì được sự phối hợp của ba yếu tố chỉ riêng vùng này mới có là:

Một là : Biển Đông ở vùng Vịnh Bắc phần là một biển kín thường được gọi là nội hải, lại rất nông, nơi sâu nhất với mực nước biển ngày nay cũng thường không quá 100m (KCH).

Hai là : Khi nước biển bắt đầu lui, nghĩa là vào khoảng từ 6.000 năm cách ngày nay, đặc biệt đã có một chuyển động nhô cao của móng đất dọc theo sông Hồng. Móng này nằm sâu dưới mặt đất khoảng 30km như lưng một con rồng, chiều dài khoảng 100km, chiều rộng khoảng vài chục cây số, nằm song song theo trục sông Hồng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ Phú Thọ đến quá Hà Nội ngày nay (Huỳnh Ngọc Hương – KCH 1984/4, trang 13).

Ba là : là lượng phù sa sông Hồng. Như trên đã nói, cửa sông Hồng khoảng 18.000 năm trước ở mãi đâu đó gần đảo Hải Nam. Đến khoảng 6.000 năm trước, khi nước biển bắt đầu rút thì cửa sông ở ngay vùng Việt Trì, Phú Thọ, sông Hồng bị rút ngắn lại khoảng mấy trăm cây số, độ dốc thực cao lượng nước chẩy ra biển mạnh mẽ chưa từng có, bào thực mạnh lòng sông và đẩy một số lượng phù sa lớn lao vô cùng ra cửa, giúp vào việc lấp đầy những chỗ lõm, những đầm lầy nay thuộc vùng thủ đô Hà Nội, một cách nhanh chóng hơn dự trù.

Cả ba hiện tượng trên phối hợp với hiện tượng biển rút từ 6.000 năm trước đây đã giúp tái lập châu thổ sông Hồng và đồng bằng Bắc Việt lần hai một cách nhanh chóng đặc biệt không nơi nào có. Sự tái lập vùng này có thể được phác họa theo bản đồ sau đây:

image025

Để cho dễ hiểu được hiện tượng đặc biệt này, ta hãy hình dung : trên 4.000 năm trước, khi vua Hùng dựng nước thì bờ biển còn lên tận Việt Trì và kinh đô vua Hùng cũng ở đâu đó vùng gần bờ biển! Thành Hà Nội, cố đô Thăng Long của chúng ta lúc đó còn chìm trong lòng biển cả 3.000 năm trước bờ biển chỉ cách Hà Nội nay chừng vài chục cây số trong khi Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, Nam Định hãy còn là biển. Khi vua Thục xây thành Cổ Loa trên 2.000 cách ngày nay, phần lớn tỉnh Nam Định, Thái Bình và ngay cảng Hải Phòng vẫn còn dưới làn nước biển. Đến thời Nguyễn Công Trứ, hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải (Thái Bình) mới bắt đầu được thành lập! Bởi vậy, việc biển tiến phải hiểu có thể đã có ảnh hưởng đặc biệt với người Cổ Việt hơn với cư dân ở bất cứ nơi nào khác.

Nay, dựa vào kiến thức biển tiến, ta hãy thử khảo sát lại cương vực của các nền văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình, và từ đó suy ra một kiến giải cho sự xuất hiện của gốm Văn Thừng,

Địa bàn sinh hoạt của cư dân Sơn Vi, theo quan niệm cổ điển, bao trùm phía Bắc từ Lào Cai xuống phía Nam đến vùng Thanh Hóa (Con Mong); phía Tây từ Sơn La (Nậm Tum) đến vùng thung lũng Lục Nam tỉnh Hà Bắc ở phía Đông. Việc định địa bàn của Văn Hóa Sơn Vi chắc dựa vào những di chỉ người ta đã đào được di vật đặc trưng cho văn hóa này. Vậy địa bàn của Văn Hóa Sơn Vi bao gồm vùng đồi núi Bắc Việt và Bắc Trung phần ngày nay đến vùng trung du nơi xưa kia không bị chìm dưới biển cả, trong thời gian biển tiến, (khoảng từ 8.000 năm đến 4.000 năm trước đây). Về thời gian, tuổi của Văn Hóa Sơn Vi (không kể Nậm Tum, có thể có tuổi trên 35.000 năm theo Boriski), xưa nhất hiện đo được bằng phóng xạ C14 là Thẩm Khương có niên đại 33.000 ± 2500 BP (Bln – 1412/11). Thời kỳ thịnh đạt nhất của Sơn Vi C14 cách nay 18.390 ± 125BP (Bln – 1735/1). Ở thời điểm này, bờ biển Bắc phần kéo dài đến tận đảo Hải Nam, và trước mắt người Sơn Vi hiện ra một cánh đồng tuyệt đẹp, với những đồng cỏ đến tận chân trời, những rừng cây nhiệt đới đầy rẫy thú hoang, hoa thơm, trái ngọt. Có lý gì buộc người Sơn Vi phải dừng chân ở vùng trung du mà không tràn xuống sinh sống tại đồng bằng tuyệt hảo này ? Phải chăng chỉ vì người ta không tìm thấy di chỉ khảo cổ chứng tích của sự sinh sống của người Sơn Vi ở vùng đồng bằng mà khẳng định địa bàn sinh hoạt của người Sơn Vi chỉ giới hạn ở vùng Lục Nam, Vĩnh Phú, vùng trung du ? Nhưng làm sao có thể tìm ra chứng tích trong những di chỉ đã chìm sâu dưới biển cả hàng nhiều ngàn năm, nhất là trong hoàn cảnh nền khảo cổ tương đối còn non trẻ của Việt Nam, lại thiếu thốn đủ thứ : phương tiện, chuyên viên, tài chính ?

Về niên đại, người ta cho Văn Hóa Sơn Vi có trước Văn Hóa Hòa Bình, trong khi về đặc trưng, người ta biết tuyệt đại đa số cư dân Sơn Vi sống ở ven rìa đồng bằng, trên các thềm cổ các sông và sống ngoài trời, còn tuyệt đại đa số cư dân Hòa Bình sống trong các hang động. Phải chăng sống trong hang động là một hình thái tiến bộ hơn, văn minh hơn sống ngoài trời ?! Sao không có thể hiểu việc sống trong hang động chỉ là việc chẳng đặng đừng khi môi trường sinh thái đã bị nước biển lấn chiếm ? Sở dĩ cư dân Hòa Bình sống trong hang động, trước hết là muốn bám trụ nơi quê cũ mà không muốn di cư đi nơi khác : bám trụ trên hang động Hạ Long lúc này đã nằm trên mặt nước, bám trụ trong hang động Hòa Bình nơi đủ cao để không bị nước biển đe dọa.

Những cư dân không muốn bám trụ chắc đã di đi nơi khác. Nậm Tum là một thí dụ. Qua chứng tích trong di chỉ khảo cổ này, người ta biết được đã có hai lớp cư dân sống tại đó cách nhau cả mươi ngàn năm : lớp trước thuộc Văn Hóa Sơn Vi tương ứng với thời biển tiến, dù nước biển còn xa ngoài biển Đông. Có thể người quá lo xa cũng bắt đầu bỏ quê hương đi tìm đất sống mới sâu trong lục địa. Lớp sau thuộc Văn Hóa Phùng Nguyên, tương ứng với thời biển lui, có thể con người các nơi lại lục tục kéo nhau về đồng bằng mới tái lập lại.

Vả chăng niên đại cổ nhất của Văn Hóa Sơn Vi (Thẩm Khương) với niên đại cổ nhất của Văn Hóa Hòa Bình (Thẩm Khuyên) cũng xấp xỉ như nhau. Vì vậy phân biệt Văn Hóa Sơn Vi với Văn Hóa Hòa Bình có ích lợi gì cho việc tìm hiểu văn hóa ngoài vấn đề cho tiện việc khảo sát về kỹ thuật ?

Gia dĩ, cụm từ “Văn Hóa Hòa Bình”, cũng không còn giữ cái ý nghĩa về không gian cũng như về thời như khi mới phát minh ra nó nữa. Nếu, khi Văn Hóa Hòa Bình được học giả M. Colani đề xuất và được chấp nhận tại Hội Nghị Khảo Cổ ở Hà Nội năm 1932 chỉ có tầm ảnh hưởng ở ba nước Đông Dương và khung thời gian ngược lên đến 5.000 năm trước thì nay nó càng ngày càng vượt xa cái khung đó nhiều. Về không gian, có thể Mathews là người đầu tiên đã nới rộng ảnh hưởng của Văn Hóa Hòa Bình ra các nước Đông Nam Á, Aigner đưa ảnh hưởng của nó đến Tứ Xuyên, các học giả Đại học Tân Tây Lan và Úc đã đưa ảnh hưởng của nó đến hầu hết các đảo phía Nam Thái Bình Dương. Nhưng không ai đưa xa bằng GS. W. G. Solheim II, đã đẩy biên cương Văn Hóa Hòa Bình, Đông đến Nhật Bản, Tây đến Ấn Độ, Nam đến Úc Châu và phía Bắc bao trùm cả hai nền Văn hóa Long Sơn, Ngưỡng Thiều. Về khung thời gian, nó không còn giới hạn ở 5.000 năm mà đã lên đến 50.000 năm và còn muốn đi xa hơn nữa! Văn Hóa Hòa Bình gần như đồng nghĩa với văn hóa của con người Hiện Đại (Homo -Sapiens-Sapiens) từ khi họ đến vùng đất Đông Nam Á này, dù về phương diện khảo cổ, người ta chưa tìm được đủ di vật để minh chứng điều đó.

Xem như vậy thì ý kiến của GS. W. G. Solheim II là ý kiến đáng lưu ý nhất và cũng khoa học nhất, khoa học vì dù chưa có những vật chứng là những mảnh gốm chứng minh nhưng nó đã dựa vào sự phối hợp liên ngành từ di truyền học DNA đến ngôn ngữ học, khảo cổ học (về đồ đá, đồ đồng … ) nhân chủng học, dân tộc học … để đưa đến kết luận chung là con người (Đông Phi di cư đến Đông Nam Á) từ Văn Hóa Hòa Bình đã di cư đi các nơi khác : lên phía Bắc, xuống phía Nam, ra Hải đảo … và họ đã mang theo những phát minh đến những vùng đất mới. Ở đây là gốm Văn Thừng. Chúng ta có thể tạm phác họa những nét đại cương của sự phát triển gốm Văn Thừng theo bước chân người Hòa Bình như sau :

  • Giai đoạn 1 : khoảng 15.000 năm trước, từ hậu kỳ đá cũ chuyển sang sơ kỳ đá mới, trong phạm vi Văn Hóa Hòa Bình, bao trùm cả phần đất nay là Bắc Phần Việt Nam, phần Bắc Thái Lan, phần Nam các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây Trung Hoa ngày nay, người cổ Hòa Bình đã phát minh ra gốm Văn Thừng do nhu cầu của kinh tế bắt đầu chuyển từ săn bắt sang sản xuất, nhất là nhu cầu phải nấu chín những thực phẩm sống dưới nước như ốc, cá, sò, cua … vừa tanh vừa khó làm chín dưới hình thức nướng như thịt động vật.
  • Giai đoạn 2 : Như chúng ta đã biết, (xin xem bài “Khái niệm về biển tiến ở Việt Nam”, Tập San TƯ TƯỞNG số 3, tháng 7/1999), biển tiến từ 18.000 năm cách ngày nay, lúc đó bờ biển vươn đến tận đảo Hải Nam (mỗi năm tiến trung bình 10mm). Khoảng 10.000 năm trước, cư dân Hòa Bình ở vùng Bắc phần Việt Nam nay chắc đã phải nghĩ đến việc đi nơi khác hoặc trụ tại những vùng cao như hang đá ở Vịnh Hạ Long hay ở vùng Hòa Bình. Khoảng 8.000 hay 7.000 năm trước, toàn bộ đồng bằng Bắc phần ngày nay đã chìm dưới biển. Những gốm Văn Thừng làm thời này, chỉ là loại gốm được nung ngoài trời ở nhiệt độ thấp (khoảng 400° ) nên, trừ những gốm được chôn sâu dưới đất, những gốm khác chắc đều bị nước biển làm tan rã cả.
  • Giai đoạn 3 : Khoảng từ 6.000 năm trước đây, nước biển bắt đầu rút, trả lại đồng bằng Bắc phần từng bước để chừng ngàn năm trước, mới có hình thức tương tự như ngày nay (xin chú ý hiện tượng Nguyễn Công Trứ lập hai huyện Kim Sơn, Tiền Hải). Khi biển rút, người Cổ Việt ở muôn phương lại kéo về đồng bằng Bắc phần đang được tái lập : từ miền Nam vùng Quảng kéo ra; miền Đông các hang động Vịnh Hạ Long kéo tới; miền Tây các vùng cao từ biên giới Ai Lao kéo xuống; và tất nhiên không thể thiếu những người từ vùng lân cận phương Bắc nay thuộc các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây Trung Hoa kéo sang. Xin nói ngay đây không phải là người Hoa. Đây chính là người thuộc Văn Hóa Hòa Bình, thuộc Đại tộc Bách Việt có thể vì nước biển dâng trong thời gian trước, ở phần đất nay là Bắc phần Việt Nam đã tránh nước biển tiến mà kéo lên phương Bắc. Lúc này chưa có nước Trung Hoa mà cũng chưa có nước Việt. Vậy giả thiết của ông Trương Quang Trực có thể có một phần sự thực. Những người từ phương Bắc kéo về phải đem theo những dụng cụ tùy thân, trong đó có thể có những gốm thiết dụng. Nhưng kỹ thuật làm gốm thì họ đã thông hiểu từ trước dù đó là người miền Bắc kéo xuống, miền Đông, miền Tây kéo về hay miền Nam kéo ra. Họ thông hiểu vì tổ tiên họ có thể là tổ tiên chung đã biết kỹ thuật này từ khi chưa di đi các nơi khác từ nhiều ngàn năm trước, nghĩa là có thể từ 15.000 năm cách ngày nay như giả thiết của W. G. Solheim II !

Khó mà có thể hình dung người Hòa Bình (có thể coi như từ vùng trung tâm phía Bắc Việt Nam, Thái Lan và phía cực Nam Trung Hoa ngày nay) đã từ Văn Hóa Hòa Bình di đi các nơi mang theo những phát minh của mình (phát minh vật chất như rìu đá, đồ đồng; phát minh kỹ thuật như sự thuần hóa thực vật kể cả trồng lúa nước, thuần hóa gia súc, kỹ thuật dùng thuyền … ; tục lệ như tục thờ cúng tổ tiên, tục chôn cất người chết theo lối bó gối, tục cưới gả, cả tục ăn trầu, xâm mình và tiếng nói) đi nơi khác, mà riêng đồ gốm lại không biết, lại phải đợi khi tái định cư lần thứ hai tại đồng bằng Bắc phần mới học được của hậu duệ mình, từ nơi khác di cư đến chỉ dậy cho !

Solheim II W. G. dù chưa có đủ vật chứng về gốm đào được tại phần đất nay là Việt Nam, nhưng bằng cái nhìn tổng hợp liên ngành tưởng ông đã có lối nhìn gần với sự thực nhất.

KẾT LUẬN

Như trên đã nói, kiến giải của các học giả Việt Nam là rất đáng trân trọng, phù hợp với quan niệm kết luận của khoa học phải có vật chứng ở đây là gốm tại chỗ và niên đại C14 của nó. Về điểm này, không ai phủ nhận công của các nhà khảo cổ Việt nam trong việc tìm về cội nguồn dân tộc là rất lớn và mỗi người chúng ta đều phải chịu cái ơn về công lao khó nhọc này. Nếu khoa khảo cổ tại Việt Nam coi như đã đạt tới mức và sự khảo cứu của các di chỉ đồ gốm coi như đã hoàn chỉnh, niên đại gốm coi như sát sự thực nhất thì kết luận này là tuyệt đối không còn gì phải bàn cãi. Nhưng nếu theo ngay các học giả Việt, việc tìm hiểu gốm ở phần lãnh thổ nay là nước Việt Nam còn cần phải có sự khảo cứu thêm, thám quật thêm nhiều di chỉ thì mới có thể đi gần đến sự thực thì vấn đề như vậy lại khác. Ai trong chúng ta cũng biết sự khảo sát này không phải không gặp những khó khăn : khó khăn vì thiếu ngân khoản nên kỹ thuật chưa tốt, phương tiện chưa đủ cũng có, khó khăn vì nhu cầu phát triển kinh tế nên nhiều di chỉ khảo cổ quan trọng đã hay đang chìm sâu xuống đáy các hồ thủy điện hay đang làm mồi cho các công trình kiến trúc nhà máy; đang bị đào xới tan nát vì các công trình khai thác quặng mỏ cũng có. Vả chăng, Việt Nam chưa có kỹ thuật khảo sát những di chỉ chìm sâu dưới lòng nước. Sự khảo sát các di chỉ khảo cổ như vậy xem ra chưa đạt tới mức hoàn bị, và xem chừng cũng còn đòi hỏi lắm công phu mới mong tiếp cận sự thực. Vì vậy, chúng ta chưa có cách gì để tìm biết có hay không có những mảnh gốm tại những nơi xưa kia khoảng từ 8.000 đến 5.000 năm hay 4.000 năm trước đây khi phần lớn đất đai mầu mỡ nhất thuộc miền Bắc Việt Nam bị chìm sâu dưới biển cả.

Bởi vậy, ta có thể hoàn toàn đồng ý với một số học giả Việt Nam khi hiểu Văn Hóa Hòa Bình là văn hóa hang động, văn hóa của người Sơn Vi khi đã phải co cụm lại vì biển tiến và cư ngụ tại những vùng cao như các hang động vùng Vịnh Hạ Long nay đã là hang động của những núi đá vôi nằm trơ trọi giữa biển cả hay hang động Hòa Bình. Văn hóa này tất nhiên chỉ mới có trên dưới 10.000 năm khi nước biển đang tràn ngập đồng bằng Bắc phần. Tuy nhiên, nếu hiểu Văn Hóa Hòa Bình theo nghĩa rộng bao gồm cả Văn Hóa Sơn Vi, cả Tiền Sơn Vi thì lại khác. Con người thái cổ lúc đó đã có một đồng bằng tuyệt đẹp trải dài đến tận đảo Hải Nam, tất nhiên đã tạo dựng được một nếp sống văn hóa thích hợp. Cái đồng bằng tuyệt đẹp đó có thể coi như cái nôi của văn hóa cứ tạm gọi là Văn Hóa Hòa Bình theo nghĩa rộng. Quảng Đông, QuảngTây ở phía Bắc, Non Nok Tha, Hang Thần ở phía Tây coi như phần ngoại biên của cái nôi văn hóa này. Vậy khi Quảng Đông đã có gốm Văn Thừng vào gần 13.000 năm BP, Hang Thần cũng có gốm Văn Thừng 8.600 năm trước không lẽ tại cái nôi là Văn Hóa Hòa Bình, Văn Hóa Sơn Vi hay Tiền Sơn Vi này lại không có gốm Văn Thừng ít ra là cùng thời gian tương tự với các vùng ngoại biên hay sao ? Việc chưa tìm ra chứng tích của gốm này là bởi phần đất thuộc văn hóa đó đã chìm sâu trong biển cả nhiều ngàn năm và bởi ta tìm kiếm chưa đủ chứ chưa thể kết luận là không có.

Có lẽ cũng cùng một quan điểm như vậy mà một số học giả quốc tế, đại diện bởi GS. W. G. Solheim II đã giả thiết gốm Văn Thừng Hòa Bình phải có niên đại là 15.000 năm cách ngày nay vậy.

Kiến giải của GS. W. G. Solheim II và các học giả cùng lập trường với ông tuy có điểm yếu là thiếu vật chứng để hậu thuẫn cho quan điểm gốm Văn Thừng đã có khoảng từ 15.000 năm trước. Tuy nhiên, nhận định này của ông không phải có vì cảm tính mà hoàn toàn có tính cách khoa học. Khoa học đây là khoa học liên ngành. Liên ngành không chỉ nên hiểu là sự hợp tác của các học giả nhiều ngành ngồi lại với nhau, mà hiểu theo nghĩa rộng là cái vốn sở đắc nhiều ngành của nhà học giả nghiên cứu.

Do đó, để bổ khuyết cho việc tìm câu giải đáp cho nan đề này, tưởng có ba việc cần phải thực hiện :

Thứ nhất : Chính quyền Việt Nam phải khuyến khích việc tìm thêm những vật chứng về gốm bằng cách cung cấp ngân khoản, phương tiện, và quyền hạn để những nhà khảo cổ Việt Nam thực hiện việc thám quật những di chỉ có hi vọng cung cấp những mảnh gốm có niên đại cổ hơn niên đại hiện có, đặc biệt phải có được kỹ thuật khảo sát các di chỉ ở sâu trong lòng nước.

Thứ hai : Chính quyền phải phát động việc tìm hiểu hiện tượng biển tiến và những hệ lụy của nó (từ 18.000 năm đến 4.000 năm trước) vì nó có ảnh hưởng quan trọng không những đến sự phát minh ra đồ gốm mà còn ảnh hưởng đến sự nghiên cứu văn hóa và nguồn gốc dân tộc nữa.

Thứ ba : Và phải đào tạo cho được nhiều học giả liên ngành.

Chẳng cần phải đợi đến Lênin hay là thuyết duy vật sử quan cho rằng các hình thái kinh tế là do ảnh hưởng của kỹ thuật sản xuất hay của chức năng các dụng cụ sản xuất mà ra; chúng ta ai cũng hiểu được rằng có mối tương quan khăng khít giữa các hình thái kinh tế nói riêng và giữa một nền văn minh hay văn hóa nói chung với các qui trình sản xuất. Việc người Hòa Bình đã có những tiến bộ trong việc sản xuất đồ gốm, cũng như trước kia đã có những phát minh quan trọng trong việc làm ra những công cụ bằng đá và sau này có những đóng góp quan trọng trong kỹ nghệ đồng thau, đã đóng góp cho việc thúc đẩy nền văn minh tại Đông Nam Á nói riêng và nền văn minh của nhân loại bước được những bước tiến lớn hơn trên con đường đi đến văn minh như ngày nay là điều khẳng định rõ rệt. Những phát minh về kỹ thuật này, những đóng góp cho nền văn minh của nhân kloại này, đã làm thay đổi bộ mặt của nhân loại phương Đông nói riêng và của toàn cầu nói chung. Bởi vậy, nên nhà bác học Chesno đã có một kết luận thoạt nghe thì rất lạ, nhưng suy ngẫm sẽ thấy có một tầm mức vô cùng quan trọng là :”Trung Hoa trước đời Nhà Thương, được thành lập do sự đóng góp (ông dùng danh từ patronage) của văn hóa phương Nam, và sau đó bành trướng và tiến bộ lại do văn hóa Tây phương “ (Chesno 1977 : 133). Câu hỏi là : phương Nam đây là từ đâu ? Và câu trả lời đã được học giả W. G. Solheim II người Mỹ và những môn đệ của ông cũng như học giả Needham và gần đây rất nhiều học giả khác trả lời rõ ràng : đó là Văn Hóa Hòa Bình, trong đó có sự đóng góp của gốm Văn Thừng vậy.

Cung Đình Thanh.
Bài viết được đăng trên Tập san Tư Tưởng số 12.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.