Trong các ghi chép lịch sử của Việt Nam, ta có thể bắt gặp những ghi chép của các triều đại Việt Nam nói về trung hoa, trung quốc, trung châu, Hán nhân… Đây là các khái niệm có nguồn gốc từ Nho giáo, từ trung tâm là Trung Quốc, chúng đã lan tỏa sang các quốc gia chịu ảnh hưởng của nền văn hóa này, bao gồm các quốc gia hiện đại: Việt Nam, Nhật Bản và Triều Tiên.
Việc sử dụng các khái niệm này trong lịch sử Việt Nam đang được một bộ phận sử dụng làm dẫn chứng để khẳng định rằng người Việt có nguồn gốc từ Trung Quốc. Nhưng có thực các khái niệm đó ám chỉ về nguồn gốc dân tộc hay không? Bài viết này sẽ làm rõ về ý nghĩa thực sự các khái niệm đó.
1. Tại sao các triều đại trước Nguyễn lại gọi là vùng đất của mình trung hoa, trung quốc?
Trong các ghi chép lịch sử của Việt Nam, một số triều đại Việt Nam gọi vùng đất của mình là trung hoa, trung quốc, trung châu hay trung nguyên.
Như trong Dụ chư tỳ tướng hịch văn (được biết tới nhiều nhất với tên Hịch Tướng Sĩ), Trần Quốc Tuấn đã viết: “爾等為中國之將侍立夷酋而無忿心” – “Các ngươi là tướng trung quốc, thờ phụng giặc man di mà không thấy căm phẫn sao”.
Đây thực ra đơn giản chỉ là một câu chuyện về sự ảnh hưởng văn hóa, xuất phát từ tư tưởng Hoa Di, theo đó các khái niệm như trung hoa, trung quốc được sử dụng để chỉ vùng đất văn minh, ở đó có những người văn minh, có lễ giáo, khác với Tứ Di ở bốn phía.
Đó là một dạng tư tưởng thượng đẳng, tự cho mình là trung tâm của người Trung Quốc, quãng thời gian độc lập, các triều đình Việt Nam phải tiếp nhận thể chế chính trị từ Trung Quốc, tiếp nhận kinh sách từ Trung Quốc, từ đó cũng tiếp nhận luôn tư tưởng về Hoa Di.
Đất nước ta chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, nhưng vẫn là một nước độc lập, tự chủ, nên các vương triều của Việt Nam đều xưng đế (ngoại vương nội đế), và cũng từ đó xem mình là văn minh không thua kém Trung Quốc, nên đã gọi trung tâm đất nước của mình là trung hoa, trung quốc, trung nguyên, hàm ý rằng vùng đất trung tâm đó là văn minh không thua kém gì người Trung Quốc.
Và thực tế thì cũng không chỉ người Việt gọi đất của mình là trung quốc, trung hoa, mà các quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc là Nhật Bản, Triều Tiên đều nhận như vậy cho vùng đất của mình.
Tư gián Jo Kyeong (趙絅), người Triều Tiên, đã viết như sau: “我國素以禮義聞天下,稱之以小中華,而列聖相承,事大一心,恪且勤矣。今乃服事胡虜,偷安僅存,縱延晷刻,其於祖宗何,其於天下何,其於後世何? – “Nước ta xưa nay nổi danh thiên hạ bởi có lễ nghĩa, được gọi với tên tiểu trung hoa, kế thừa liệt thánh, thờ nước lớn một lòng, cung kính cẩn thận, nay phụng sự giặc Hồ, trộm yên tạm” (Trần, 2013)
Matsumiya Kanzan (松宮 観山), binh pháp gia Nhật Bản nói: “竊為本邦之古,文獻大備,自稱中州,指彼西藩。内外之分,體制尤嚴矣” – “Trộm nghĩ, nước ta từ xưa văn hiến đã đủ đầy, tự xưng là trung châu, gọi nước kia (chỉ Trung Quốc) là Tây phiên (phên giậu phía Tây). Sự phân biệt trong ngoài, thể chế rất là nghiêm ngặt.” (Trần, 2013)
Từ đó có thể thấy được đây là một hệ tư tưởng phổ biến trong vòng ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. Xuất phát điểm của nó hoàn toàn không ám chỉ cụ thể đất nước hay dân tộc nào, mà nó đơn thuần ám chỉ tới vùng đất, tới những người mà người Trung Quốc đã gắn với khái niệm về sự khai hóa hay là văn minh.
Các nền văn hóa khác chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đã tiếp nhận những ý niệm đó, và sử dụng trong các ghi chép lịch sử của mình để tỏ ý mình là văn minh không thua kém Trung Quốc. Dùng các thông tin này để khẳng định người Việt bị đồng hóa, bị Hán hóa hay tuyên bố người Việt có nguồn gốc từ Trung Quốc là hoàn toàn không có cơ sở.
2. Tại sao nhà Nguyễn lại nhận là Hán nhân?
Trong các tài liệu lịch sử của nhà Nguyễn, trong đó tiêu biểu là bộ Đại Nam thực lục, các sử gia triều Nguyễn đã gọi người Việt là “Hán nhân”. Nguyên nhân của vấn đề này cũng rất dễ hiểu, nếu ta nhìn vào tình hình lịch sử thời đó.
Vào thời kỳ nhà Nguyễn, người Mãn Thanh đã lên cai trị Trung Quốc, đối với triều đình nhà Nguyễn, Mãn Thanh là man di, mọi rợ, nên khi ấy nhà Nguyễn đã tự nhận là Hán nhân, ý là muốn thể hiện mình mới là văn minh chính thống, còn nhà Thanh chỉ là man di. Đó cũng là một phần của hệ tư tưởng Hoa Di vốn bị ảnh hưởng từ tư tưởng của Trung Quốc.
Đại Nam thực lục chép như sau: “Vua (Minh Mạng) bảo rằng: “Nhà Đại Thanh, tiên tổ là người Mãn…. Kể người Mãn là mọi rợ mà còn như thế…” (Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, 2008, tr 348)
Trong thời nhà Nguyễn, cũng chứng kiến sự hiện diện của một số yếu tố văn hóa quan trọng của Trung Hoa: cửu đỉnh (vốn là biểu trưng cho quyền lực đế vương của người Hoa Hạ), cùng rất nhiều đồ ngọc mang phong cách Trung Quốc, vốn cũng mang ý nghĩa quyền lực quan trọng của các vương triều Trung Quốc.
Nhìn chung, đó đơn giản chỉ là một cách tự xem mình là văn minh, kế thừa văn hóa Trung Quốc của nhà Nguyễn, trong bối cảnh lịch sử thời kỳ đó, và những ảnh hưởng về mặt chính trị, văn hóa của Trung Quốc đối với Đại Việt, thì đó là điều rất bình thường. Hoàn toàn không phải bởi nhà Nguyễn có nguồn gốc từ Trung Quốc nên mới nhận làm Hán nhân.
3. Tại sao Chiếu Dời Đô, Hịch Tướng Sĩ lại đề cập các tích và nhân vật lịch sử Trung Quốc?
Câu trả lời cũng rất đơn giản: đó là một sự ảnh hưởng về mặt văn hóa. Những người viết nên các tác phẩm đó là Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, bản thân họ thuộc tầng lớp tinh hoa, được tiếp xúc với kinh sách của Nho giáo, cũng như tiếp xúc nhiều với lịch sử Trung Quốc, mà như ta đã biết, lịch sử Trung Quốc nói chung rất giỏi ghi chép và mô tả lại những tấm gương để thành điển tích cho các thế hệ sau nhắc tới. Vì lý do đó, nên câu chuyện Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn lấy các tích và các nhân vật lịch sử Trung Quốc cho các tác phẩm của mình là bình thường.
Hơn nữa thời kỳ đó, Trung Quốc là trung tâm của Đông Á, có sức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, các triều đại và nhân vật lịch sử Trung Quốc cũng được các quốc gia trong vòng ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc rất xem trọng, như chúng ta đã thấy, các ghi chép cho thấy người Triều Tiên, Nhật Bản cũng nhận mình là trung hoa, trung châu, thậm chí người Triều Tiên còn nhận mình làm “tiểu trung hoa”. Do đó, chúng tôi cho rằng không chỉ lịch sử Việt Nam, mà cả lịch sử các quốc gia Nhật Bản, Triều Tiên cũng có thể nhắc tới những tích, nhân vật có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Và một lý do khác để ta có thể hiểu được tại sao lại dẫn nhiều tích Trung Quốc như vậy, là lúc ấy lịch sử của đất nước ta mới giành lại được độc lập trong vài trăm năm, nên lịch sử chưa có nhiều sự kiện có thể đưa vào. Trong thời kỳ nhà Lê, khi giành lại được độc lập cho đất nước, Nguyễn Trãi đã viết nên tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo, trong đó có nhắc tới các triều đại và sự kiện lịch sử Việt Nam, ví dụ như “Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô/ Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã” (Bản dịch của Ngô Tất Tố).
Nhìn chung, đó là những lý do cơ bản và dễ hiểu về vấn đề tại sao các văn bản cổ này lại đưa các tích và nhân vật Trung Quốc vào. Đó hoàn toàn không phải cơ sở để khẳng định về nguồn gốc dân tộc, đơn thuần chỉ là sự ảnh hưởng về mặt văn hóa mà thôi.
4. Về bài thơ “Đáp bắc nhân vấn An Nam phong tục” của Hồ Quý Ly:
Theo những ghi chép từ Việt âm thi tập, do Phan Phu Tiên, Chu Xa biên soạn, Lí Tử Tấn bình điểm. Trong tác phẩm này có chép về bài thơ: “Đáp Bắc nhân cấn An Nam phong tục” (答北人问安南风俗) được cho là của Hồ Quý Ly. Bài thơ ấy như sau:
欲問安南事,Muốn hỏi chuyện nước An Nam?
安南風俗淳。Phong tục nước An Nam thuần hậu.
衣冠唐制度,Áo mũ thì theo chế độ nhà Đường,
禮樂漢君臣。Lễ nhạc thì như vua tôi nhà Hán.
玉甕開新酒,Bình ngọc mở rót rượu mới,
金刀斫細鱗。Dao vàng mổ cá ngon nhỏ vảy,
年年二三月,Hàng năm, cứ đến tháng hai tháng ba,
桃李一般春。Đào, mận đều mang sắc xuân.
Bài thơ này được lấy cơ sở để khẳng định rằng người Việt đã bị đồng hóa, tự hào về văn hóa Trung Hoa mà mình đang có, nhưng có nhiều vấn đề xung quanh nguồn gốc bài thơ này cần xem xét kỹ càng.
(Nguyễn, 2009) đã thực hiện khảo cứu về nguồn gốc của bài thơ “Đáp Bắc nhân cấn An Nam phong tục”, những thông tin được chia sẻ trong bài khảo cứu này sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn về nguồn gốc của bài thơ này, chúng tôi không nhất thiết đồng ý với những kết luận và giả thuyết của tác giả, mà chỉ dựa vào những bằng chứng tác giả đã đưa ra để đánh giá nguồn gốc của tác phẩm này.
Những ghi chú trong Việt âm thi tập có lời ký chú của Lý Tử Tấn cho thấy bài thơ này rất giống với bài thơ khác của một sứ thần Nhật Bản có tên Hấp-lị-ma-hấp 嗐哩嘛哈, có tên là Đáp Đại Minh Cao Hoàng đế vấn Nhật Bản phong tục 答大明高皇帝问日本风俗, theo khảo cứu của (Nguyễn, 2009) từ những tư liệu Trung Quốc, bài thơ này là để đáp lại vua Chu Nguyên Chương vào năm Hồng Vũ thứ 20 (1387), được chép trong tác phẩm Liệt triều thi tập của Tiền Khiêm Tích. Bài thơ ấy như sau:
国比中原国,Nước thì sánh với nước Trung Nguyên,
人同上古人。Người thì như người Thượng cổ.
衣冠唐制度,Áo mũ thì theo chế độ nhà Đường,
礼乐汉君臣。Lễ nhạc thì như vua tôi nhà Hán.
银甕篘新酒,Bình bạc đựng rượu mới,
金刀鲙锦鳞。Dao vàng cắt món gỏi cá lân gấm.
年年二三月,Hàng năm, cứ đến tháng hai tháng ba,
桃李一般春。Đào, mận đều mang sắc xuân.
Hai bài thơ chỉ khác nhau ở hai câu đầu, cho thấy một trong hai bài thơ này đã được thay đổi về mặt nội dung từ bài thơ gốc.
Những ghi chép từ các văn bản của Trung Quốc, có niên đại tương đối sớm cho thấy lai lịch tương đối rõ ràng của bài thơ với việc mô tả lại bối cảnh mà bài thơ đã được sứ thần Nhật Bản có tên Hấp-lị-ma-hấp 嗐哩嘛哈 sáng tác, đó là việc Chu Nguyên Chương hỏi: “Nước ấy (Nhật Bản) phong tục như thế nào?” (theo ghi chép từ: “Thù vực chu tư lục” của Nghiêm Tòng Giản), sau đó Hấp-lị-ma-hấp đã trả lời bằng bài thơ trên. Bối cảnh rất hợp lý với nội dung của bài thơ, khi dám so sánh Nhật Bản với Trung Nguyên, và áo mũ, lễ nhạc thì như nhà Đường, nhà Hán, tỏ ý mình không thua kém thiên triều.
Ghi chép sớm nhất về bài thơ này là tác phẩm: “Thù vực chu tư lục” của Nghiêm Tòng Giản, được soạn năm 1574, ngoài ra nó còn được dẫn trong nhiều tác phẩm khác như: Nghiêu Sơn đường ngoại kỉ của Tưởng Nhất Quỳ, Minh thi tổng của Chu Di Tôn, Phạn Thiên lô tùng lục của Sài Ngạc.
Về phía Đại Việt, ta có ghi chép trong tác phẩm Việt âm thi tập được bắt đầu biên soạn vào năm 1433 và hoàn thành năm 1459, tuy nhiên thì bản in năm 1459 không còn; hiện văn bản cổ nhất là bản in năm Bảo Thái thứ 10 (1729). Chúng ta có thể đặt câu hỏi như sau về bài thơ này: nếu như đó là của Hồ Quý Ly đáp lại vua Minh thật, thì tại sao lại không có ghi chép nào trong tài liệu Trung Quốc về sự đối đáp này? Trong khi của sứ giả Nhật Bản thì lại có, và lại phù hợp hơn về bối cảnh với nội dung bài thơ? Những câu hỏi đó khiến giả thuyết của nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Tùng (Nguyễn, 2009) cho rằng Hồ Quý Ly mượn bài thơ của sứ giả Nhật Bản để đối đáp với vua Minh trở nên khá yếu về mặt cơ sở.
Một thông tin quan trọng khác từ các sách Liệt triều thi tập và sách Liệt triều thi tập tiểu truyện cũng của Tiền Khiêm Ích khi chú về một sứ thần Nhật Bản khác là Đáp-lí-ma 答里麻 (còn có tên là Phổ Phúc 普福) có lưu ý rằng: “có người nói: ông chính là Hấp-lị-ma-hấp”, với bài thơ như sau:
一株杨柳一株花,Cứ một gốc dương liễu, lại một gốc hoa,”
原是唐朝卖酒家。[Nơi này] vốn là nhà bán rượu từ thời Đường.
惟有吾邦风土异,Duy có nước ta là phong thổ có khác,
春深无处不桑麻。Càng vào mùa xuân, đâu đâu cũng có dâu gai.
Bài thơ này có phong cách rất gần với phong cách với bài thơ “Đáp Đại Minh Cao Hoàng đế vấn Nhật Bản phong tục”, cho thấy có thể bài thơ trên thực sự là của Hấp-lị-ma-hấp, sứ giả người Nhật Bản.
Về nguồn gốc của câu “Y quan Đường chế độ/ Lễ nhạc Hán quân thần”, thì câu này đã có từ thời Tống. Theo Tống sử (Mễ Tiết truyện), đây là hai câu thơ người đương thời tặng cho Mễ Tiết 米芾 (1051 – 1107) tự Nguyên Chương 元章, hiệu Hải Nhạc ngoại sử 海岳外史, Lộc môn cư sĩ 鹿门居士, là một nhà thư pháp (một trong tứ đại gia) nổi tiếng thời Tống. (Nguyễn, 2009)
Như vậy, ta có thể thấy là 2 câu “Y quan Đường chế độ/Lễ nhạc Hán quân thần” đã có ngay từ thời kỳ nhà Tống, và sứ thần Nhật Bản, tới từ một trong những nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, đã lấy ý đó trong sách vở Trung Hoa để tỏ vẻ rằng đất nước của mình văn minh không thua kém Trung Hoa. Khả năng nó của Hồ Quý Ly không nhiều, vì chúng tôi không thấy có bằng chứng nào thực sự khả tín chứng minh điều đó.
Vậy thì việc lấy bài thơ này ra để khẳng định rằng người Việt đã bị Hán hóa, hay tự hào với văn hóa Trung Hoa mà mình có là điều hoàn toàn không có cơ sở. Và việc người Việt chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa là điều rõ ràng, nhưng đó đơn thuần chỉ là những ảnh hưởng về mặt văn hóa, không có bất kỳ giá trị nào để khẳng định về nguồn gốc dân tộc.
Sứ thần Nhật Bản mới là người nhận rằng văn hóa (triều đình) Nhật Bản giống thời Đường, thời Hán, nhưng đó cũng đơn thuần là sự ảnh hưởng về mặt văn hóa, không thể vì đó mà khẳng định rằng người Nhật có nguồn gốc từ người Trung Quốc được.
Y quan/lễ nhạc vốn chính là một phần của mô hình chính quyền phong kiến mà các quốc gia đã tiếp nhận từ Trung Quốc, nên nó thậm chí còn không liên quan tới văn hóa của cả dân tộc đó, vì vốn chỉ tồn tại ở trong các triều đình phong kiến, dân gian vẫn lưu giữ những nét phong tục, văn hóa riêng biệt của mình. Nên việc lấy đó để khẳng định rằng người Việt tự hào về văn hóa Trung Hoa là không đúng, mà lấy để khẳng định rằng Việt đã bị đồng hóa lại càng ấu trĩ.
5.. Kết luận:
Như vậy, có thể thấy các khái niệm trung hoa, trung quốc, trung châu… hay Hán nhân đơn thuần chỉ là những khái niệm có ý nghĩa văn hóa, được sử dụng trong cả 3 nền văn hóa có sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, chứ không chỉ riêng người Việt. Việc sử dụng các khái niệm này để suy diễn về nguồn gốc của người Việt hoàn toàn không có cơ sở, cũng có thể nói đó là một sự xuyên tạc về bản chất các khái niệm này.
Lang Linh
Minh họa: trống đồng thời Lý-Trần.
Nguồn: Trống Đồng Việt Nam 越南铜鼓.
Tài liệu tham khảo:
Nguyễn, T. T. (2009). Về lai lịch bài thơ Đáp Bắc nhân cấn An Nam phong tục vẫn được xem là của Hồ Quý Ly. Trong Thông báo Hán Nôm học (tr 1014–1027). Nhà xuất bản Hà Nội.
Quốc Sử Quán Triều Nguyễn. (2008). Đại Nam thực lục: Tập 2. Nhà Xuất Bản Giáo Dục.
Trần, Q. Đ. (2013). Ngàn năm áo mũ. Nhà xuất bản Thế Giới.
