451. Nguồn gốc ngày Tết Trung Thu

Về nguồn gốc Tết Trung Thu, có người dẫn các thư tịch cổ và cho rằng Trung Thu bắt nguồn từ Trung Hoa. Tuy nhiên lại có người cho là từ người Việt cổ, họ dẫn chứng hình ảnh Trung Thu trên trống đồng Ngọc Lũ.

Một số nhà nghiên cứu gần đây cho rằng, vua Phục Hy là vua của các bộ tộc Bách Việt, tức là cả vùng lãnh thổ lưu vực sông Trường Giang đến miền Bắc Việt Nam là vùng văn minh lúa nước. Còn người Hán là tộc người sống ở phía Bắc, tức là lưu vực sông Hoàng Hà và các đồng cỏ phía Bắc, là nền văn minh du mục.

Sau thời vua Phục Hy là đến Thần Nông, thì cái tên cũng cho thấy là của người Việt cổ, vì nếu người Hán thì phải gọi là Nông Thần. Ngoài ra các thư tịch cổ cũng nói Thần Nông là tổ tiên của Xi Vưu, thủ lĩnh bộ lạc Cửu Lê. Mà Xi Vưu lại chính là con của Đế Nghi. Đế Nghi là anh trai của Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương là vua nước Xích Quỷ, tức vùng đất rộng lớn của các tộc người Bách Việt, từ miền Nam Trung Quốc đến núi Ngũ Lĩnh, cho tới miền Bắc Việt Nam. Sau này người Hán chiếm dần về phía Nam, các bộ tộc Bách Việt bị sát nhập vào Trung Quốc, bị Hán hóa, và người Hán coi những tinh hoa văn hóa cổ của các bộ tộc Bách Việt là của họ.

Theo truyền thuyết, Thần Nông sống cách đây khoảng 5.000 năm và là người đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa, cũng như phát triển nghề làm thuốc trị bệnh. Cho nên trong dân gian có câu Thần Nông nếm trăm cây thuốc, dạy dân trồng ngũ cốc, lại là người đầu tiên làm lễ Tịch Điền. Mà Thần Nông là thủy tổ của các tộc người Bách Việt, trong đó có người Lạc Việt, tức chúng ta hiện nay.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư:

“Vua Đế Minh là cháu ba đời của Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa), gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam), xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỷ vào năm Nhâm Tuất 2897 TCN, lấy con gái Động Đình Hồ quân (còn có tên là Thần Long) là Long nữ sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ, sinh một lần trăm người con trai. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó”. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền biển (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.”

Để tạ ơn Trời Đất và ông tổ Thần Nông và tưởng nhớ công ơn của tổ tiên, người dân làm lễ Thượng Điền, tổ chức sau khi gặt hái, thu hoạch mùa màng, vào mùa thu, và lễ Hạ Điền, tổ chức trước khi gieo trồng, vào mùa xuân, để cúng tế Thần Nông. Tục lễ cúng Thần Nông vào lễ Hạ Điền, Thượng Điền hiện vẫn lưu truyền rộng rãi khắp các địa phương nước ta.

Tết Trung Thu có nguồn gốc từ nền văn minh nông nghiệp, văn minh lúa nước. Chữ thu, chữ Hán viết 秋, gồm chữ Hòa 禾 nghĩa là cây lúa, và chữ Hỏa 火 nghĩa là lửa, biểu thị mùa lúa chín là mùa thu. Trong “Thuyết văn giải tự” viết: “Thu, hòa cốc thục dã”, nghĩa là: “Mùa thu là lúc mà lúa và ngũ cốc chín”. Tháng 8 âm lịch là giữa mùa thu, các giống ngũ cốc lần lượt chín, thu hoạch. Người nông dân vui mừng mùa màng bội thu, làm lễ tạ ơn Trời Đất, tạ ơn Thần Nông, lễ tạ ơn ông bà tổ tiên, cho nên dùng các loại ngũ cốc chế biến ra các loại thực phẩm như bánh, các loại hoa quả để lễ cúng tế. Tháng 8 âm lịch là giữa thu nên gọi là Trung Thu, ngày rằm lại là ngày giữa tháng, do đó dần dà, người ta định ra ngày rằm tháng 8 là Tết Trung Thu, với khởi nguồn là tạ ơn Trời Đất, Thần Nông, ông bà tổ tiên sau vụ mùa bội thu.

Đến khi có văn tự ghi chép thì Trung Thu được ghi chép sớm nhất vào thời nhà Chu. Trong “Lễ ký” có chép: “Thiên tử mùa xuân tế lễ Thần Mặt trời, mùa thu tế lễ Thần Mặt trăng”.

Về nguồn gốc của Tết Trung Thu, dù xuất phát từ tục lễ tạ ơn Trời Đất, Thần Nông sau một năm vất vả cấy cày, hay từ các truyền thuyết dân gian, dù có nguồn gốc từ Việt Nam hay Trung Quốc, hay cả hai, thì có điểm chung là bày tỏ lòng kính ngưỡng, biết ơn với Trời Đất, Thần Phật, tổ tiên, vì những gì chúng ta được hưởng ngày hôm nay.

Tết Trung Thu cũng là Tết đoàn viên, các thành viên gia đình đoàn tụ, vui chơi Trung Thu, và là Tết thiếu nhi, dịp mà người lớn dành sự quan tâm yêu thương cho thế hệ mai sau.

Tết Trung Thu cũng là khoảng thời gian đẹp để mọi người ngắm trăng thưởng nguyệt, vui chơi với các màn múa lân, sư tử, múa rồng, rước đèn lồng, đèn ông sao, và thưởng thức các loại bánh trung thu ngon lành được làm từ ngũ cốc, với các loại trái cây – tinh hoa từ đất trời.

Trung Thu cũng là nguồn cảm hứng cho các thi sỹ, thưởng nguyệt, thưởng trà, uống rượu, ngâm thơ cùng bằng hữu.

Nhà thơ đời Đường Đỗ Phủ ngắm trăng sáng tác bài thơ Trung Thu:

Thu cảnh kim tiêu bán
Thiên cao nguyệt bội minh
Nam lâu thùy yến hưởng
Ty trúc tấu thanh thanh

Bản dịch của Thái Giang:

Cảnh thu nay đúng nửa rồi
Trăng thu thêm sáng, khung trời thêm cao
Lầu nam ai rót rượu đào
Tiếng tơ, tiếng trúc thanh tao nhịp nhàng.

Nhà thơ Tản Đà cũng nhắc đến ngày Trung Thu với các câu thơ:

Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió cùng mây thế mới vui
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng Tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Triêu Lộ
Bản gốc

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.